Đánh giá khả năng sản xuất của gà đa cựa nuôi tại thái nguyên - Pdf 34

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NGUYỄN THỊ NGỌC MINH

ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SẢN XUẤT
CỦA GÀ ĐA CỰA NUÔI TẠI THÁI NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
CHUYÊN NGÀNH: CHĂN NUÔI

THÁI NGUYÊN - 2015


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NGUYỄN THỊ NGỌC MINH

ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SẢN XUẤT
CỦA GÀ ĐA CỰA NUÔI TẠI THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: Chăn nuôi
Mã số: 60 62 01 05

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. TỪ TRUNG KIÊN

THÁI NGUYÊN - 2015



Nguyễn Thị Ngọc Minh


iii

MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ............................................................................................. i
LỜI CẢM ƠN .................................................................................................. ii
MỤC LỤC ....................................................................................................... iii
DANH MỤC CÁC BẢNG .............................................................................. v
DANH MỤC HÌNH ........................................................................................ vi
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của đề tài ................................................................................ 1
2. Mục tiêu của đề tài ........................................................................................ 2
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài ...................................................... 2
4. Những đóng góp mới của luận văn ............................................................... 2
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU ............................................................ 3
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài .......................................................................... 3
1.1.1. Đặc điểm sinh học ................................................................................... 3
1.1.2. Cơ sở khoa học về sức sống và khả năng kháng bệnh .......................... 10
1.1.3. Tính trạng sản xuất của gia cầm............................................................ 13
1.1.4. Một số đặc điểm sinh học của gia cầm đẻ trứng ................................... 17
1.2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước .............................................. 27
1.2.1. Tình hình nghiên cứu trong nước.......................................................... 27
1.2.2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới ........................................................ 29
1.3. Giới thiệu nguồn gốc giống gà Đa cựa .................................................... 32
Chương 2. ĐỐI TƯỢNG NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU33
2.1. Đối tượng nghiên cứu............................................................................... 33
2.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu ............................................................ 33
2.2.1. Địa điểm nghiên cứu ............................................................................. 33

Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong đề tài là trung
thực và chưa từng được sử dụng, công bố trong bất kì nghiên cứu nào.
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này
đã được cảm ơn và thông tin trích dẫn trong đề tài đều được ghi rõ nguồn gốc.
Thái Nguyên, tháng 8 năm 2015
Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Ngọc Minh


vi

DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1. Tỷ lệ đẻ của gà thí nghiệm qua các tuần tuổi.................................. 56
Hình 3.2. Khảo sát khối lượng trứng của gà thí nghiệm ................................. 59


1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nông dân Việt Nam có tập quán chăn nuôi gia cầm từ lâu đời, chủ yếu là
gà, vịt, ngan… được chăn nuôi rộng rãi khắp các vùng sinh thái trong cả nước từ
vùng đồng bằng, ven biển đến vùng trung du và miền núi. Gà, vịt, ngan ở các địa
phương có chu kỳ chăn nuôi ngắn, lại có thể tự kiếm thức ăn (Khi chăn thả tự
do), tăng trọng nhanh đã góp phần quan trọng trong phát triển kinh tế gia đình và
cải thiện bữa ăn của người nông dân.
Hàng năm, ngành chăn nuôi gia cầm cung cấp khoảng 20% tổng khối
lượng thịt các loại. Cùng với tốc độ phát triển chung của đất nước, ngành
chăn nuôi nói chung và chăn nuôi gia cầm nói riêng ở Việt Nam ngày càng

chăn nuôi có cơ sở khoa học để định hướng phát triển loại gà này.
4. Những đóng góp mới của luận văn
- Có giá trị khoa học và thực tiễn về khả năng sản xuất của gà Đa cựa.
- Kết quả nghiên cứu đưa ra cái nhìn tổng quan đánh giá về giống gà
Đa cựa để có hướng phát triển tiếp theo.
- Góp phần bảo tổn và sử dụng nguồn gen quý của giống gà bản địa
trong phát triển kinh tế đất nước.


