Phân tích ảnh hưởng của hoạt động khai thác khoáng sản đến tài nguyên thiên nhiên và môi trường - Pdf 34

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

BÁO CÁO
PHÂN TÍCH ẢNH HƯỞNG CỦA HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC
KHOÁNG SẢN ĐẾN TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN
VÀ MÔI TRƯỜNG

1


MỤC LỤC

I. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu tác động của khai thác khoáng sản ảnh
hưởng đến tài nguyên và môi trường
Việt Nam là nước có tiềm năng về tài nguyên khoáng sản. Cho đến nay
ngành Địa chất đã tìm kiếm, phát hiện hơn 5000 mỏ và điểm quặng của khoảng 60
loại khoáng sản khác nhau. Một số khoáng sản đã được phát hiện và khai thác từ
rất lâu như vàng, thiếc, chì, kẽm, than đá và các loại vật liệu xây dựng; số khác
mới được phát hiện và khai thác như dầu khí, sắt, đồng… Một số nơi, có những
mỏ nằm tập trung như than ở Quảng Ninh, bôxit ở Tây Nguyên và apatit, đất hiếm
ở miền núi phía Bắc
Khai thác khoáng sản là quá trình con người bằng phương pháp khai thác lộ
thiên hoặc hầm lò đưa khoáng sản từ lòng đất phục vụ phát triển kinh tế – xã hội.
Các hình thức khai thác bao gồm: khai thác thủ công, khai thác quy mô nhỏ và
khai thác quy mô vừa. Bất cứ hình thức khai thác khoáng sản nào cũng dẫn đến sự
suy thoái môi trường.
Những năm gần đây, cùng với sự phát triển chung của cả nước, công nghiệp
khai thác và chế biến khoáng sản đã và đang góp phần to lớn vào sự phát triển
kinh tế và công cuộc xây dựng đổi mới đất nước. . Ngành công nghiệp khai thác

Cần giáo dục, tuyên truyền và nâng cao nhận thức của mọi người trong khai
thác khoáng sản: về hiện trạng khai thác khoáng sản, những tác động của khai thác
khoáng sản đến tài nguyên thiên nhiên, môi trường và cuộc sống của con người.
Để từ đó có thể đưa ra biện pháp khai thác, sử dụng tài nguyên khoáng sản hợp lý,
tiết kiệm, tìm ra những phương pháp tiên tiến để khai thác hiệu quả hơn, và các
biện pháp, giải pháp đề xuất khắc phục hậu quả do khai thác không hợp lý, kém
hiệu quả để lại.
2.Mục tiêu, quan điểm tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
a, Mục tiêu
- làm rõ hiện trạng khai thác tài nguyên khoáng sản ở Việt Nam
- các vấn đề gây bức xúc trong khai thác tài nguyên khoáng sản ở Việt Nam: khai
thác không hiệu quả, lãng phí, ô nhiễm môi trường trong khai thác tài nguyên
thiên nhiên
- giải quyết ô nhiễm trong khai thác, đề xuất khắc phục hậu quả, xây dựng ngành
công nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản trong bối cảnh phát triển bền vững.
b, Quan điểm tiếp cận
- quan điểm hệ thống: nghiên cứu các hợp phần tự nhiên tạo nên tài nguyên
khoáng sản, các mối quan hệ của chúng, sự ảnh hưởng lẫn nhau của các hợp phần
tác động đến quá trình hình thành tài nguyên khoáng sản; hoạt động khai thác và
sử dụng tài nguyên khoáng sản của con người ảnh hưởng đến trữ lượng, số lượng
và chất lượng của các loại khoáng sản, các vấn đề về ô nhiễm môi trường do khai
4


thác, chế biến khoáng sản.
- quan điểm tiếp cận bền vững: khai thác khoáng sản gắn với phát triển bền vững,
chỉ ra thực trạng của khai thác tài nguyên thiên nhiên ở Việt Nam và đưa ra những
đề xuất, biện pháp để khai thác sử dụng hợp lý, sử dụng tài nguyên sạch, bảo vệ
môi trường.


than (năm 2012 khoảng 10 tỷ USD).
1.1 Quặng sắt:
Ở Việt Nam hiện nay đã phát hiện và khoanh định được trên 216 vị trí có
quặng sắt, có 13 mỏ trữ lượng trên 2 triệu tấn, phân bố không đều, tập trung chủ
yếu ở vùng núi phía Bắc.

