MỞ ĐẦU
1. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
1.1. Cơ sở lí luận:
- Bộ môn Lịch sử ở trường THPT có rất nhiều ưu thế trong việc giáo dục
thế hệ trẻ. Hầu như các tiết dạy Lịch sử chương trình Lịch sử ở trường THPT
đều liên quan và đề cập đến các nhân vật lịch sử nếu chúng ta biết liên kết nó
với các lĩnh vực khác thì chắc chắn vấn đề này sẽ có tác dụng không nhỏ trong
việc giáo dục thế hệ trẻ hôm nay.Vì vậy mà Luật giáo dục đã khẳng định “Mục
tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện có đạo đức, tri
thức, sức khỏe, thẩm mĩ và nghề nghiệp, trung thành với lí tưởng độc lập dân
tộc và chủ nghĩa xã hội, hình thành và bồi dưỡng nhân cách phẩm chất và năng
lực của công dân đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổ quốc” .Với yêu cầu xã
hội đặt ra như vậy công tác giáo dục hiện nay nói chung, dạy học Lịch sử nói
riêng chúng ta phải làm gì để đáp ứng yêu cầu của xã hội đang đặt ra bức thiết.
- Vấn đề nhân vật là lịch sử một vấn đề ảnh hưởng đến tâm tư, tình cảm
của các em học sinh. Tuy nhiên trong dạy học lịch sử vẫn chưa được chú ý đúng
mức, điều này phản ánh một số mặt sau:
Thứ 1: Sách giáo khoa ít nhiều đề cập đến vấn đề này nhưng phần
lớn chỉ giới thiệu chung chung. Học sinh muốn biết nhiều-hiểu rõ phải tìm tòi
nhiều tư liệu khác (thực ra rất khó tìm).
Thứ 2: Việc đánh giá nhân vật lịch sử như thế nào cho đúng với chủ
quan, khách quan thời đại vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau không thống nhất.
Thứ 3: Trong việc dạy học lịch sử giáo viên còn bỏ qua nhân vật
lịch sử, thực tế giáo viên chỉ quan tâm đến nội dung cốt lõi bài học thôi.
1.2. Cơ sở thực tiễn:
Xuất phát từ thực tiễn cuộc sống hiện nay, rất tiếc việc nhận thức của học
sinh về các nhân vật lịch sử hầu như chưa nhiều, đó là chưa kể việc nhận thức
sai lệch đây quả là một vấn đề đặt ra bức thiết. Dẫn ra một minh chứng để minh
họa: Đối với các anh hùng dân tộc khi được hỏi về nhân vật Hai Bà Trưng là ai?
1
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
2
Thứ 1: Nghiên cứu quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, quan điểm Hồ Chí
Minh về vấn đề nhân vật lịch sử, từ đó rút ra tư tưởng, lập trường trong việc
nghiên cứu.
Thứ 2: Thu thập, hệ thống khái quát hóa những vấn đề cơ bản của các tư
liệu về lý luận dạy học, phương pháp dạy học các vấn đề liên quan đến nhân vật
Lịch sử .
Thứ 3: Tham khảo ý kiến đánh giá, dựa vào thực tiễn để đưa ra một cách
nhìn cận cảnh về vấn đề này.
3
NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ
I. NỘI DUNG:
CHƯƠNG I:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ NHÂN VẬT LỊCH SỬ TRONG DẠY
HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPT.