3

Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài
1.1.1. Đặc điểm sinh học
1.1.1.1. Một số đặc điểm ngoại hình, kích thước các chiều đo của gia cầm
* Ngoại hình
Ngoại hình là một tính trạng chất lượng của gia cầm. Đó là những đặc
điểm bên ngoài của gia cầm có thể quan sát được như: màu lông, màu da,
hình dáng, mào tích,…. Các đặc điểm về ngoại hình của gia cầm đặc trưng
cho giống, thể hiện khuynh hướng sản xuất và giá trị kinh tế của vật nuôi.
- Sự phát triển của lông và da:
Màu sắc da, lông là mã hiệu của giống, một tín hiệu để nhận dạng
giống. Thông thường màu sắc lông, da đồng nhất là giống thuần, còn loang thì
không thuần, đã bị pha tạp, màu sắc do một số ít gen kiểm soát nên có thể sử
dụng để phân tích di truyền dự đoán của đời sau trong chọn lọc Đặng Hữu
Lanh và cs, (1999)[18].
Sắc tố da, lông của gà được xác định bằng hai sắc tố là Xanthophile và
melanin. Xanthophile là sắc tố tinh thể màu vàng, chất này gà lấy từ thức ăn,
nó chỉ nằm ở da, còn sắc vàng ở da, mỏ và chân đều đồng hợp thể theo gen

mái. Mào gà rất đa dạng về hình dạng, kích thước, màu sắc, có thể đặc trưng
cho từng giống. Mào là dẫn xuất của da. Theo Phan Cự Nhân, (1971)[31], khi
có mặt gen Ab gà sẽ có dạng mào hoa hồng, khi có mặt gen aB gà sẽ có dạng
mào nụ và khi có mặt gen ab thì gà sẽ có dạng mào cờ. Mào rất đa dạng về
hình dáng, kích thước, màu sắc, có thể đặc trưng cho từng giống. Mào là đặc
điểm sinh dục thứ cấp nên có thể phân biệt trống, mái. Theo tính trạng mào
người ta phân biệt các loại: mào cờ (mào đơn), mào hoa hồng, mào nụ, mào
hạt đậu...


5

- Đầu: Gà trống có ngoại hình đầu giống đầu gà mái sẽ có tính sinh dục
kém, gà mái có ngoại hình đầu giống gà trống sẽ không cho năng suất cao,
Nguyễn Chí Bảo, (1978)[2]. Do vậy, cấu tạo của xương đầu được coi như có
độ tin cậy cao nhất trong việc đánh giá đầu gia cầm. Da mặt và các phần phụ
của đầu cho phép rút ra kết luận về sự phát triển của mô liên kết và mô đỡ.
- Mỏ: Màu sắc của mỏ thường tương đồng với màu sắc của da chân.
Mỏ gà phải ngắn, chắc. Những con mỏ dài và cong là những con không đạt
tiêu chuẩn về phẩm giống.
- Bàn chân: Chân gia cầm có 4 đến 5 ngón Trần Kiên và Trần Hồng Việt,
(1998)[17]. Chân thường có vảy sừng bao kín, cơ tiêu giảm chỉ còn gân và da.
Chân gà thông thường có 4 ngón, 3 ngón quay về trước dài hơn, ngón còn lại ở
phía sau và ngắn hơn, người ta còn gọi ngón này là ngón “thới”. Thới được đóng
cao hơn 3 ngón trước. Gần đây, người ta còn phát hiện ra một số giống gà có từ
2-5 ngón thới như: gà Ác; gà tại vùng Xuân Sơn- Phú Thọ và gà trên đỉnh núi
Mẫu Sơn. Những giống gà này người dân vùng này thường gọi là gà đa cựa. Tuy
nhiên, theo khoa học thì cựa được gắn gần thới, cựa giống như một lóng xương,
ruột có máu, bọng chính giữa, đầu nhọn, bình thường cựa to gần bằng ngón tay
út, chỉ về phía sau, hơi cong hoặc thẳng, có nhiều hình thù khác nhau. Cấu tạo

Thiếu và cs, (2010)[39]. Theo Lê Thị Nga, (2005)[28] trên gà Kabir, Jiangcun
và con lai của chúng ở thời điểm 20 tuần tuổi số hồng cầu 3,33 – 3,44
triệu/ml, số lượng bạch cầu 29,85 – 31,57 nghìn/ml. Còn theo Hoàng Quốc
Doanh, (2012)[8] trên gà Zolo nhập nội số lượng bạch cầu 26,07 – 26,30
nghìn/ml, số lượng hồng cầu 2,41 – 2,46 triệu/ml.
- Một số chỉ tiêu sinh lý máu
+ Hồng cầu
Nguồn gốc: ở bào thai hồng cầu được tạo ra ở cơ quan tạo huyết là gan,
lá lách. Ở cơ thể bình thường hồng cầu sinh ra từ các tế bào tủy đỏ ở xương.