6


Trong tất cả các mỏ quặng sắt của Việt Nam, đáng chú ý nhất là có hai mỏ
lớn đó là mỏ sắt Quý Xa ở Lào Cai và mỏ sắt Thạch Khê ở Hà Tĩnh. Hàng năm, số
lượng quặng sắt khai thác và chế biến ở Việt Nam đạt từ 300.000 – 450.000 tấn.
Năng lực khai thác quặng sắt hiện nay có thể đáp ứng sản lượng là 500.000
tấn/năm. Thị trường quặng sắt hiện nay: 80% sử dụng trong nước, chủ yếu là để
luyện thép, còn 20% xuất khẩu.

1.2 Quặng Bô xít
Nước ta có tiềm năng rất lớn về quặng bôxít với tổng trữ lượng và tài
nguyên dự báo đạt khoảng 5,5 tỷ tấn, phân bố chủ yếu ở tỉnh Đắc Nông, Lâm
Đồng, Gia Lai, Bình Phước,…
Nhìn chung, nước ta có trữ lượng tài nguyên bôxít lớn, chất lượng tương đối
tốt, phân bố tập trung, điều kiện khai thác thuận lợi.

ô nhiễm nguồn nước do khai thác boxit ở Tây Nguyên

1.3 Quặng titan
Theo kết quả điều tra, thăm dò địa chất, cho tới nay đã phát hiện 59 mỏ và
điểm quặng titan, trong đó có 6 mỏ lớn có trữ lượng từ 1 đến 5 triệu tấn, 8 mỏ
trung bình có trữ lượng > 100.000 tấn và 45 mỏ nhỏ và điểm quặng.
Ngành Titan hoạt động với giá trị xuất khẩu quặng tinh titan 20-30 triệu

Quảng Ninh là lớn nhất với trữ lượng đạt trên 3 tỷ tấn. Bể than Quảng Ninh đã
được khai thác từ hơn 100 năm nay phục vụ tốt cho các nhu cầu trong nước và
xuất khẩu.
Khai thác, chế biến than quy mô công nghiệp đang từng bước được nâng
cao về năng lực công nghệ, thiết bị, quản lý. Hoạt động sản xuất, kinh doanh đã có
sự gắn kết chặt chẽ giữa mục tiêu lợi nhuận, kinh tế với trách nhiệm bảo vệ môi
trường, bảo vệ tài nguyên khoáng sản. Tuy nhiên còn hạn chế quy mô công nghiệp
ở nước ta hiện chưa đồng đều về hiệu quả kinh tế, về việc chấp hành các quy định
của pháp luật về khoáng sản, về bảo vệ môi trường

[ Theo PGS.TS Nguyễn Khắc Vinh (Chủ tịch Tổng hội Địa chất Việt Nam-2015)]

2.Đánh giá và nhận xét chung về tình hình khai thác khoáng sản ở Việt Nam
Thực tế cho thấy, tổn thất tài nguyên trong quá trình khai thác khoáng sản
của nước ta còn rất lớn, nhất là ở các mỏ hầm lò, các mỏ do địa phương quản lý.
Một số điều tra nghiên cứu của CODE cho biết tổn thất tài nguyên khi khai thác
than hầm lò từ 40-60%; khai thác aptit là 26-43%; quặng kim loại 15-30%; vật
liệu xây dựng 15-20%; dầu khí 5-60%. Đối với loại mỏ vừa và nhỏ (chiếm đa số),
sự thất thoát không dừng lại ở một vài chục phần trăm mà nguy cơ mất mỏ rất
nghiêm trọng.
Ví dụ như khai thác than tại Quảng Ninh, mức độ tổn thất theo số liệu báo
cáo của TKV cũng vào khoảng 7,3-7,7% đối với khai thác lộ thiên, khoảng 2831% trong khai thác hầm lò. Đặc biệt, nhiều khu vực giàu quặng quý hiếm đã bị
khai thác với tần suất và trữ lượng lớn và không tuân thủ quy hoạch chung
Hầu hết ở các mỏ kim loại, về kỹ thuật chưa được chú ý, đa số áp dụng hệ
thống khai thác lộ thiên với công nghệ ôtô - máy xúc. Đây là loại hình công nghệ
cổ điển, giá thành cao. Các thông số kỹ thuật của hệ thống khai thác và vận tải
không đảm bảo. Phương pháp khai thác thủ công và bán cơ giới đã tác động xấu
đến môi trường sinh thái và gây lãng phí tài nguyên.
Giá trị và hiệu quả sử dụng thấp, chưa tương xứng với giá trị tài nguyên
9

PGS.TS Lưu Đức Hải, Khoa Môi trường, ĐH Khoa học Tự nhiên –
ĐHQGHN cho rằng, vấn đề bất cập hiện nay trong chế biến khoáng sản ở Việt
Nam là có rất ít doanh nghiệp quan tâm đến các sản phẩm phụ và chất thải có thể
tận thu trong quá trình chế biến khoáng sản, gây lãng phí tài nguyên của đất
nước. Một số trường hợp, giá trị của chất thải rắn, lỏng bị loại bỏ khỏi dây truyền
chế biến quặng có giá trị kinh tế, chưa được tận dụng.