1. Quan niệm về nhân vật lịch sử.
Những nhân vật lịch sử lỗi lạc, những nhà thông thái trên mọi lĩnh vực
văn hóa, tinh thần đều là sản phẩm của những hoàn cảnh và điều kiện lịch sử
nhất định. Song mỗi khi xuất hiện họ trở thành những ngôi sao tỏa sáng trên bầu
trời thời đại và nhờ có những nhãn quan và tài năng vượt trội, họ đã góp phần to
lớn vào việc khai sáng lịch sử, khai sáng nhân loại, rèn luyện đạo lí làm người
góp phần thúc đẩy lịch sử tiến lên.“ Con người làm nên lịch sử của mình bằng
chính năng lực, hiểu biết và hành động hướng tới nhận thức chân lí” như vậy để
2. Nội dung các nhân vật lịch sử trong dạy học lịch sử ở trường THPT:
Trong chương trình lịch sử THPT nhìn chung Lịch sử Việt Nam và Lịch
sử thế giới đã ít nhiều đề cập đến nhân vật lịch sử (cả chính diện và phản diện).
Căn cứ vào thực tiễn chúng ta thấy rõ sách giáo khoa đã nêu lên một số quan
điểm sau:
- Sách giáo khoa đã đề cập đến các nhân vật lịch sử nhưng hầu như chỉ
giới thiệu sơ lược, nhất là trong cuộc cách mạng tên tuổi các nhân vật, nhân vật
đó hoạt động như thế nào.
- Sách giáo khoa cũng đã đề cập đến ảnh hưởng nhân vật lịch sử đối với
các sự kiện đó và đối với thời đại tuy chưa được quan tâm nhiều.
- Sách giáo khoa đã giới thiệu về các nhân vật trong mối quan hệ với quần
chúng nhân dân, trong mối quan hệ với các nhân vật khác và đời sống xã hội.
Như vậy, vấn đề về nội dung các nhân vật lịch sử được sách đề cập rất
muôn hình, muôn vẻ nhưng dù thế nào đi nữa thì nó vẫn nằm trong mối quan hệ
thời gian- không gian-sự kiện và kết quả các nhân vật xuất hiện là phù hợp yêu
cầu của xã hội lúc đó, thực tế hiện nay sách giáo khoa ở THPT dường như sách
chỉ đề cập đến các nhân vật tên tuổi, có ảnh hưởng lớn còn các nhân vật ít tên
tuổi thì dường như sách còn bỏ qua.
5
3. Vai trò, ý nghĩa của việc giảng dạy các nhân vật lịch sử trong
trường THPT.
Như ở phần đầu chúng ta đã đề cập bộ môn lịch sử ở trường THPT có rất
nhiều ưu thế trong việc giảng dạy và giáo dục học sinh, đặc biệt các nhân vật
lịch sử, đây là vấn đề mà nếu giáo viên biết dạy kết hợp sẽ đưa lại kết quả cao.
Về nhận thức: Giảng dạy các nhân vật lịch sử đúng về nội dung và
phương pháp sẽ giúp các em nhận thức được cốt lõi bài học, đánh giá đúng đắn
các nhân vật lịch sử. Chẳng hạn biểu hiện của các nhân vật trong cuộc cách
Bên cạnh đó sự xuất hiện các nhân vật phản diện, tất yếu sẽ gây nên sự
phản ứng ngược lại từ phía học sinh nó khơi gợi các em lòng căm thù hành vi
độc ác của các nhân vật. Từ đó hình thành các em lòng yêu cái thiện, bài trừ cái
độc ác xấu xa.
Về mặt phát triển: Nhìn chung các nhân vật lịch sử, tạo biểu tượng về
các nhân vật lịch sử là một trong những phương tiện quan trọng cho hoạt động
trí tuệ của học sinh không ngừng phát triển bởi vì trong “khi lĩnh hội những kiến
thức khoa học hình thành nhiệm vụ nhận thức đồng thời học sinh cũng phát triển
nhận thức của mình”
Tư duy học sinh phải có một thời gian hoàn thành, phát triển mới dần dần
hoàn thiện. Từ các chi tiết vụn vặt, từ các nhân vật lịch sử qua quá trình giảng
dạy, tìm hiểu sẽ giúp học sinh nhìn nhận tổng quát lại đem lại cách nhìn mới về
nhân vật, tức là từ quan điểm, cách nhìn nhận có thể là sai lầm lệch lạc không
đầy đủ tiến tới xây dựng những nhân vật, hình tượng rõ ràng mạch lạc. Có thể
phân biệt đúng sai, hạn chế, ưu điểm. Vì vậy các nhân vật lịch sử góp phần
không nhỏ vào việc phát triển tư duy học sinh.
