nâng cao hiệu quả giáo dục đào tạo ở vùng dân tộc thiểu số các tỉnh phía bắc, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước - Pdf 34

A. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Những năm đầu thế kỷ XXI, khi cả nhân loại đang bước vào nền kinh
tế dựa trên tri thức, chúng ta càng xiết bao khâm phục trước tầm nhìn xa trông
rộng của lãnh tụ Hồ Chí Minh, càng thấm thía lời dạy của Người: "Một dân
tộc dốt là một dân tộc yếu". Hồ Chí Minh hiểu sâu sắc hiểm họa của sự dốt
nát, theo Người dốt nát cũng là kẻ địch. Nên Người chỉ rõ: "Vì lợi ích mười
năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người".
Thấm nhuần tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong suốt quá trình
lãnh đạo cách mạng, Đảng ta đã đề ra nhiều chủ trương, chính sách để nhằm
phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo. Đặc biệt trong thời kỳ đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay, trước những yêu cầu, nhiệm vụ mới, đòi
hỏi công tác giáo dục - đào tạo phải không ngừng đổi mới, hoàn thiện. Tư
tưởng này được khẳng định và cụ thể hóa trong nghị quyết Hội nghị Ban chấp
hành Trung ương Đảng lần thứ II (khóa VIII) "Về định hướng chiến lược phát
triển giáo dục - đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nhiệm
vụ đến năm 2000". Đại hội Đảng IX tiếp tục khẳng định: "Phát triển giáo dục
- đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người - yếu
tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững .
Nằm trong sự phát triển chung của đất nước, vùng đồng bào dân tộc
thiểu số và miền núi có một vị trí chiến lược quan trọng về kinh tế, chính trị,
an ninh quốc phòng, giao lưu quốc tế và môi trường sinh thái. Nhận thức rõ vị
thế đó, Đảng và Nhà nước rất quan tâm đến việc hoạch định và tổ chức thực
hiện chính sách dân tộc trong đó có chính sách về giáo dục - đào tạo. Nhờ sự
quan tâm ấy trong thời gian qua công tác giáo dục - đào tạo vùng dân tộc
thiểu số, miền núi đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Tuy nhiên vẫn còn
những khó khăn, bất cập, vì vậy chưa đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn miền núi, vùng dân tộc
thiểu số. Do đó việc nâng cao hiệu quả công tác giáo dục - đào tạo ở vùng dân
tộc thiểu số và miền núi là một vấn đề cấp thiết đặt ra hiện nay.

A. Phần mở đầu
B. Phần nội dung
C. Phần kết luận

2


B. NỘI DUNG
1. Cơ sở lý luận nội dung nghiên cứu.
Vấn đề con người là điểm xuất phát và sự giải phóng con người là
mục đích cao nhất của chủ nghĩa Mác - Lênin. Khi hình dung những nét đại
thể về xã hội tương lai, chủ nghĩa Mác - Lênin đã đặt con người vào vị trí
trung tâm, con người là chủ thể xây dựng, đồng thời là kết quả của sự phát
triển đó. Một luận điểm nổi tiếng của Mác tạo nên bước ngoặt cách mạng
trong việc nhận thức về con người đó là quan niệm về bản chất con người:
"Bản chất con người không phải là một cái trừu tượng, cố hữu của cá nhân
riêng biệt. Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa các
mối quan hệ xã hội" [15, tr. 11]. Vì vậy trong chủ nghĩa Mác - Lênin cá nhân
và xã hội có quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau. Do đó cả Mác, Ăngghen,
Lênin đều chú ý nhiều đến những vấn đề giải phóng xã hội, giải phóng con
người, đến những vấn đề phát triển cho mỗi cá nhân. Các ông đã phác họa ra
những nét chính của con người mới phù hợp với xã hội tương lai: đó là những
con người đã thực sự làm chủ tự nhiên, làm chủ xã hội và làm chủ bản thân,
đó là những con người được phát triển toàn diện cả về đức, trí, thể, mỹ. Chủ
nghĩa Mác - Lênin còn khẳng định: Chính con người đã sáng tạo ra lịch sử,
làm nên lịch sử. Để có được những con người mới ấy, công tác giáo dục - đào
tạo đóng một vai trò rất to lớn. Theo Mác - Ăngghen: "Công tác giáo dục sẽ
làm cho những người trẻ tuổi có khả năng nắm vững nhanh chóng toàn bộ hệ
thống sản xuất trong thực tiễn, làm cho họ có thể lần lượt chuyển từ ngành
sản xuất này sang ngành sản xuất nọ theo nhu cầu của xã hội hoặc tùy theo sở