ii

LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự giúp đỡ và được
tạo điều kiện thuận lợi từ nhiều cá nhân và tập thể.
Trước hết tôi xin nói lời cảm ơn chân thành nhất tới người hướng dẫn
khoa học: PGS.TS. Từ Trung Kiên; thầy đã giúp đỡ tận tình và trực tiếp
hướng dẫn tôi trong suốt thời gian tôi thực hiện nghiên cứu đề tài.
Tôi xin chân thành cảm ơn các ý kiến đóng góp và hướng dẫn của các
Thầy, Cô giáo trong Khoa Chăn nuôi thú y, phòng Đào tạo - Đại học Nông
Lâm - Đại học Thái Nguyên trong suốt thời gian học tập.
Tôi xin chân thành cám ơn các bạn bè đồng nghiệp đã giúp tôi trong
suốt quá trình thực hiện luận văn.
Tôi xin chân thành cám ơn./.
Thái Nguyên, tháng 8 năm 2015
Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Ngọc Minh




9

nghĩa lớn trong chẩn đoán. Công thức bạch cầu ở các loài gia súc không giống
nhau, trong cùng một loài thì công thức này ổn định, nhưng khi có bệnh thì
thay đổi. Ví dụ như khi bị nhiễm trùng, bạch cầu trung tính và đơn nhân lớn
tăng đột ngột, khi bị kí sinh trùng đường ruột, thì bạch cầu ái toan tăng. Trong
bệnh thiếu máu, thì bạch cầu ái kiềm tăng. Trong giai đoạn vết thương đang
bình phục thì lâm ba cầu tăng.
- Một số chỉ tiêu sinh hóa máu
+ Hàm lượng protein huyết thanh tổng số
Huyết tương có màu vàng nhạt do chứa sắc tố màu vàng (caroten ở loài
nhai lại, xantophin ở gia cầm…)
Thành phần hóa học gồm có: Protein (albumin, globulin, fibrinogen
chiếm 6 - 8%). Đường chủ yếu là glucose với hàm lượng 80 – 120mg...Các
muối khoáng chủ yếu là khoáng đa lượng Na, K, Ca, Mn, P và khoáng vi
lượng Fe, Cu, Co, Zn…
+ Các thành phần protein huyết thanh: Albumin, globulin
Có 3 loại chính: albumin, globumin và fibrinogen chiếm 6 - 8% tổng
lượng huyết tương.
Albumin là loại protein tham gia cấu tạo nên các mô bào, cơ quan trong
cơ thể vì thế hàm lượng albumin trong máu biểu thị khả năng sinh trưởng của
gia súc. Albumin được tổng hợp ở gan sau đó đi vào máu, rồi theo máu đến
các mô bào tổ chức và tổng hợp thành albumin cho từng loại mô. Albumin là
tiểu phần chính tạo nên áp suất thẩm thấu thể keo của máu. Albumin còn tham
gia vận chuyển các chất như axit béo, axit mật và một số chất khác.
Globimin gồm có: α,β,γ-globulin
α,β-globulin có chức năng vận chuyển colesterin, hormone steroid,
phosphatit, axit béo và một số chất khác, α,β-globulin do gan sản xuất ra.