Tuy vậy, học tập lịch sử là một quá trình lao động trí tuệ . Để có hình ảnh về
nhân vật lịch sử giáo viên phải tác động vào trí óc học sinh làm nảy nở nhu cầu
nhận thức của các em, tiếp đó giáo viên tổ chức các em nghiên cứu các nguồn tư
liệu, sử dụng đồ dùng trực quan từng bước làm cho các em nhận thức, hình
thành được các hình ảnh biểu tượng nhân vật lịch sử.
7
CHƯƠNG II:
MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM KHẮC HỌA CÁC NHÂN VẬT LỊCH
SỬ TRONG CHƯƠNG TRÌNH THPT.
1. Những yêu cầu cần chú ý:
nó có khả thi không. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này tôi mạnh dạn đưa
ra những biện pháp sư phạm nhằm giảng dạy tốt về vấn đề này.
2. Một số biện pháp sư phạm cụ thể
2.1 Để khắc sâu hình ảnh nhân vật,giúp học sinh có những biểu tượng cụ thể
về nhân vật thì trước hết học sinh phải biết “mặt mũi’’ nhân vật đó như thế nào, kết
hợp với những lời kể, mô tả học sinh mới dễ dàng hình dung về nhân vật “Từ trực
quan đến tư duy”. Tuy nhiên với kênh hình hiện nay trong SGK (sách giáo khoa)
không phải nhân vật nào cũng có hình ảnh minh họa, vậy giáo viên phải ứng dụng
công nghệ vi tính vào quá trình giảng dạy. Nhất là đối với những bài học mà nội
dung gắn liền với nhân vật lịch sử nhưng SGK lại không có hình ảnh thì giáo viên
có thể dùng máy chiếu để học sinh thấy hình ảnh nhân vật đó.
Chẳng hạn khi dạy bài 7 (lớp 10-cơ bản), mục 3- Vương triều Mô gôn, nội
dung gắn liền với vua A-cơ-ba, vị vua đưa ra chính sách cai trị tiến bộ, tích cực,
đưa Ấn Độ phát triển tới đỉnh cao của chế độ phong kiến. Tuy vậy SGK lại
không có hình ảnh của ông học sinh rất khó tưởng tượng. Cho nên giáo viên sử
dụng máy chiếu để học sinh có hình ảnh trực quan về A-cơ-ba.
Hoặc khi dạy mục d của mục 2 bài 16 (lớp 10-cơ bản) Ngô Quyền và
chiến thắng Bạch Đằng năm 938. Đây là chiến thắng có ý nghĩa lịch sử lớn, kết
thúc ách thống trị 1000 năm của phong kiến phương Bắc. Mở ra thời đại độc
lập, tự chủ lâu dài của dân tộc do Ngô Quyền lãnh đạo. Nếu giáo viên chỉ nói mà
không cho học sinh xem về hình ảnh của Ngô Quyền, không có biểu tượng về
Ngô Quyền thì học sinh rất khó nhớ về những đóng góp của ông trong lịch sử
dân tộc. Tuy nhiên SGK lại không có hình ảnh minh họa, vậy giáo viên có thể
tìm kiếm tranh vẽ Ngô Quyền hoặc dùng máy chiếu cho học sinh thấy, biết về
Ngô Quyền.