nhân dân, đại chúng. Người xác định rất rõ mục tiêu của giáo dục - đào tạo:
Học để làm việc, làm người làm cán bộ. Học để phụng sự đoàn thể, giai cấp
và nhân dân, tổ quốc và nhân loại. Học để tin tưởng; học để tu dưỡng đạo đức
cách mạng; học để hành, học tốt để lao động cho tốt; để xây dựng nền công
nghiệp và nông nghiệp tiên tiến...
Thấm nhuần quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư t ưởng Hồ
Chí Minh về giáo dục - đào tạo con người mới và phát huy truyền thống hiếu
học của dân tộc, cũng như những tinh hoa trí tuệ của nhân loại, trong suốt quá
trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta đã đề ra nhiều chủ trương, chính sách để
nhằm không ngừng phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo. Trong giai đoạn
lịch sử hiện nay, đứng trước những thời cơ và thử thách mới, một câu hỏi đặt
ra và phải làm gì, làm thế nào để đưa đất nước phát triển mạnh, tránh nguy cơ
tụt hậu. Đảng ta đã xác định: lấy phát triển giáo dục - đào tạo và khoa học
công nghệ làm khâu đột phá, và đầu tư cho giáo dục là đầu tư cơ bản, quan
trọng nhất cho sự phát triển toàn diện đất nước. Hội nghị Ban chấp hành
trung ương II (khóa VIII) đã nhấn mạnh: "Muốn tiến hành công nghiệp
hóa, hiện đại hóa thắng lợi phải phát triển giáo dục - đào tạo phát huy
nguồn lực con người, yếu tố để phát triển nhanh bền vững.
2. Thực trạng công tác giáo dục – đào tạo ở vùng dân tộc thiểu số
Các tỉnh vùng cao và miền núi phía Bắc gồm 14 tỉnh, trong đó có 6
tỉnh vùng cao là: Hà Giang, Cao Bằng, Lào Cai, Bắc Cạn, Lai Châu, Sơn La
và 8 tỉnh miền núi là: Tuyên Quang, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Quảng Ninh,
Hòa Bình, Phú Thọ, Yên Bái, Bắc Giang. Đây là vùng kinh tế sinh thái lớn,
có vị trí chiến lược, là vùng giàu tiềm năng phát triển kinh tế - xã hội.
Trong những năm qua, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước,
cùng với sự nỗ lực cố gắng của nhân dân các dân tộc, các tỉnh miền núi phía
Bắc đã đạt được những bước phát triển mới trên nhiều lĩnh vực trong đó có
giáo dục - đào tạo.
Chất lượng giáo dục cả trong dạy và học đã được nâng cao rõ rệt.
Giáo dục mầm non từ chỗ hầu như không phát triển hoặc chỉ phát triển ở các

quả đạt được vẫn chưa cao.
Tuy số lượng học sinh hàng năm tăng lên đáng kể, số học sinh giỏi đạt
giải quốc gia cũng tăng, nhưng chất lượng như vậy vẫn chưa cao, bởi số học
sinh thi vào trường chuyên, lớp chọn và thi đỗ vào Đại học vẫn ở mức hạn
chế, điều này xuất phát từ nhiều nguyên nhân như: công tác quản lý của hiệu
trưởng các trường, của các phòng giáo dục huyện, thị, của trường sư phạm,
chất lượng giảng dạy của thầy, điều kiện phục vụ cho việc học tập và sự cố
gắng chăm chỉ của trò, chất lượng tuyển sinh đầu vào của các lớp... dẫn tới
nhiều học sinh, nhất là học sinh ở các vùng sâu, vùng xa, vùng cao còn yếu.
Do điều kiện kinh tế - xã hội của các tỉnh miền núi còn chưa phát
triển, cho nên cơ sở vật chất của ngành giáo dục vẫn còn đầu tư ở mức hạn
chế. Bên cạnh đó đời sống đồng bào các dân tộc thiểu số còn nhiều khó khăn,
do vậy để nâng cao trình độ, nâng cao chất lượng giáo dục là một thách thức

