Tiểu luận Giáo dục hành vi đạo đức cho sinh viên chuyên ngành giáo dục chính trị - Pdf 34

A. LỜI MỞ ĐẦU
Truyền thống giáo duc của dân tộc ta là “tiên học lễ, hậu học văn” và sau này
Bác Hồ kính yêu của chúng ta đã khẳng định quan điểm đúng đắn này: “có tài mà
không có đức là người vô dụng, có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó”.
trên cơ sở kế thừa va phát hu`y truyền thống tốt đep đó Đảng và nhà nước ta đã xác
định muốn phát triển con người toàn diện, muốn đào tạo nhân tài cho đất nước
chúng ta không chỉ dạy cho học sinh của mình về văn hóa mà còn phải làm tốt công
tác giáo dục hành vi đạo đức cho học sinh. Đặc biệt , với sinh viên ở các trường đại
học, cao đẳng thì vấn đề này lại càng quan trọng và cấp thiết hơn. Đây là nguồn
nhân lực trực tiếp xây dựng và phát triển trong xã hội. Là một sinh viên chuyên
ngành giáo dục chính trị, em càng cảm thấy việc giáo dục hành vi đạo đức cho sinh
viên trở nên ý nghĩa hơn bao giờ hết. Chính vì vậy, em xin chọn đề tài: “giáo dục
hành vi đạo đức cho sinh viên chuyên ngành giáo dục chính trị”. Trong quá trình
làm không tránh khỏi được những thiếu sót, em mong cô đóng góp và bổ sung cho
bài tiểu luận của em được hoàn chỉnh hơn.
Làm rõ nội dung giáo dục đạo đức và hành vi đạo đức cho sinh viên chuyên
ngành giáo dục chính trị và giải pháp thực hiện mục đích đó.
Bài tiểu luận của em gồm 3 phần:
A. Lời mở đầu
B. Nội dung

Chương 1: Cơ sở lý luận
Chương 2: Các giải pháp nhằm nâng cao công tác giáo dục hành vi đạo đức
cho sinh viên chuyên ngành chính trị.
C. Kết luận

B. PHẦN NỘI DUNG

1



tồn tại xã hội bao giờ cũng qui định ý thức xã hội. Tuy nhiên, trong đạo đức của các
chế độ chính trị - xã hội khác nhau cũng có một số vấn đề đạo đức giống nhau, như
2


lòng nhân ái, tính tự trọng, khiêm tốn, lễ độ,…Nhưng trong lĩnh vực đạo đức căn
bản vẫn là “xã hội nào thì đạo đức ấy”. Đạo đức của xã hội ta là đạo đức XHCN.
Điểm đặc trưng của nền đạo đức XHCN là được xây dựng trên nền tảng công bằng,
không cố người bóc lột người, trên nền tảng kết hợp thỏa đáng giữa lợi ích cá nhân
với lợi ích xã hội, lợi ích tập thể với lợi ích của nhà nước.

1.1.2 .Hành vi đạo đức
1.1.2.1 Khái niệm

Hành vi đạo đức là một hành động tự giác được thúc đẩy bởi một động cơ có
ý nghĩa về mặt đạo đức. Hành vi đạo đức được biểu hiện trong cách đối nhân xử
thế, trong lối sống, trong phong cách, trong lời ăn tiếng nói… của mỗi con người.
Hệ thống chuẩn mực đạo đức, quan niệm đạo đức của một xã hội nhất định
chỉ có thể tồn tại dưới hình thức những hành vi đạo đức sống động của các cá nhân
cụ thể. Song hành vi đạo đức của cá nhân sống trong một nền văn hóa nhất định nào
đó thì vẫn thường xảy ra hiện tượng có sự “pha tạp” trong hành vi đạo đức của họ.
Vì ở mỗi hoàn cảnh xã hội cụ thể luôn tồn tại nhiều nên đạo đức bên cạnh nên đạo
đức chính thống tương ứng với xã hội đó. Do vậy nhiệm vụ của giáo dục đạo đức
XHCN là giúp cho người được giáo dục có được hành vi đọc đức phù hợp với nền
đạo đức XHCN và kế thừa những chuẩn mực đạo đức truyền thống tốt đpej của dân
tộc, thoát khỏi những tàn dư đạo đức của các chế độ xã hội cũ đã lỗi thời.
1.1.2.2 Tiêu chuẩn đánh giá hành vi đạo đức