nhau thì khác nhau nhưng vẫn nằm trong giới hạn của phẩm giống. Động vật


11

thích nghi tốt thể hiện ở sự giảm khối lượng cơ thể thấp nhất khi bị stress, có
sức sinh sản tốt, sức kháng bệnh cao, sống lâu và tỷ lệ chết thấp theo Lê Viết
Ly, (1995)[23].
Sức sống của vật nuôi được xác định thông qua khả năng chống đỡ
bệnh tật, khả năng thích nghi với điều kiện ngoại cảnh. Trong chăn nuôi
người ta thường lấy tỷ lệ nuôi sống để đánh giá sức sống của vật nuôi trong
giai đoạn khảo nghiệm, như giai đoạn nuôi từ sơ sinh đến khi giết mổ hoặc
loại thải. Theo King D.J, (1996)[57] cho rằng: tỷ lệ nuôi sống và sức đề kháng
bệnh phụ thuộc vào giống, dòng, tính biệt. Con trống có sức đề kháng mạnh
hơn con mái do sự tác động khác nhau của hormone.
Theo Garova J.F, (1990)[53] thì sức sống được thể hiện ở thể chất và
được xác định bởi tính di truyền, đó là khả năng chống lại những ảnh hưởng
bất lợi của môi trường cũng như ảnh hưởng của dịch bệnh. Sức sống hay tỷ lệ
nuôi sống của gia cầm chịu ảnh hưởng của yếu tố di truyền và ngoại cảnh
được thể hiện như sau:
Yếu tố di truyền bao gồm kiểu di truyền và phương pháp nhân giống,
Mỗi giống, dòng, hay cá thể đều được thừa hưởng các kiểu gen di truyền từ
thế hệ này sang thế hệ khác về sức sống và khả năng kháng bệnh. Do đó, khi
nhân giống không đúng phương pháp và để đồng huyết sẽ dẫn đến sức sống
và khả năng kháng bệnh giảm. Hill J.F và cs, (1954)[55] đã tính được hệ số di
truyền của sức sống là 0,66. Gavora J.F, (1990)[53] cho rằng, hệ số di truyền
của sức kháng bệnh là 0,25.
Yếu tố ngoại cảnh: Nhiệt độ, ẩm độ, thông thoáng chuồng nuôi, chế độ
nuôi dưỡng…. đều ảnh hưởng tới khả năng kháng bệnh và tỷ lệ nuôi sống của
gia cầm. Nhiệt độ cao quá hoặc thấp quá ngưỡng giới hạn của gia cầm thì chúng

2.2.1. Địa điểm nghiên cứu ............................................................................. 33
2.2.2. Thời gian nghiên cứu ............................................................................ 33


13

Theo Trần Long và cs, (1996)[21], tỷ lệ nuôi sống của gà Ri giai đoạn
gà con (0 - 6 tuần tuổi) đạt 93,3 %. Nguyễn Đăng Vang và cs, (1997)[45] cho
biết tỷ lệ nuôi sống của gà Ri giai đoạn (0 - 9 tuần tuổi); (10 - 18 tuần tuổi) và
(19 - 23 tuần tuổi) đạt lần lượt là 92,11 %; 96 - 97,22 % và 97,25 %. Theo
Trần Đình Miên và cs, (1992)[25], Lê Thị Nga và cs, (2000)[30], ở giai đoạn
1 - 16 tuần tuổi; tỷ lệ nuôi sống của gà Ri là 96,5 - 100 %; của gà Ác là 88,28
%; của gà Mía là 92,33 - 93,9 %.
Như vậy, có thể thấy rằng sức đề kháng ở các giống, các giai đoạn khác
nhau và thậm chí là các cá thể khác nhau là khác nhau.
1.1.3. Tính trạng sản xuất của gia cầm
Khi nghiên cứu các tính trạng về tính năng sản xuất của gia cầm được
nuôi dưỡng trong điều kiện cụ thể, thực chất là nghiên cứu các đặc điểm di
truyền số lượng và ảnh hưởng của những tác động môi trường lên các tính
trạng đó. Hầu hết các tính trạng về năng suất của vật nuôi như sinh trưởng,
sinh sản, mọc lông đều là các tính trạng số lượng.
Cơ sở di truyền của các tính trạng số lượng cũng do các gen nằm trên
nhiễm sắc thể quy định. Các tính trạng sản xuất là các tính trạng số lượng,
thường là các tính trạng đo lường được như khối lượng cơ thể, kích thước các
chiều đo, sản lượng trứng, khối lượng trứng…. Các tính trạng số lượng thường
bị chi phối bởi nhiều gen, do các gen nằm trên nhiễm sắc thể quy định.
Tính trạng số lượng còn gọi là tính trạng đo lường (Metric character)
vì sự nghiên cứu chúng phụ thuộc vào sự đo lường như mức độ tăng trọng của
gà, kích thước các chiều đo, khối lượng trứng. Tuy nhiên, có những tính trạng
mà giá trị của chúng có được bằng cách đếm như: Số trứng đẻ ra/ lứa/ năm, số