5


lớn. Tình trạng lớp học ghép, lớp học dồn, lớp học ca ba... làm cho học sinh
tiếp thu kiến thức rất khó khăn. Đồng thời việc dạy của thầy cũng không kém
phần vất vả. Vì trong một lớp học ghép tất nhiên sẽ có nhiều độ tuổi khác
nhau, dẫn đến việc tiếp thu tri thức cũng khác nhau. Mặt khác, do trình độ học
sinh trong một lớp khác nhau, người học lớp 1, người học lớp 2... cho nên
trong quá trình giảng dạy giáo viên phải truyền đạt rất nhiều kiến thức trong
một tiết dạy, do đó mà giáo viên không thể chú ý đến từng học sinh, đặc biệt
là những học sinh khá, giỏi hoặc yếu, kém để có biện pháp giáo dục thích hợp
nhằm đem lại kết quả cuối cùng là chất lượng học sinh cao.
Cũng do điều kiện kinh tế còn khó khăn, nên học sinh vừa phải đi học
lại phải tranh thủ làm thêm phụ giúp gia đình, ngoài giờ đi học học sinh còn
phải lên rừng kiếm củi, bẻ măng, săn thú... thậm chí còn bỏ học nếu trong nhà
hôm nay chưa có củi đun, chưa có thức ăn. Chính đặc điểm này đã dẫn đến



cái chữ là được rồi, ở nhà đi cày, đi cuốc, lên nương làm rẫy còn có miếng
cơm mà ăn... do đó làm nhụt chí học tập của học sinh, họ không còn hứng thú
đến trường nữa. Vì vậy tỷ lệ học sinh mù chữ và có trình độ học vấn thấp là
tất yếu.
2.2. Thiếu trường, lớp, giáo viên còn diễn ra ở các làng bản, vùng
cao, vùng sâu, vùng xa
Có thể nói, giáo dục - đào tạo là một mắt khâu quan trọng trong chiến
lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, nó quyết định tốc độ và chiều
hướng phát triển trong việc thực hiện chiến lược ấy. Đánh giá về vai trò của
giáo dục - đào tạo. Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII) khẳng định: "Giáo
dục - đào tạo đã góp phần quan trọng nâng cao dân trí, đào tạo đội ngũ lao động
có trình độ học vấn tiểu học, trung học và đội ngũ cán bộ đông đảo phục vụ các
nhu cầu kinh tế - xã hội và an ninh, quốc phòng" ở các vùng sâu, vùng xa,
vùng cao của các tỉnh miền núi đến nay đã có mạng lưới rộng khắp các trường
tiểu học. Tuy nhiên, cũng phải thừa nhận một thực tế là, trong những năm gần
đây, công tác giáo dục - đào tạo nâng cao dân trí các tỉnh miền núi, vùng cao
phía Bắc chưa đáp ứng kịp thời với những đòi hỏi của công cuộc CNH, HĐH
đất nước. Cơ sở vật chất trong ngành giáo dục rất thiếu thốn, nhiều nơi xuống
cấp tới mức báo động: trường không ra trường, lớp không ra lớp, bàn ghế
thiếu thốn... Còn nhiều xã, nhiều bản ở vùng núi cao chưa có trường hoặc
chưa có lớp học. Nhiều lớp học ở vùng cao thậm chí chỉ là 4 cột nhà và mái
lợp, xung quanh không có phên che, tường chắn, bàn ghế là những cây tre
ghép lại mà thành. Số trường được tu sửa, nâng cấp, xây dựn, lại phần lớn tập
trung ở thị xã và các trung tâm huyện. Nhìn chung ở các làng bản vùng cao,
vùng sâu, vùng xa tình trạng trường lớp còn thiếu thốn khá nhiều, nếu có
trường thì chủ yếu là tranh, tre, nứa, lá. Việc thiếu trường, thiếu lớp đã dẫn tới
tình trạng có trường phải học ca ba, trong trường có lớp phải học ghép, thậm
chí có nơi phải tranh thủ học buổi tối. Sự thiếu hụt đó cũng đang được Đảng