Ngoài ra giáo viên có thể cho học sinh xem các đoạn phim tư liệu, tuy
nhiên vì tiết học chỉ 45 phút nhưng kiến thức mà giáo viên chuyển tải, học sinh
9
10
quan sá t chân dung củ a Crôm Oen (hì nh 52 sgk) giá o viên có thể diễn đạt
một đoạn như sau: “Ôlivơ Crôm Oen (1599-1658) là một địa chủ hạ ng trung
thuộc tầng lớp quí tộc mới ,ông là người tầm thước vạm vỡ và rắn chắc, mái
tóc màu hạt dẻ , đôi mắt xám màu thép nhìn xuyên suốt, các mũi hơi to so
với các các đường nét khác trên khuôn mặt, tiếng nói vang vang, đanh thép.
Khi muốn người ta hiểu mình ông nói mạnh mẽ và có sức thuyết phục,
nhưng không hoa văn ...ăn mặc giản dị thường mặc chiếc áo dạ, cổ áo bằng
vải thô trắng, đầu đội chiếc mũ tồi tàn, luôn đeo kiếm bên mình” .Tôi tin
chắc rằng với lối diễn đạt như vậy kết hợp với hình ảnh trên máy chiếu học
sinh sẽ có một cách nhìn mới, sẽ hình dung được nhân vật Crôm Oen –một
con người có tài của giai cấp tư sản.
Trong việc sử dụng đồ dùng trực quan cần đáp ứng những yêu cầu của bài
đảm bảo tính chính xác tính thẩm mĩ, khoa học phù hợp đối tượng học sinh.
Tuy nhiên trong việc sử dụng đồ dùng trực quan cần chú ý:
- Cần khai thác tốt hình ảnh có trong SGK
Dẫn ra một ví dụ: Khi giảng bài 19 (lớp 11-cơ bản), mục 1nhỏ của III để
khắc họa cho học sinh về nhân vật Trương Định- tượng trưng cho tinh thần
chống Pháp của nhân dân Nam Kì, giáo viên hướng dẫn học sinh khai thác hình
51. Trương Định nhận phong soái. Sau khi cho học sinh xem hình 51 rồi nhận
xét hành động của Trương Định giáo viên kết luận: Trương Định (1820-1864)
quê ở Sơn Tịnh-Quảng Ngãi. Ông là người cao lớn, nước da trắng, dáng người
thanh tú. Ngay sau khi Pháp chiếm thành Gia Định (17/2/1859) ông đã đưa quân
đến đóng tại Thuận Kiều, phối hợp với quân đội chính quy của triều đình xung
phong đánh giặc.
Hoạ t độ n g mạ nh mẽ củ a nghĩ a quân Trương Đị n h là m cho giặ c Phá p
và triề u đì n h lo sợ . Triề u đì n h đã hạ lệ nh bắ t ông phả i bã i binh, hai lầ n
cực thực hiện biện pháp lâu dài –tăng gia sản xuất, giáo viên cho học sinh xem
hình ảnh Bác đang xới đất trồng rau. (Hình ảnh trên máy chiếu năm 1952)
- Sử dụng đồ dùng trực quan kết hợp với tường thuật, mô tả để tạo biểu
tượng về nhân vật lịch sử cho học sinh.
Tóm lại giữa giọng nói truyền cảm cần kết hợp sáng tạo đồ dùng trực quan
sẽ có tác dụng nhất định trong việc giáo dục , tạo biểu tượng về các nhân vật lịch sử
12
cho các em. Trong mối quan hệ này Kharlanop từng nhận xét “ Lời nói sinh động
của giáo viên kết hợp tính trực quan có hiệu quả to lớn trong dạy học”.
2.3 Thông qua việc để học sinh tìm hiểu về chân dung nhân vật. Từ đó tổ
chức cho học sinh tự trình bày hiểu biết của mình về các nhân vật cuối cùng giáo
viên đưa ra nhận xét kết luận
Căn cứ vào thực tiễn hiện nay thì đây là một trong những biện pháp khó
bởi vì một giờ học phổ thông chỉ có 45 phút trong khi đó sách và tài liệu lại
không được đầy đủ. Tuy vậy căn cứ vào thực tại và đặc điểm nhận thức của học
sinh tôi mạnh dạn đề ra phương pháp này. Để thực hiện phương pháp này một
cách có hiệu quả trong khâu chuẩn bị giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh tìm
hiểu những vấn đề gì?