nghiên cứu, hiện tượng này gọi là hiên tượng đa gen (polygene). Môi trường có
ảnh hưởng rất lớn đến tính trạng số lượng, trong khi đó đối với tính trạng chất
lượng là những tính trạng đơn gen thì rất ít khi bị ảnh hưởng bởi môi trường. Tác
động của các nhân tố ngoại cảnh như: nhiệt độ, ánh sáng, thức ăn, nước uống,
không khí… lên tính trạng số lượng rất lớn có thể làm kìm hãm hoặc phát huy và


15

làm thay đổi các giá trị của tính trạng. Các tính trạng số lượng thường bị chi phối
bởi nhiều gen, các gen này hoạt động theo 3 phương thức
Cộng gộp (A) Hiệu ứng tích lũy của từng gen;
Trội (D) Hiệu ứng tương tác giữa các gen cùng một lô cút;
Át gen (I) Hiệu ứng do tương tác của các gen không cùng một lô cút
Hiệu ứng cộng gộp A là các giá trị giống thông thường (general breeding
value) Có thể tính toán được, có ý nghĩa trong chọn lọc nhân thuần. Hiệu ứng
trội D và át gen I là những hiệu ứng không cộng tính và là giá trị giống đặc
biệt (special breeding value) Có ý nghĩa đặc biệt trong các tổ hợp lai. Ở các
tính trạng số lượng giá trị kiểu hình cũng do giá trị kiểu gen (kiểu di truyền)
và tác động môi trường quy định, nhưng giá trị kiểu gen của tính trạng số
lượng do nhiều gen có hiệu ứng nhỏ (minor gen) cấu tạo thành.
G=A+D+I
Trong đó:

G là giá trị kiểu gen (geneotypic value)
A là giá trị cộng gộp (additive value)
D là sai lệch do tác động trội lặn (dominancedeviation)
I là sai lệch do tương tác giữa các gen (interaction deviatio

Giá trị cộng gộp hay giá trị giống

kiểu hình của nó được biểu thị như sau:
P = A + D + I + Eg + Es
Các tính trạng sản xuất là các tính trạng số lượng như khối lượng cơ
thể, kích thước các chiều đo, năng suất trứng, khối lượng trứng. Cơ sở di
truyền học của tính trạng số lượng do các gen nằm trên nhiễm sắc thể quy
định. Các tính trạng số lượng là những tính trạng mà ở đó sự sai khác nhau
giữa các cá thể là sự sai khác nhau về mức độ hơn là sự sai khác về chủng loại


17

và sự khác nhau này chính là nguồn vật liệu cung cấp cho chọn lọc tự nhiên
cũng như chọn lọc nhân tạo Theo Nguyễn Văn Thiện, (1995)[36].
Theo Dikenson, (1952)[52] thì vấn đề tương tác giữa kiểu di truyền và
môi trường rất quan trong đối với ngành chăn nuôi gia cầm ta thấy rõ muốn
nâng cao năng suất vật nuôi cần phải tác động về mặt di truyền (G)
- Tác động vào hiệu ứng cộng gộp (A) bằng cách chọn lọc
- Tác động vào các hiệu ứng trội (D) và át gen I bằng cách phối giống
tạp giao.
- Tác động về môi trường: cải tiến điều kiện chăn nuôi như thức ăn,
thuốc thú y, chuồng trại….các giống gia súc, gia cầm đều nhận được từ tổ
tiên, bố mẹ chúng một số gen quyết định tính trạng, trong đó có các tính trạng
số lượng. Đó là những đặc điểm di truyền của giống hoặc dòng, nhưng những
khả năng đó có phát huy được hay không còn phụ thuộc rất nhiều vào môi
trường sống của chúng.
1.1.4. Một số đặc điểm sinh học của gia cầm đẻ trứng
1.1.4.1. Khả năng sinh sản của gia cầm
Để duy trì sự phát triển của đàn gia cầm dù là hướng trứng hay hướng
thịt thì khả năng sinh sản là yếu tố cơ bản quyết định đến quy mô, năng suất
và hiệu quả sản xuất đối với gia cầm. Đối với gà hướng trứng thì sản phẩm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status