Để đánh giá một con người có đạo đức hay không, người ta căn cứ vào hành
vi của người đó. Giá trị đạo đức của hành vi được xem xét theo những tiêu chuẩn sau:

Tri thức đạo đức là sự hiểu biết của con người về những chuẩn mực đạo đức
qui định hành vi của họ trong mối quan hệ với người khác và với xã hội.
Để hành vi của mình có giá trị đạo đức trước hết con người phải có tri thức
đạo đức, phải biết đạo lý đòi hỏi ở họ điều gì họ cần phải làm gì và điều gì không
được làm. Cũng có trường hợp đạo đức không phải thể hiện ở chỗ là một hành vi
nào đó, mà thể hiện ở chỗ kìm hãm hành động đó. Con người phải hiểu tất cả những
điều nói trên trước khi hành động. Sự hiểu biết như thế chính là tri thức đạo đức.
Tri thức đạo đức có được là dựa trên cơ sở của quá trình tư duy sâu sắc và
độc lập của cá nhân khi họ tiếp xúc với các chuẩn mực đạo đức. Việc nhận thức
được kết quả, hậu quả có thể có được của hành vi đạo đức là một điều kiện quan
trọng đối với hành vi đạo đức, vì nó là cái để khẳng định hành động đó của con
người là có tính tự giác hay chỉ là hành động mù quáng. Hiểu như vậy, chúng ta
thấy tri thức đạo đức là yếu tố quan trọng của hành vi đạo đức.

4


Cần phải phân biệt việc hiểu tri thức đạo đức khác với việc học thuộc lòng
một cách hình thức các chuẩn mực và nguyên tắc đạo đức. Không ít các trường hợp,
con người thuộc những khái niện đạo đức (trung thực là gì? Vì sao phải trung thực?),
những chuẩn mực đạo đức (sinh viên phải trung thực trong thi cử), nhưng họ vẫncos
những lúc không có những hành vi đạo đức tương ứng (chẳng hạn quay cóp).
Việc hiểu biết về chuẩn mực và nguyên tắc đạo đức là quan trọng nhưng
chưa hoàn toàn đảm bảo để có hành vi đạo đức. Ngoài tri thức đạo đức, còn có sự
tin tưởng nào đó của cá nhân về lợi ích của các chuẩn mực đạo đức đối với xã hội.
Sự tin tưởng này chính là niềm tin đạo đức của cá nhan. Niềm tin đạo đức là sự tin
tưởng một cách sâu sắc và vững chắc của con người vào tính chính nghĩa và tính
chân lý của các chuẩn mực đạo đức và sự thừa nhận tính tất yếu phải tôn trọng triệt
để các chuẩn mực ấy.
Niềm tin đạo đức là một trong những yếu tố quyết định hành vi đạo đức của

với các chuẩn mực và nguyên tắc đạo đức (tinh thần trách nhiệm). Do vậy, muốn có
hành vi đạo đức tất yếu phải có động cơ đạo đức.
Động cơ đạo đức với ý nghĩa là mục đích của hành vi đạo đức sẽ qui định
chiều hướng tâm lý của hành động, qui định chiều hướng tâm lý của hành động, qui
định thái độ cá nhân đối với hành động của mình. Giá trị đạo đức của hành vi được
thể hiện ở mục đích của nó. Tuy nhiên, trong thực tế có nhiều khi động cơ của hành
động có thể mâu thuẫn với bản than hành động. Chẳng hạn việc học sinh học tốt có
thể chỉ là kết quả của những ham thích địa vị; việc sinh viên làm một điều tốt, có lợi
cho tập thể lại do tính hiếu danh, kiêu ngọa hoặc do một sự cầu lợi riêng nào đó.
Vì vậy, giáo dục đạo đức không chỉ là rèn luyện những hành vi đạo đức mà
điều quan trọng hơn cả là xây dựng những động cơ đạo đức vững bền. Hệ thống
những kích thích liên thục thúc đẩy hành vi đạo đức của con người là nhiệm vụ cơ
bản của công tác giáo dục đạo đức.
Cùng với nhu cầu đạo đức với tư cách là nguồn phát sinh động cơ đạo đức
thì thái độ tích cực của cá nhân trọng mối quan hệ giữa mình với người khác và với
xã hội cũng là một trong những yế tố tham gia vào việc tạo ra động cơ đạo đức.
Thái độ đánh giá đó được gọi là tình cảm đạo đức.
Tình cảm đạo đức là thái độ rung cảm của cá nhân đối với hành vi của ngươi
khác và hành vi của chính mình trong quá trình quan hệ giữa cá nhân với người
khác và với xã hội.
Tình cảm đạo đức sẽ khơi dậy những nhu cầu đạo đức, thúc đẩy con người
hành động một cách có đạo đức trong mối quan hệ giữa nó với người khác, với tập
thể, với xã hội. Xuất phát từ vai trò của tình cảm đạo đức mà nhà thơ, nhà cách