- Ở mức độ đầu tiên cần tiếp nhận của học sinh là ngày, tháng, năm sinh,
năm mất, đôi nét về hoàn cảnh xuất thân, nội dung về thời đại lịch sử mà nhân
vật đó sống và hành động.
- Ở mức độ cao hơn học sinh cần tìm hiểu đó là nhân vật đó bắt đầu hoạt
động trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa ...từ khi nào? Thái độ, lập
trường, quan điểm chính trị, tư tưởng của nhân vật, những giai đoạn hoạt động
của nhân vật, thành công hay thất bại, ảnh hưởng của nhân vật đó vào thời đại
mà nhân vật sống.
Theo trình tự đó căn cứ vào đối tượng học sinh cho các em trình bày
tiết học kích thích tính chủ động, tích cực của học sinh để các em tiếp nhận kiến
thức hình thành biểu tượng về nhân vật lịch sử.
- Trước khi lên lớp giáo viên cần xây dựng cho mình một hệ thống
câu hỏi. Các bài tập nhận thức, câu hỏi trắc nghiệm nhằm phát triển tư
duy kích thích tinh thần học tập của học sinh. Tuy vậy trong biện phá p
này cần phải chú ý nguyên tắc vừa sức đối với từng đối tượng học sinh.
Một trong những yêu cầu của phương pháp này là giáo viên phải liên tục
tạo ra các tình huống có vấn đề, từ đó tổ chức cho các em giải quyết vấn
đề “ phải làm cho giờ học luôn luôn là một chuỗi liên tục của tình huống
có vấn đề, rồi vấn đề được giải quyết tức là được nhận thức và tình huống
mới lại xuất hiện ”.
14
Chẳng hạn khi dạy về buổi đầu hoạt động cứu nước của Nguyễn Ái Quốc
(1911-1918). Sau khi cho học sinh trình bày những hiểu biết của mình về
Nguyễn Ái Quốc, giáo viên có thể hỏi: Nguyễn Ái Quốc đã đi đâu để tìm đường
cứu nước? Vì sao Nguyễn Ái Quốc đi sang phương Tây mà không đi sang Trung
Quốc hay Nhật Bản như các vị tiền bối trước? Tiếp đó trong bài giảng của mình
giáo viên tùy từng trường hợp mà đặt ra các tình huống để học sinh giải quyết
sau đó kết luận.
- Giáo viên đưa ra câu hỏi áp dụng vào tiết học để kích thích tính chủ
động, tích cực của học sinh.
Ví dụ khi dạy mục II của bài 20 “Cuộc tiến công chiến lược Đông-Xuân
1953-1954” có thể sử dụng câu hỏi trắc nghiệm để vừa kiểm tra kiến thức cũ
,vừa củng cố kiến thức bài mới về các nhân vật.
Hãy xác định mối quan hệ giữa hai nhóm sự kiện A và B cho phù hợp:
A
chống Thanh, vai trò của ông thể hiện:
- Đoàn kết được toàn dân, huy động được sức mạnh của toàn dân tộc
đứng lên đánh giặc.
- Có tầm nhìn chiến lược, xây dựng kế hoạch đánh địch đúng đắn: chọn
thời điểm tấn công bất ngờ, hành quân thần tốc, sáng tạo, quyết liệt, dũng cảm
trong chiến đấu.
Việc Nguyễn Huệ lãnh đạo quân và dân ta đánh bại quân xâm lược Xiêm,
Thanh đã hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ vững chắc độc lập tổ quốc.
Bên cạnh các câu hỏi trên lớp, các bài tập nhận thức, bài tập thực hành
giáo viên còn có thể tự xây dựng cho mình một số khuôn mẫu qua đó nhận xét,
đánh giá học sinh.