Hiện nay, ở các làng bản, vùng cao, vùng sâu, vùng xa ở các trường
học hầu như không có thư viện, nếu có thì chỉ có ở thị xã hoặc thị trấn, thư
viện ở thị xã thì sách vở cũng chỉ mới là tương đối, chủng loại sách, tài liệu
tham khảo nghiên cứu chưa phong phú, đa dạng. Thư viện ở các huyện cũng
chỉ phục vụ được cho số ít độc giả. Trong mỗi trường đã có những thư viện,
tủ sách nhưng vẫn còn ở mức hạn chế. Đặc biệt ở những làng bản vùng cao,
vùng sâu, vùng xa, có trường ngay đến bảng của giáo viên cũng mang tính
chất tạm bợ, phải lấy cánh cửa để làm bảng viết. Bàn giáo viên thậm chí
không có. ở những nơi đồng bào dân tộc thiểu số sống theo kiểu du canh, du
cư, lớp học gần như phải "du cư" theo, nên việc xây dựng trường, lớp kiên cố
gặp rất nhiều khó khăn.
Mặc dù được sự chú trọng, quan tâm, đầu tư xây dựng nâng cấp chất
lượng lớp học, trường học, nhưng do điều kiện khách quan và chủ quan, nên ở
các vùng này vẫn còn sự thiếu thốn về cơ sở vật chất cho cả việc dạy và học.
Nâng cao chất lượng cơ sở vật chất cho trường học là một vấn đề đang
đặt ra nhằm đẩy mạnh sự nghiệp giáo dục - đào tạo đòi hỏi các cấp, bộ giáo
dục cần phải nghiên cứu, tìm tòi, vạch ra những giải pháp, bước đi thích hợp
đem lại hiệu quả.
2.4. Nội dung giáo dục đặc thù như giáo dục văn hóa dân tộc, dạy
chữ dân tộc, còn lúng túng trong tổ chức thực hiện
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, dân tộc nào cũng có tiếng nói
riêng tồn tại cùng với tiếng nói trong vùng và tiếng phổ thông, nhưng không
phải dân tộc nào cũng có ký tự ghi lại tiếng nói của dân tộc mình, trong 31
dân tộc đang sinh sống ở các tỉnh phía Bắc chỉ có 4 dân tộc có chữ viết: Tày,
Thái, Nùng, H'Mông. Do đặc điểm về địa bàn cư trú, trình độ dân trí không

8


đồng đều, sự đan xen ngôn ngữ và phát triển kinh tế xã hội còn thấp làm cho

Việc giáo dục văn hóa dân tộc thông qua chữ viết, và các bài giảng
chưa được phát huy. Qua đó chất lượng dạy tiếng Việt và chất lượng giáo dục
văn hóa, giáo dục nhân cách chưa được nâng cao. Một số tài liệu học thêm và
đọc thêm được biên soạn chưa khai thác hết theo hướng các tinh hoa văn hóa
dân tộc nhằm giúp học sinh dân tộc hiểu biết và phát huy bản sắc văn hóa của
dân tộc mình.
Việc giáo dục văn hóa dân tộc cho học sinh dân tộc trong các trường
phổ thông chưa được chú trọng, vì vậy ở trong nước các dân tộc thiểu số có
xu hướng ngày một "Kinh hóa". Đã có nhiều bài viết đăng trên một số báo
báo động tình trạng này. Ví dụ: Người Mường ở Hòa Bình đang từ bỏ kiểu
9