6


mạng dân chủ người Nga Nicolai Đôbrôliubốp đã nói rằng: “Niềm tin và tri thức chỉ
coi là có thật khi nó đã đi vào trong con người, đã hòa lẫn với tình cảm và ý chí của
con người”. Với ý nghĩa như vậy, tình cảm đạo đức được xem như là một trong



Như vậy, ở đây ta thấy ý chí con người vừa có tính chất xác định về chất
(thiện chí), vừa có tính chất xác định về lượng (nghị lực). Có thiện chí không hẳn là
có nghị lực.
Ngược lại, nghị lực không phải bao giờ cũng là dấu hiệu của tính xác định
đạo đức của cá nhân.
Do vậy, trong giáo dục đạo đức, cần hình thành cho con người những thiện
chí và làm cho họ có nghị lực biến thiện chí đó thành hành vi đạo đức thực sự.
Trong quan hệ hàng ngày với người khác, với xã hội, những qui cách ứng
xử đòi hỏi con người phải có những hành vi sẵn sàng. Nghĩa là hành vi đạo đức
không chỉ dừng lại ở mức độ thực hiện một thiện chí nào đó nhờ sự thức đầy của
nghị lực mà trở thành hành động tự động hóa, trở thành thói quen đạo đức.
Thói quen đạo đức là những hành vi đạo đức ổn định của con người, nó trở
thành nhu cầu đạo đức của người đó và nếu nhu cầu này được thỏa mãn con người
cảm thấy dễ chịu, nếu nhu cầu không được thỏa mãn con người cảm thấy khó chịu.
Trong thực tế giáo dục đạo đức, người ta thường thấy có sự không ăn khớp
giữa ý thức đạo đức và hành vi đạo đức. Nguyên nhân của sự không ăn khớp đó
không hoàn toàn do ý thức đạo đức, mà một phần là do con người thiếu thói quen
đạo đức. Dựa trên kinh nghiệm giáo dục thanh thiếu niên của mình mà nhà giáo dục
nổi tiếng người Nga – A.X. Macarencô đã nhấn mạnh: “Dù anh có xây dựng được
bao nhiêu những quan niệm đúng đắn về điều phải làm, tôi có quyền nói với anh
rằng, anh chẳng giáo dục gì hết nếu anh không giáo dục thói quen cho các em”.
1.1.2.4 Mối quan hệ giữa các yếu tố tâm lý trong cáu trúc

của hành vi đạo đức
Các yếu tố nằm trong cấu trúc của hành vi như trình bày ở trên có mối tương
quan với nhau.
Tri thức đạo đức chính là tiền đề, là cơ sở để đưa ra mục đích của hành vi
đạo đức. Tuy nhiên nếu xét tri thức một cách biệt lập thì đó không thể là yếu tố

những nhân cách trọn vẹn thực hiện. Bởi hành vi đạo đức được thực hiện bao gồm
tri thức đạo đức, niềm tin đạo đức, tình cảm đạo đức, thiện chí, nghị lực, thói quen.
Toàn bộ hệ thống phẩm chất, năng lực cùng với sự tự ý thức về bản thân của con
người đều tham gia vào hành vi đạo đức. Do đó, ta có thể kết luận rằng, chủ thể của
hành vi đạo đức là toàn bộ nhân cách của một con người cụ thể. Giáo dục đạo đức
phải thông qua tổ chức hành vi đạo đức để giáo dục toàn bộ nhân cách con người.
Tuy nhiên, nói nhân cách trọn vẹn thực hiện hành vi đạo đức không có nghĩa
là mọi đặc điểm nhân cách của cá nhân đều có tác dụng ngang nhau đối với hành vi
đạo đức. Trong nhân cách có các yếu tố sau chi phối rõ nét nhất đối với hành vi đạo
đức:

9


Tính sẵn sàng của hành vi đạo đức
Con người khi đã chuyển hóa tri thức xã hội – lịch sử biến thành tri thức của
bẩn thân và chỉ những tri thức nào được cá nhân kiểm nghiệm trong thực tiễn mới
tạo nên niềm tin đạo đức của họ. Niềm tin đạo đức là yếu tố chiếm ưu thế trong hệ
thống thứ bậc động cơ của nhân cách và biểu hiện thành xu hướng đạo đức nhân
cách. Niềm tin đạo đức sẽ định hướng cho mọi hành động có tính đạo đức. Như
vậy, xu hướng đạo đức của nhân cách là cơ sở đầu tiên, cơ bản để có tính sẵn sang
hành động có đạo đức.
Tuy nhiên xu hướng đạo đức của nhân cách cũng chưa đủ để tạo ra tính sẵn
sang hành động có đọa đức, vì xu hướng cũng mới chỉ ở dạng vạch chiều hướng
cho hành động, do vậy còn có các thành phần khác nữa mới đủ tạo nên tính sẵn
sàng của hành động đạo đức như phẩm chất ý chí và phương thức hành vi.
Phẩm chất ý chí như tính mục địch, tính quyết đoán, tính kiên trì… là yếu tố
cần thiết để chuyển những thuộc tính của xu hướng thành hành động.
Mọi hành vi đạo đức đều là hành vi tự giác và phần nhiều hành vi đạo đức là
hành động có ý chí, có đấu tranh động cơ.

giá những hoạt động, những phẩm chất, năng lực của bản than. Việc tự đánh giá
cũng như sự tự đánh giá của xã hội, tập thể, gia đình, bạn bè… giữ vai trò quan
trọng trong xu hướng đạo đức của từng người. Nếu sự đánh giá là thích hợp (khách
quan và dựa trên những chuẩn mực đạo đức thích hợp) thì sẽ thuận lợi cho sự phát
triển tâm lý, đạo đức. Ngược lại, sự tự đánh giá không thích hợp, có thể diễn ra theo
hai hướng: thấp hơn hoặc cao hơn khả năng thức của bản thân. Nếu thấp hơn (nhất
là quá thấp) thì chủ thể rơi vào tình trạng bi quan, hoài nghi… từ đó có thể dẫn họ
tới chỗ tự ti. Nếu cao hơn sẽ làm cho chủ thể rơi vào bệnh kiêu căng, tự cao, tự
đại… từ đó dễ dẫn đến coi thường người khác và tất yếu sẽ bị cô lập, cách biệt.
Lương tâm là sự kết tinh của nhu cầu đạo đức và ý thức đạo đức đã trở thành
bản tính của một con người
Lương tâm cũng là hình thức biểu hiện của ý thức bản ngã. Khi được hình
thành lương tâm trở thành một khả năng tự đánh giá về đạo đức của mỗi người. Sự
đánh giá của lương tâm có đặc điểm là dựa trên những chuẩn mực ít nhiều lý tưởng
hóa và biểu hiện thành tình cảm đạo đức. Vì vậy, khi hành vi đạo đức được đánh giá
là “đạt yêu cầu” thì lương tâm thanh thản. Nhưng hành vi đạo đức bị đánh giá là
không đạt yêu cầu, là sai trái… thì lương tâm bị cắn rứt, dày vò, đau khổ, … Sự cắn
rứt của lương tâm tuy âm ỉ nhưng dai dẳng, khó chịu.

11


Giáo dục đạo đức cuối cùng phải đạt tới sự tự đánh giá, tự kiểm tra, tự giáo
dục về đạo đức của chủ thể.
Cùng với nhu cầu tự khẳng định và lương tâm thì lòng tự trọng (tự coi trọng
mình, tự gìn giữ tư cách, phẩm chất của bản thân), danh dự cá nhân (tiếng tăm tốt
về bản thân) cũng là những biểu hiện của ý thức bản ngã, cũng là những chỉ số của
giáo dục đạo đức, là dấu hiệu của quá trình giáo dục đạo đức đã chuyển thành kết
quả của tự giáo dục về đạo đức.