2.5 Việc giảng dạy các nhân vật lịch sử phải gắn liền công tác ngoại khóa
thông qua đó củng cố thêm kiến thức cho học sinh
Tùy theo điều kiện của nhà trường và giáo viên mà trong các tiết học
ngoại khóa giáo viên sẽ củng cố thêm kiến thức- hình thành cách nhìn nhận về
nhân vật lịch sử .
Đối với bộ môn lịch sử Việt Nam đây là một ưu thế,áp dụng trong chương
trình lịch sử THPT, giáo viên có thể cho học sinh sưu tầm các tranh ảnh về nhân
vật lịch sử , cho học sinh đi tham quan các viện bảo tàng, các di tích lịch sử hoặc
gặp gỡ nhân chứng lịch sử để các em hiểu rõ hơn về nhân vật lịch sử .
16
Công tác ngoại khóa hiện nay đang bị giáo viên và nhà trường THPT sao
nhãng. Tìm hiểu, sưu tầm, tranh luận, đọc tài liệu về các nhân vật lịch sử nó sẽ
bổ sung rất lớn cho nội dung học chính khóa cho học sinh. Tuy vậy, giáo viên
cần chú ý “điều cốt yếu của việc tổ chức hoạt động nhận thức của học sinh ở nội
khóa cũng như ngoại khóa là đừng làm cho học sinh thụ động tiếp thu kiến thức
mà phải phát huy cao độ tính tích cực, tự giác của các em”.
“Phải chiến đấu như một người cộng sản
Trái tim lớn không sợ gì súng đạn!”
****
“Anh đã chết, Anh chẳng còn thấy nữa
Lửa kêu lửa, giữa miền Nam rực lửa
Như trái tim Anh, ôi lửa nào bằng
Phút cuối cùng, chói lọi khối sao băng...”
2.7 Giáo viên khắc sâu hình ảnh nhân vật bằng chính câu nói của nhân
vật. Sau nhiều năm giảng dạy tôi thấy đây cũng là một cách rất hiệu quả, học
sinh vừa dễ nhớ, vừa rất hứng thú.
Chẳng hạn khi dạy mục II của bài 19 (lớp 10-cơ bản) các cuộc kháng
chiến chống quân xâm lược Mông –Nguyên ở thế kỉ XIII. Giáo viên có thể khắc
họa nhân vật Trần Quốc Tuấn bằng chính câu trả lời của ông với Thượng hoàng
Thánh Tông “ Bệ hạ chém đầu tôi rồi hãy hàng ”. Hay Trần Bình Trọng khi bị
giặc bắt, chúng dụ dỗ mua chuộc ông, ông đã mắng lại chúng “ Ta thà làm ma
nước Nam chứ không thèm làm vương đất Bắc ”. Bằng những câu nói đó học
sinh không chỉ nhớ các vị tướng nhà Trần mà còn thấy được hào khí, quyết tâm
đánh giặc đến cùng của quân dân thời Trần.
Hay khi dạy mục 3 nhỏ của III, bài 19 (lớp 11-cơ bản) giáo viên có thể
khắc họa nhân vật Nguyễn Trung Trực bằng câu nói của ông “ Bao giờ người
Tây nhổ hết cỏ nước Nam thì mới hết người Nam đánh Tây”.
Hoặc khi dạy mục II của bài 22 (lớp 12-cơ bản) “ Mĩ tiến hành chiến tranh
bằng không quân và hải quân phá hoại Miền Bắc ”, giáo viên có thể khắc họa
hình ảnh Nguyễn Viết Xuân bằng lời hô đĩnh đạc tỏ rõ khí phách của anh “
nhằm thẳng quân thù, bắn ”, giữa làn bom đạn, tiếng hô dõng dạc của anh vang
18
lên trên trận địa đã trở thành khẩu hiệu khích lệ mạnh mẽ tinh thần quyết chiến,
-HS trả lời .