nhà sàn truyền thống làm nhà đất kiểu dáng như nhà ở của người Kinh. Lễ
cưới của nhiều dân tộc đang bị "Kinh hóa" từ nghi thức, ăn mặc cho đến các
món ăn trên mâm cỗ. Chữ viết là tài sản vô giá của một số dân tộc có nguy cơ
trở thành "đồ cổ" cất giữ trong bảo tàng. Đặc biệt ở một số dân tộc như: Phù
Lá, Lô Lô, Chứt, Rục, Brâu... có nguy cơ mất tiếng mẹ đẻ. Do vậy, trong
những năm tới, cần tiếp tục triển khai nghiên cứu các đề tài khoa học về giáo
dục song ngữ để tìm ra phương pháp giảng dạy thích hợp, cải tiến tài liệu,
cách đào tạo, bồi dưỡng giáo viên, tạo điều kiện tốt hơn cho người dạy và
học. Tiếp tục đào tạo đội ngũ chuyên gia giỏi về tiếng dân tộc có tri thức sâu
về giáo dục làm nòng cốt trong đội ngũ tác giả biên soạn các tài liệu giáo
khoa và giảng dạy song ngữ. Ngành giáo dục tiếp tục khai thác tinh hoa văn
hóa truyền thống đang được lưu giữ trong cộng đồng, soạn thành tài liệu đọc
có hình ảnh minh họa giúp học sinh dân tộc học tiếng Việt, học tiếng dân tộc
có hiệu quả, giúp các em thêm yêu, thêm hiểu biết về cộng đồng mình và có ý
thức giữ gìn, phát huy các tinh hoa văn hóa ấy.
3. Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục đào tạo
3.1. Tiếp tục phát triển quy mô xây dựng mạng lưới trường lớp

có điều kiện.
- Củng cố các lớp cắm bản, mở các lớp ghép, lớp treo để thu hút phần
lớn số trẻ đến học.
- Mở các lớp bán trú ở xã, cụm xã theo hình thức nhà nước và nhân
dân cùng làm để trẻ ở xa có điều kiện học tại lớp.
- Củng cố các trung tâm giáo dục thường xuyên thành cơ sở vừa dạy
chữ vừa dạy nghề cho thanh niên các dân tộc.
- Tiếp tục củng cố các trường phổ thông dân tộc nội trú các cấp, gắn
công tác tuyển sinh với quy hoạch đào tạo, tạo ra sự liên thông giữa các tuyến
dưới với tuyến trên, quan tâm tuyển các đối tượng người dân tộc thiểu số, học
sinh nữ.
- Đa dạng hóa hệ thống mạng lưới trường lớp và hình thức dạy học để
huy động mọi người đi học, xây dựng mạng lưới trường lớp phủ kín, xóa bản
"trắng", xây dựng các trường tiểu học hoàn chỉnh, mở trường trung học cơ sở
cho các cụm xã... Ngoài ra còn phải mở các loại hình trường chuyên nghiệp từ
sơ cấp đến đại học, còn có những trường lớp có hình thức đặc thù như: trường
phổ thông lao động, trường thanh niên dân tộc, trường thiếu nhi vùng cao,
trường dự bị đại học Trung ương (Việt Trì) để tạo nguồn học sinh người dân
tộc vào bậc đại học.
- Phát triển hơn nữa hệ thống các trường dân tộc nội trú, mở các lớp
xóa mù chữ, lớp học linh hoạt, các trung tâm giáo dục trẻ em gái và phụ nữ để
trở thành hình thức giáo dục mang tính đặc thù phù hợp với đối tượng học
tập. Các loại trường lớp này không chỉ nhằm học chữ mà còn cung cấp thêm
các tri thức xã hội, kỹ năng sống và nghề nghiệp.
Trường, lớp là cơ sở ban đầu, là một trong những điều kiện cần thiết
giúp cho công tác giáo dục - đào tạo có hiệu quả. Chính vì vậy cần phải phát
huy nguồn lực ở đồng bào các dân tộc thiểu số ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa,
họ không có tiền nhưng lại có hiện vật: Tre, đất, nứa... và có thể đóng góp
công sức xây dựng. Song bên cạnh đó cần sự hỗ trợ của các đơn vị kinh tế,
các tổ chức xã hội của Nhà nước đầu tư về xi măng, tiền bạc... như thế sẽ đảm