cái không thể thay thế của đạo đức.
Mục đích điều chỉnh: bảo đảm sự tồn tại và phát triển xã hội bằng tạo nên
quan hệ lợi ích cộng đồng và cá nhân theo nguyên tắc hài hòa lợi ích cộng đồng và
cá nhân (và khi cần phải ưu tiên lợi ích cộng đồng).
Đối tượng điều chỉnh: Hành vi cá nhân (trực tiếp) qua đó điều chỉnh quan hệ
cá nhân với cộng đồng (gián tiếp).
Cách thức điều chỉnh được biểu hiện: Lựa chọn giá trị đạo đức; xác định
chương trình của hành vi bởi lý tưởng đạo đức; xác định phương án cho hành vi
bưỏi chuẩn mực đạo đức; tạo nên động cơ của hành vi bởi niềm tin, lý tưởng, tình
cảm của đạo đức, kiểm soát uốn nắn hành vi bởi dư luận xã hội.
Chức năng điều chỉnh hành vi được thực hiện bởi hai hình thức chủ yếu.
Xã hội và tập thể tạo dư luận để khen ngợi khuyến khích cái thiện, phê phán
mạnh mẽ cái ác.
Bản thân chủ thể đạo đức tự giác điều chỉnh hành vi cơ sở những chuẩn mực
đạo đức xã hội.
1.1.3.2 Chức năng giáo dục

Con người vươn lên “chân - thiện - mỹ”. Con người là sản phẩm của lịch sử,
đồng thời là chủ thể của lịch sử. Con người tạo ra hoàn cảnh đến mức nào thì hoàn
cảnh cũng tạo ra con người đến mức ấy.
Con người sinh ra bắt gặp hệ thống đạo đức của xã hội. Hệ thống ấy tác động
đến con người và con người tác động lại hệ thống. Hệ thống đạo đức do con người
tạo ra, nhưng sau khi ra đời hệ thống đạo đức tồn tại như là cái khách quan hoá tác
động, chi phối con người.
Xã hội có giai cấp hình thành và tồn tại nhiều hệ thống đạo đức mà các cá
nhân chịu sự tác động. Ở đây, môi trường đạo đức: tác động đến đạo đức cá nhân
bằng nhận thức đạo đức và thực tiễn đạo đức. Nhận thức đạo đức để chuyển hoá
đạo đức xã hội thành ý thức đạo đức cá nhân. Thực tiễn đạo đức là hiện thực hoá
nội dung giáo dục bằng hành vi đạo đức. Các hành vi đạo đức lặp đi lặp lại trong


tượng xã hội vừa mang tính tinh thần vừa mang tính hành động hiện thực.
Sự nhận thức của đạo đức có đặc điểm:
Hành động đạo đức tiếp liền sau nhận thức giá trị đạo đức. Và đa số trường
hợp có sự hòa quyện ý thức đạo đức với hành động đạo đức. (Khác những khoa học

14


và ứng dụng nghiên cứu thành tựu khoa học có khoảng cách về không gian và thời
gian).
Nhận thức của đạo đức là quá trình vừa hướng ngoại (hướng ra ngoài) và
hướng nội (tự nhận thức – hương vào chính mình, chính chủ thể).
Nhận thức hướng ngoại lấy chuẩn mức, giá trị, đời sống đạo đức của xã hội
làm đối tượng. Đó là hệ thống giá trị thiện và ác, trách nhiệm và nghĩa vụ, hạnh
phúc và ý nghĩa cuộc sống…, những “cách thức và phương tiện” tạo ra các giá trị
đạo đức. Nhờ sự nhận thức này mà chủ thể nhận thức đã chuyển hóa đạo đức của xã
hội như là cái chung thành ý thức đạo đức của cá nhân như là cái riêng.
Nhận thức hướng nội (tự nhận thức), lấy bản thân mình – chủ thể đạo đức –
làm đối tượng nhận thức. Đây là quá trình tự đánh giá, tự thẩm định, tự đối chiếu
những nhận thức, hành vi, đạo đức của mình với những chuẩn mực giá trị chung
của cộng đồng. Từ cách nhận thức này mà chủ thể hình thành phát triển thành các
quan điểm và nguyên tắc sống: sáng tạo hay chủ động, hy sinh hay hưởng thụ, vị
tha hay vị kỷ, hướng thiện hay sa vào cái ác…
Trong tự nhận thức, vai trò của dư luận xã hội và lương tâm là to lớn. Dư
luận xã hội là sự bình phẩm, đánh giá từ phía xã hội đối với chủ thể, còn lương tâm
là sự phê bình. Cả hai đều giúp chủ thể tái tạo lại giá trị đạo đức của mình – giá trị
mà xã hội mong muốn.
Từ nhận thức giúp chủ thể ý thức được trách nhiệm của mình và sẵn sàng để
ho thành trách nhiệm đó. Trong cuộc sống có vô số những trách nhiệm như vậy. Nó
luôn đặt ra trong quan hệ phong phú giữa chủ thể đạo đức với xã hội, gia đình, bạn