3. Tác động của hoạt động khai thác khoáng sản đến tài nguyên và môi
trường.
Các hoạt động khai thác khoáng sản đã gây ra nhiều tác động xấu đến môi
trường xung quanh: sử dụng chưa thực sự có hiệu quả các nguồn khoáng sản tự
nhiên; tác động đến cảnh quan và hình thái môi trường; tích tụ hoặc phát tán chất
thải rắn; làm ảnh hưởng đến nguồn nước, ô nhiễm nước, ô nhiễm không khí, ô
nhiễm đất; làm ảnh hưởng đến đa dạng sinh học; gây tiếng ồn và chấn động; sự
cố môi trường; tác động đến công nghiệp nói chung; tác động đến kinh tế – xã
hội; gây ảnh hưởng đến sức khoẻ và an toàn của người lao động
3.1 Ô nhiễm nguồn nước
11


Các hoạt động khai thác khoáng sản thường sinh ra nước thải, chất hóa
học độc hại với khối lượng lớn, gây ô nhiễm nước.
Tác động hoá học của hoạt động khai thác khoáng sản tới nguồn nước:
- Sự phá vỡ cấu trúc của đất đá chứa quặng khi tiến hành đào bới và khoan
nổ sẽ thúc đẩy các quá trình hoà tan, rửa lũa các thành phần chứa trong quặng và
đất đá, quá trình tháo khô mỏ, đổ các chất thải vào nguồn nước, chất thải rắn, bụi
thải không được quản lý, xử lý chặt chẽ, tham gia vào thành phần nước mưa, nước
chảy tràn cung cấp cho nguồn nước tự nhiên,… là những tác động hoá học làm
thay đổi tính chất vật lý và thành phần hoá học của nguồn nước xung quanh các
khu mỏ.


ô nhiễm nguồn nước do khai thác khoáng sản ở Tuyên Quang

3.2 Ô nhiễm không khí
- Những hoạt động làm đường chuyên chở than, tổn trữ đất mặt, di chuyển
chất thải và chuyên chở đất và than làm tăng lượng bụi xung quanh vùng khai mỏ.
Bụi làm giảm chất lượng không khí tại ngay khu khai mỏ, tổn hại thực vật, và sức
khỏe của công nhân mỏ cũng như vùng lân cận

13


bụi do vận chuyển than

- Đất đá thải loại trong khai thác khoáng sản cũng là nguyên nhân gián tiếp
dẫn đến tác động cộng hưởng về phát thải bụi từ các mỏ, gây suy giảm môi trường
không khí. Trên các mỏ than thường có mặt với hàm lượng cao các nguyên tố Sc,
Ti, Mn...Các khoáng vật sulphua có trong than còn chứa Zn, Cd, HG...làm cho bụi
mỏ trở nên độc hại với sức khỏe con người.
- Việc khai thác vật liệu xây dựng, nguyên liệu cho sản xuất phân bón và
hoá chất như đá vôi cho nguyên liệu xi măng, đá xây dựng các loại, sét, cát sỏi,
apatit, … đã gây những tác động xấu đến môi trường như làm ô nhiễm không khí.
3.3 Hoạt động khai thác khoáng sản là nguyên nhân dẫn đến phá rừng, giảm
độ che phủ của rừng
Hoạt động khai thác khoáng sản là một trong những nguyên nhân làm giảm
độ che phủ do rừng cây bị chặt hạ, lớp phủ thực vật bị suy giảm. Hoạt động khai
thác khoáng sản cũng làm cho thực vật, động vật bị giảm số lượng hoặc tuyệt
chủng do các điều kiện sinh sống ở rừng cây, đồng cỏ và sông nước xấu đi. Một số
loài thực vật bị giảm số lượng, động vật phải di cư sang nơi khác.