và phẩm chất sư phạm sẽ phải chuyển sang làm việc khác.
Trong những năm qua, phần lớn đội ngũ giáo viên ở miền núi và vùng
dân tộc là người Kinh từ các nơi khác đến, không biết tiếng dân tộc và thiếu
hiểu biết về tập quán, phong tục của đồng bào địa phương. Vì vậy việc giảng
dạy và truyền đạt tri thức cho học sinh dân tộc còn nhiều hạn chế, cần phải
khuyến khích và có chế độ động viên giáo viên ở những vùng này tự trang bị
cho mình về tiếng và chữ dân tộc để giảng dạy và thâm nhập vào cộng đồng
đồng bào dân tộc. Hàng năm vào dịp hè cần tổ chức thường xuyên hơn nữa
những lớp: "Bồi dưỡng hè" cho tất cả đội ngũ giáo viên. Như vậy, để cho giáo
viên chưa có điều kiện đi học cao hơn vẫn có thể học thêm, bổ sung những
kiến thức mới, những vấn đề chính trị cập nhật...
Đối với những giáo viên chưa đạt chuẩn ở tất cả các cấp học, cần có
biện pháp để giúp giáo viên này đạt được trình độ chuẩn, không nên để trình
độ tri thức giữa các giáo viên chênh lệch quá xa, khoảng cách này cần phải
được rút ngắn, càng sớm, càng tốt. Nâng cao chất lượng giáo viên đồng thời
cũng nâng cao chất lượng học sinh. Hơn nữa, khối lượng tri thức của nhân
loại ngày một nhiều, học sinh càng có nhu cầu được hiểu biết, được khám

12


phá, tìm tòi, do đó việc nâng cao trình độ cho giáo viên lại càng phải đặt ra
cần phải giải quyết hơn bao giờ hết.
Nhưng không chỉ chú ý đến nâng cao chất lượng mà quên việc tăng số
lượng. Nếu chất lượng giáo viên cao mà phải dạy chồng chéo thì kết quả giáo
dục thu được cũng không cao, bản thân học sinh tiếp thu kiến thức cũng vất
vả.
Yêu cầu giáo viên phải đạt chuẩn đào tạo là hoàn toàn đúng đắn. Song
ở miền núi và vùng dân tộc thiểu số cần phải được tiến hành từng bước. ở
miền núi và vùng dân tộc thiểu số không thể đào tạo một lần mà có ngay đội


13


- Động viên, điều chuyển các giáo viên cho vùng cao, vùng sâu, có
chế độ đãi ngộ thích đáng với người dạy, người học bằng ngân sách, xác định
ưu tiên và tăng chi ngân sách cho các tỉnh đặc biệt khó khăn, đưa các định
mức chi cho đầu người làm công tác xóa mù chữ, phát không sách giáo khoa
và xây dựng tủ sách, cho phép ký hợp đồng bổ sung giáo viên ngoài biên chế.
- Nhằm thu hút được giáo viên lên công tác tại vùng cao cần phải có
công tác, chính sách đãi ngộ thỏa đáng, chẳng hạn như về tiền lương, giáo
viên đang công tác tại miền xuôi lương là 1, thì giáo viên đang công tác tại
miền núi là 1,5, còn giáo viên đang công tác tại vùng sâu, vùng xa là 2.
Ngoài các chính sách hỗ trợ về tiền lương và phụ cấp thì cần phải có
các chính sách khác như:
- Có chế độ ưu đãi và quy định hợp lý tuổi nghỉ hưu đối với giáo viên
công tác tại đây.
- Tăng cường xây dựng cơ sở vật chất cho các trường lớp.
- Tạo điều kiện cho các giáo viên ở đây bồi dưỡng nghiệp vụ, nâng
cao trình độ và học cao hơn nữa.
Như vậy, để thực hiện các chính sách trên phải được sự quan tâm của
các cấp, các ngành, thực hiện với phương châm tạo ra một "xã hội học tập"
đưa nền giáo dục nước ta bước lên tầm cao mới.
3.4. Đa dạng hóa các hình thức tổ chức dạy học, đổi mới nội dung
và phương pháp dạy học
ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi dân cư thưa thớt, làng bảng lại
ở rất xa nhau. Nhiều làng bản không đủ học sinh để mở một lớp học bình
thường. Trong những năm tới tiếp tục triển khai hình thức lớp ghép. Do đặc
điểm cư trú xen kẽ các dân tộc đều là cộng đồng song ngữ hoặc đa ngữ, bên
cạnh việc sử dụng tiếng mẹ đẻ, học sinh dân tộc có quyền lợi và nghĩa vụ học