chung đó mang những đặc điểm riêng, đặc thù của chuyên ngành. Đó là: sinh viên
chuyên ngành giáo dục chính trị họ ý thức cao về bản thân mình và muốn thể hiện
vai trò cá nhân. Trong quá trình ngồi trên ghế giảng đường, chính là quá trình lâu
dài để họ tích lũy kiến thức, kinh nghiệm, phương pháp, tư duy, và bản lĩnh chính
trị. Sinh viên tự nhận thấy vai trò, tầm quan trọng của những môn chuyên ngành
Triết học Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Chủ nghĩa xã hội khoa học…hơn
nữa, việc nhận thức được phương pháp duy vật biện chứng, thế giới quan khoa học,
cách mạng của hệ tư tưởng Mác – Lênin là yêu cầu cơ bản trong nghề nghiệp của
mình sau này.

1.2.2 Các nội dung giáo dục đạo đức cho sinh viên chuyên ngành giáo
dục chính trị

16


1.2.2.1 Giáo dục cho sinh viên về phẩm chất chính trị đạo đức

Thứ nhất, giáo dục cho sinh viên phẩm chất chính trị, đạo đức:
Có bản lĩnh chính trị vững vàng, yêu nước, trung thành với mục tiêu, lý
tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, với chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh.
Tích cực tham gia xây dựng và thực hiện đường lối, chính sách của Đảng,
pháp luật của Nhà nước; có dũng khí đấu tranh chống các biểu hiện của chủ nghĩa
cơ hội, chủ nghĩa xét lại và chủ nghĩa giáo điều; chống các quan điểm sai lầm, phản
động và các tệ nạn xã hội.
Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Trung thực và thẳng thắn, khiêm tốn,
giản dị, lời nói đi đôi với việc làm, có quan điểm quần chúng đúng đắn. Có ý thức
tổ chức kỷ luật và tinh thần trách nhiệm trong công tác, có tình yêu nghề nghiệp.
Thứ hai, giáo dục cho sinh viên về trình độ lý luận chính trị và

HÀNH VI ĐẠO ĐỨC CHO SINH VIÊN CHUYÊN NGÀNH CHÍNH TRỊ.
Quá trình hình thành những phẩm chất đạo đức là một quá trình phức tạp.
Mỗi phẩm chất đạo đức của con người là kết quả tác động của nhiều yếu tố khách
quan, chủ quan. Chúng ta sẽ xem xét một số vấn đề trong việc giáo dục đạo đức cho
học sinh, sinh viên.
2.1. Về phía nhà trường
Một trong những khâu của quá trình giáo dục đạo đức là hình thành cho
người được giáo dục những hiểu biết về đạo đức. Nhà trường chính là nơi cung cấp
cho học sinh, sinh viên những tri thức đạo đức cần thiết. Thông qua các giờ lên lớp
học sinh, sinh viên sẽ được trang bị những tri thức đạo đức một cách khái quát và hệ
thống. Vốn tri thức này có tác dụng quan trọn ở chỗ giúp cho họ có cơ sở đúng đắn
để nhận ra và phân biệt giữa hiện tượng đạo đức và hiện tượng phi đạo đức biểu
hiện muôn hình vạn trạng trong cuộc sống hàng ngày, đó là cơ sở để tạo nên tính tự
giác trong hành vi đạo đức của học sinh, sinh viên.
Trong nhà trường, việc giáo dục đạo đức nói chung và việc cung cấp những
tri thức đạo đức nói riêng cho học sinh, sinh viên là nhiệm vụ của tất cả các môn
học trong nhà trương, đặc biệt là các môn khoa học xã hội. Cùng với tất cả các môn
học thì ở các trường phổ thông qua các giờ đạo đức, giờ giáo dục công dân; ở các
trường đại học, cao đẳng là thông qua giảng dạy các môn chủ nghĩa Mác – Lênin,
đạo đức học,... đã góp phần quan trọng giúp cho sinh viên thình thành thế giới quan
khoa học, nhân sinh quan xã hội chủ nghĩa, làm cơ sở rộng rãi, vững chắc cho đạo
đức xã hội chủ nghĩa các em.
Trong các giờ giảng dạy, giảng viên ngoài việc cung cấp những tri thức nói
chung, tri thức đạo đức nói riêng còn có khả năng tác động rất lớn vào tình cảm, ý chí
của học sinh, sinh viên. Các câu chuyện sống động minh họa cho những giờ học,
những tác động đạo đức của văn học, nghệ thuật trong chương trình ngoại khóa… là
những biện pháp hiệu nghiệm tác động vào tình cảm đạo đức của học sinh, sinh viên.
Các hình tượng nghệ thuật của câu chuyện sẽ góp phần vào sự hình thành thái độ,
tình cảm đạo đức từ đó dễ chuyển tri thức đạo đức thành niềm tin đạo đức.