Bảng 3. Biến động độ che phủ rừng khu vực Hòn Gai – Cẩm Phả

16


3.4 Tác động đến nông nghiệp- nông thôn
- Trong khai thác mỏ,diện tích đất xung quanh các bãi thải quặng có thể bị
bồi lấp do sạt lở, xói mòn của đất đá từ các bãi thải, gây thoái hoá lớp đất mặt.
Việc đổ bỏ đất đá thải tạo tiền đề cho mưa lũ bồi lấp các sông suối, các thung lũng
và đồng ruộng phía chân bãi thải và các khu vực lân cận. Khi có mưa lớn thường
gây ra các dòng bùn di chuyển xuống vùng thấp, vùng đất canh tác, gây tác hại tới
ruộng vườn, nhà cửa, vào mùa mưa lũ thường gây ra lũ bùn đá, gây thiệt hại lớn

- Quá trình đào xới, vận chuyển đất đá và quặng làm địa hình khu khai
trường bị hạ thấp, ngược lại, quá trình đổ chất thải rắn làm địa hình bãi thải tâng
cao. Những thay đổi này sẽ dẫn đến những biến đổi về điều kiện thuỷ văn, các yếu
tố của dòng chảy trong khu mỏ như: thay đổi khả năng thu, thoát nước, hướng và
vận tốc dòng chảy mặt, chế độ thuỷ văn của các dòng chảy như mực nước, lưu
lượng, v.v…. Sự tích tụ chất thải rắn do tuyển rửa quặng trong các lòng hồ, kênh
mương tưới tiêu có thể làm thay đổi lưu lượng dòng chảy, dung tích chứa nước,
biến đổi chất lượng nguồn nước
- Các đống cuội, đá thải trong quá trình khai thác vàng, khai thác cát từ lòng
sông đã ngăn cản, làm thay đổi dòng chảy, gây sự xói lở đất bờ sông, đê điều, gây
úng lụt cục bộ.

17


Bảng 2. Mức độ ô nhiễm đất nông nghiệp do khai thác mỏ( 2012)


người dân địa phương
Vì vậy, chăm sóc sức khỏe cho người lao động khai thác mỏ là vấn đề quan
trọng, cần được quan tâm.
Tóm lại: Các hoạt động khai thác khoáng sản đã gây ra nhiều tác động
xấu đến môi trường xung quanh, nhưng có thể nói gọn lại trong một số tác động
chính như sau: sử dụng chưa thực sự có hiệu quả các nguồn khoáng sản tự nhiên;
tác động đến cảnh quan và hình thái môi trường; tích tụ hoặc phát tán chất thải
rắn; làm ảnh hưởng đến nguồn nước, ô nhiễm nước, ô nhiễm không khí, ô nhiễm
đất; làm ảnh hưởng đến đa dạng sinh học; gây tiếng ồn và chấn động; sự cố môi
trường; tác động đến công nghiệp nói chung; tác động đến kinh tế – xã hội; gây
ảnh hưởng đến sức khoẻ và an toàn của người lao động

4. Đề xuất giải pháp, khắc phục hậu quả, đảm bảo khai thác hợp lý, hiệu quả
- Cần quản lý chặt chẽ quản lý Nhà nước về khai thác khoáng sản:
Việc cấp phép khai thác khoáng sản phải nghiêm minh, đúng trách nhiệm.
Củng cố và tăng cường đội ngũ thanh tra khoáng sản, thanh tra môi trường có đủ
19


năng lực, trình độ kinh nghiệm và nhiệt tình để làm công tác thanh tra, kiểm tra.
Bổ xung quyền hạn cho thanh tra viên, tăng mức xử phạt cho mỗi hành vi vi
phạm các quy định của Luật khoáng sản, Luật môi trường trong khai thác chế biến
khoáng sản. Trang bị đầy đủ các phương tiện, thiết bị phục vụ cho công tác thanh
tra, kiểm tra.
Kiên quyết xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật về khoáng sản,
pháp luật bảo vệ môi trường gây tác động xấu đến cộng đồng. Các tổ chức, cá
nhân cố tình vi phạm thì phải thu hồi giấy phép khai thác, chế biến khoáng sản;
nếu vi phạm nghiêm trọng phải đưa ra truy tố trước pháp luật.

Tăng cường quản lý nhà nước về khai thác khoáng sản

lượng và chất lượng các tài nguyên khoáng sản là rất lớn. Tuy nhiên do hoạt động
khai thác còn thiếu hiệu quả, không hợp lý gây lên tác động, ảnh hưởng xấu đến
môi trường và con người: làm tổn thất tài nguyên thiên nhiên, gây ô nhiễm môi
trường và gây hại đến sức khỏe cộng đồng. Để giải quyết tốt vấn đề này cần sự
quan tâm của Nhà nước, các cơ quan, tổ chức có liên quan, và phụ thuộc rất lớn
vào ý thức của doanh nghiệp và người dân.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
-Văn Hữu Tập-Tác động từ hoạt động khai thác khoáng sản đến môi trường
( />-Hiện trạng khai thác khoáng sản tại Việt Nam
( />-Ngành công nghiệp khai thác khoáng sản ở Việt Nam còn nhiều bất cập
( />-Văn Hữu Tập- Đánh giá tác động môi trường, Khai thác than tác động đến môi trường
( />
21


22




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status