lượng của đội ngũ này hiện nay đang còn thấp.
Đầu tư vào việc giảng dạy bằng song ngữ cho học sinh. Đâylà một
việc tương đối khó khăn, song nó giúp cho việc bảo tồn và phát huy bản sắc
văn hóa của từng dân tộc, từng vùng dân tộc, mặt khác nó giúp cho việc học
quốc ngữ có hiệu quả hơn. Đây là một kinh nghiệm quý mà Thái Lan áp dụng
khá thành công trong những năm qua. Ban đầu có thể khó khăn, do nhu cầu
giao tiếp mà một số dân tộc đã không sử dụng tiếng của dân tộc mình. Nhưng
nếu giải quyết tốt một số thao tác cơ bản như giáo trình bằng tiếng dân tộc,
giáo viên sử dụng được tiếng dân tộc thì dần dần ngôn ngữ của từng dân tộc
sẽ là cầu nối rất hiệu quả giữa các chính sách nhà nước với nhân dân.
Trong những năm gần đây, trên cơ sở nghiên cứu đặc điểm của trẻ em
các dân tộc thiểu số về tâm sinh lý, nhu cầu học tập, khả năng ngôn ngữ, điều
kiện tham gia học tập... ở các địa bàn miền núi, vùng dân tộc thiểu số cần phải
áp dụng nhiều loại chương trình giáo dục đào tạo khác nhau.
- Đối với ngành học mầm non:
Cần phải áp dụng chương trình chăm sóc, giáo dục trẻ 5 tuổi bằng nội
dung phù hợp với điều kiện giáo viên, cơ sở vật chất và đối tượng là trẻ em
vùng cao, xa xôi hẻo lánh. Tăng cường nội dung dạy nói tiếng Việt cho trẻ
mẫu giáo 5 tuổi để chuẩn bị cho các cháu vào học tốt ở lớp một.
- Đối với bậc tiểu học:
Cần áp dụng nhiều loại chương trình khác nhau: Chương trình 165
tuần, chương trình 120 tuần, chương trình 100 tuần áp dụng cho từng đối
tượng học sinh có điều kiện về địa lý, khí hậu và khả năng khác nhau. Cụ thể
như chương trình 100 tuần là để áp dụng cho trẻ thất học, lớn tuổi (15 tuổi trở
lên) để xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học cho đối tượng này.

15


- Đối với bậc trung học cơ sở và phổ thông trung học:

tộc thiểu số và miền núi
Hồ Chủ tịch đã dạy: "Mục đích giáo dục bây giờ là phục vụ nhân dân,
phục vụ tổ quốc, đào tạo lớp người, lớp cán bộ mới [19, tr. 450].
Vì vậy việc nâng cao nhận thức của đồng bào dân tộc về vai trò của
giáo dục là một việc làm cần thiết. Đảng ta coi "giáo dục - đào tạo là quốc
sách hàng đầu" là điều kiện để phát triển kinh tế - xã hội, là động lực thúc đẩy
mọi mặt của đời sống. Nền giáo dục phát triển sẽ đem lại cho con người