mọi thành viên phải phục tùng ý chí của tập thể, phải có sự lãnh đạo thống nhất, các
thành viên phải được bình đẳng trước tập thể.
Ngoài tập thể lớp học sinh, sinh viên còn là thành viên của một số tập thể
khác nhau nữa. Mỗi tập thể đều có mục đích, yêu cầu, nhiệm vụ và hình thức hoạt

20


động riêng. Do vậy, người giáo viên phải có khả năng làm cho dư luận của những
tập thể khác nhau này có sự thống nhất về những vấn đề giống nhau. Chỉ có trong
tình huống như vậy thì dư luận xã hội trong tập thể mới có tác dụng giáo dục đạo
đức cho học sinh, sinh viên.
Hơn nữa, người giáo viên còn phải biết chủ động hướng dư luận của tập thể
học sinh, sinh viên theo cũng một hướng chủ định (theo các nói của A.X.Macarenco
là cùng nói một giọng “đô”); đồng thời cũng phải biết dẹp đi những dư luận không
có lợi cho việc giáo dục đạo đức.
Mọi dư luận của tập thể học sinh, sinh viên về những hành vi đạo đức của
mỗi thành viên trong tập thể sẽ tạo nên không khí đạo đức của tập thể. Khi bầu
không khí đạo đức của tập thể được hình thành đầy đủ và đúng đắn, lành mạnh sẽ là
môi trường nảy sinh, điều kiện tồn tại và củng cố những hành vi đạo đức của học
sinh, sinh viên.
2.3. Gia đình và nề nếp gia đình
Mỗi người đều sinh sống trong những gia đình nhất định, ở đây sẽ diễn ra
các mối quan hệ trực tiếp xã hội đầu tiên giữa những đứa trẻ và ông bà, bố mẹ, anh
chị em. Thông qua gia đình các mối quan hệ xã hội sẽ ảnh hưởng đến đứa trẻ. Mọi
sinh hoạt trong gia đình đều có ảnh hưởng lớn lao đến sự hình thành đạo đức của
học sinh, sinh viên; trong đó nề nếp gia đình và sự tổ chức giáo dục của gia đình có
ý nghĩa quan trọng. Các nề nếp trong gia đình chính là cụ thể hóa các chuẩn mực
đạo đức đầu tiền mà con người lấy đó làm căn cứ để điều khiển, điều chỉnh hành vi
của mình, xã hội hóa bản thân mình.

phù hợp với nguyên tắc đạo đức của chúng.
Khi bước vào tuổi đầu thanh niên, do sự phát triển tâm sinh lý ở lứa tuổi này,
các em chịu ảnh hưởng lớn tự bạn bè, trong sự tự đánh giá bản thân thường cao hơn
thực tế, các em mong muống không bị phụ thuộc vào cha mẹ. Do vậy, giai đoạn này
các em chịu ảnh hưởng từ xã hội lớn hơn ở gia đình. Các bậc phụ huyng cần tạo
điều kiện để các em xây dựng những yêu cầu trong nề nếp gia đìnhmoojt cách dân
chủ phù hợp với các nguyên tắc đạo đức và khéo léo khích lệ các em thức hiện
chúng một cách kiên trì.
Đặc trưng của cuộc sông sinh viên là không sống chung cùng gia đình. Phần
lắn sinh viên sống cùng với nhau trong ký túc xá nhà trường hoặc trong các khu nhà
trọ. Có thể nói đối với sinh viên đó là cuộc sống hoàn toàn khác với giai đoạn trước
đây khi mà họ còn học ở trường phổ thông. Một cuộc sống đòi hỏi có sự tự lập cao
vì họ sẽ phải tự mình tổ chứ, tự đưa ra yêu cầu, tự kiểm tra , tự điều chỉnh những
hành vi của mìnhddeer đảm bảo cho hoạt động của mình được diễn ra tốt đẹp, đồng

22


thởi lại tạo ra được sự hài hòa với các thành viên cùng chung sống. Mặt khác, sinh
viên có ý thức về việc tự chịu trách nhiệm về cuộc sống của mình, mỗi sinh viên
đều xuất thân từ những hoàn cảnh riêng, trong đó có chứa đựng những nề nếp sinh
hoạt riêng của gia đình mình đã tạo nên cho họ ít nhiều có những thói quen, những
cách ứng xử, những hành vi đạo đức riêng trong cuộc sống. Bước chân vào cuộc
sống sinh viên, một cuộc sống có sự có sát giữa các nề nếp sinh sống khác nhau và
không phải mọi cách sống của các thành viên đều đi đúng nguyên tắc đạo đức, đều
được thành viên khác chấp nhận (dù đúng chuẩn mực). Cuộc sống sinh viên lại
thoát hẳn sự theo dõi kiểm tra, nhắc nhở của các bậc phụ huynh, các nhà giáo
dục(nhất là khi sinh viên sống trong các khu nhà trọ). Đây là giai đoạn khó khăn
nhất trong giáo dục đạo đức, bởi trong bối cảnh như vậy không phải sinh viên nào
cũng làm chủ được bản thân mình trước những tác động tiêu cực, từ đó họ dễ mất đi

Sự tự du dưỡng về mặt đạo đức là một hành động tự giác, có hệ thống mà
mỗi cá nhân thực hiện đối với bản thân mình nhằm khắc phục những hành vi trái
đạo đức và bồi dưỡng, củng cố những hành vi đạo đức của bản thân mình, thúc đẩy
sự phát triển nhân cách.
Tự tu dưỡng là nhu cầu của mỗi cá nhân ở trình độ ý thức đã phát triển. Mọi
cá nhân đều có mong muốn làm cho mình tốt hơn lên, bồi bỏ tình cảm và ý chí của
mình, khắc phục những thói hư tật xáu, làm cho mình biết phân biệt điều thiện với
điều ác. Do đó, tự tu dưỡng là một con đường nhằm hình thành những phẩm chất
đạo đức ở mỗi cá nhân học sinh, sinh viên. Tạo cho học sinh, sinh viên có khả năng
tự tu dưỡng là một yêu cầu giáo dục đạo đức trong nhà trường.
Ý thức và khả năng tự tu dưỡng do đâu mà có? Có thể nói rằng, hoàn cảnh
bên ngoài, sự giáo dục, kinh nghiệm sống của các em là nguồn gốc của sự tu dưỡng
cá nhân. Chính trong cuộc sống, trong giáo dục, các em sẽ nhận thức được mình,
nhận thức được những người khác, đối chiếu yêu cầu của những người xung quanh
với khả năng của bản thân mình. Trong quá trình được giáo dục các em sẽ hình
thành được những cơ sở đạo đức của bản thân, những khái niệm, những quan niệm,
thái độ, niềm tin và thói quen đạo đức… Tất cả những cái đó có vai trò điều chỉnh
hành vi đạo đức của các em và quyết định cả xu hướng đạo đức của nhân cách trong
tương lai của các em. Khi các em càng phát triển thì sự tự tu dưỡng của các em càng
có vai trò to lớn và có hiệu lực trong việc hình thành những phẩm chất đạo đức cho
bản thân mình.
Để tiến hành tự tu dưỡng tốt thì học sinh, sinh viên phải có những điều kiện
nhất định, những tiền đề nhất định. Trước hết, các em phải tự nhận thấy được mình
còn thiếu cái gì, cần rèn luyện thêm những phẩm chất đạo đức nào và con đường

24


vươn tới như thế nào? Sự tự nhận thức về những đòi hỏi đó đối với bản thân học
sinh, sinh viên chỉ có được khi họ được giáo dục đến một mức độ nhất định. Như


25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status