16


những hiểu biết, cung cấp cho con người khối lượng kiến thức phong phú, đa
dạng, giúp con người có tầm nhìn xa, trông rộng, đón bắt được thời cuộc, đi
tắt đón đầu, tiếp nhận những khoa học tiến bộ của nhân loại. Với vai trò của
giáo dục như vậy, việc nâng cao nhận thức cho đồng bào các dân tộc thiểu số
và miền núi về vị trí của giáo dục lại càng cấp thiết hơn. Bởi vì đồng bào các
dân tộc thiểu số vùng cao, vùng sâu, vùng xa chưa có ý thức, chưa hiểu được
tầm quan trọng của giáo dục. Từ trước tới nay đồng bào quan niệm không cần
cái chữ vẫn có cái để ăn. Do đó, phải làm sao nâng cao nhận thức cho đồng
bào từ đó họ tự nguyện, họ cảm thấy đó là nhu cầu cần thiết không thể thiếu
được trong cuộc sống, có như vậy mới tạo được động lực, nội lực phát triển
giáo dục.
Hơn nữa, khi chúng ta đang tiến hành công cuộc đổi mới đất nước, khi
thế giới đang chứng kiến việc phát triển như vũ bão của khoa học - kỹ thuật,
nếu không đẩy mạnh phát triển giáo dục để nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực,
bồi dưỡng nhân tài đáp ứng với yêu cầu của thời đại, thì khó lòng mà thúc đẩy
kinh tế - xã hội phát triển lên được. Không thể cứ mãi "con trâu đi trước, cái
cày theo sau", không áp dụng kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất để nâng cao năng
suất trong khi nhu cầu cuộc sống của con người ngày một tăng. Muốn vậy,
không có con đường nào khác là phải học tập, phải có kiến thức để trở thành

tài chính cũng như về con người cho các tỉnh miền núi phía Bắc.
Với các tỉnh: Ban hành các chính sách cụ thể để thu hút giáo viên giỏi,
đồng thời có các chính sách hạn chế chuyển đổi nghề từ giáo viên sang các
nghề khác trong hệ thống chính quyền.
Quan tâm hơn nữa đối với công tác tuyên truyền vận động học sinh
đến lớp đầu tư nhiều hơn hệ thống giáo dục bán trú, dân nuôi.

18


C. KẾT LUẬN
Cuộc cách mạng khoa học, công nghệ hiện đại, cùng với xu thế quốc
tế hóa đời sống kinh tế thế giới là thời cơ thuận lợi để phát triển, đồng thời
cũng là một thách thức gay gắt đối với các nước, nhất là những nước còn
chậm phát triển về kinh tế như nước ta. Trong bối cảnh đó, nước ta muốn
nhanh chóng tiến hành CNH, HĐH nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã
hội công bằng và văn minh, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội phải phát triển
mạnh giáo dục đào tạo, phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản của sự
phát triển chung và bền vững.
Trong lịch sử phát triển xã hội loài người, giáo dục được xem là một
hiện tượng xã hội đặc biệt, đóng một vai trò đặc biệt. Giáo dục thực hiện chức
năng truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử - xã hội, giúp cho mỗi cá nhân
tích lũy kiến thức, phát triển trí tuệ, hình thành văn hóa đạo đức, giúp cho xã
hội bảo tồn phát triển nền văn minh của mình. Giáo dục tham gia đào tạo
nguồn nhân lực, tái sản xuất sức lao động xã hội, tạo ra lực lượng sản xuất
trực tiếp và quản lý xã hội, phát triển tiềm năng trí tuệ và khả năng lao động
sáng tạo của con người. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã khẳng định: "Không
có giáo dục, không có cán bộ thì cũng không nói gì đến kinh tế, văn hóa", "Vì
lợi ích trăm năm phải trồng người". Chủ tịch Hồ Chí Minh còn cho rằng, sự
nghiệp giáo dục gắn bó chặt chẽ với sự nghiệp giải phóng dân tộc, một dân

nên khóa luận mới chỉ dựng lại là những nghiên cứu bước đầu, chắc chắn
không tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong nhận được sự góp ý của thầy cô
và các bạn.

20


Tài liệu tham khảo
1.

Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996.

2.

Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001.

3.

Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006.

4.

Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011.

5.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status