- Giáo viên có thể dừng lại điểm qua đôi nét
về nhân vật PBC kết hợp minh họa bức tranh
19
trong sách giáo khoa : PBC (1867-1940) ở thôn
Sa Nam, xã Đông Liệt, huyện Nam Đàn, Tỉnh
Nghệ An hiệu Sào Nam, tự Hải Thụ. Sinh trưởng
trong một gia đình nhà nho giàu truyền thống
yêu nước, quê hương lại là nơi có phong trào
chống xâm lược mạnh mẽ, ngay từ hồi trẻ PBC
đã sục sôi nhiệt tình cứu nước. Năm 17 tuổi khi
Pháp đánh Bắc Kì lần 2 (1882) nửa đêm ông viết
- Phan Bội Châu chủ trương “ Bình tây thu bắc” đem dán cây to bên đường cổ
dùng bạo động vũ trang đánh vũ nhân dân chống pháp. Năm 19 tuổi hưởng
đuổi thực dân Pháp giành ứng chiếu Cần Vương của Hàm Nghi ông đã tổ
độc lập. Ông tích cực tổ chức chức đội quân học trò ( thiếu sinh quân ) hơn 60
lực lượng ở trong nước và người nhưng chưa kịp hành động thì Pháp kéo
tranh thủ sự viện trợ từ bên tới càn quét, đội thiếu sinh quân giải tán . Tiếp
ngoài.
đến là 10 năm dạy học, tuyên truyền yêu nước,
-5/1904 PBC lập hội Duy giáo dục lớp thanh niên ưu tú, sẵn sàng xã thân
Tân.
vì tổ quốc.
lập Cộng hòa dân quốc Việt nước PBC chẳng khác nào “đuổi Hổ cửa trước,
Nam.
rước Beo cửa sau”
- 24/12/1913 PBC bị bắt
-Giáo viên hỏi: Bài học rút ra từ thực tế phong
-Phong
trào
yêu
nước trào là gì?
khuynh hướng Tư Sản do -Cho học sinh thảo luận trả lời rồi giáo viên kết
PBC lãnh đạo thất bại.
luận lại.
-Giáo viên kết luận.
+ Chủ trương bạo động là đúng nhưng cần phải
có sự chuẩn bị chu đáo.
+Chủ trương cầu viện bên ngoài cũng đúng
nhưng cầu viện Nhật Bản lại là sai bởi dù da
trắng hay da vàng thì bản chất của Chủ nghĩa đế
quốc là như nhau.
+ Cần xây dựng thực lực trong nước trên cơ sở
đó mà tranh thủ sự hỗ trợ quốc tế chân chính
chuẩn bị đầy đủ về mặt tinh thần cho cuộc đấu
tranh sắp tới.
* Trình bày được chủ trương và những hoạt động
của nhân vật PCT.
-GV có thể cho học sinh trình bày những hiểu
biết về nhân vật PCT?
-Sau đó GV giớí thiệu PCT kết hợp minh họa
tranh ảnh chân dung PCT trong SGK: PCT hiệu
22
Tây Hồ, biệt hiệu Huy Mã sinh năm 1872 ở làng
Tây Lộc, huyện Tiên Phước, phủ Tam Kỳ tỉnh
Quảng Nam.Cha là Phan Văn Bình một chức
quan nhỏ, sau 1885 theo phong trào Cần Vương,
mẹ là Lê Thị Chung, cũng thông hiểu chữ nghĩa.
Sau khi kinh thành Huế thất thủ (1885), cha ông
bị sát hại (1887) năm đó ông 16 tuổi.
1900 PCT đỗ cử nhân, sau 1901 đỗ phó bảng rồi
2.
Phan
(PCT)và
Châu
xu
Trinh vào học trường Hậu bổ, rồi ra làm quan chức
-Hình thức hoạt động:
tế ,văn hóa, xã hội. Đưa đất nước thoát khỏi
+Về kinh tế: chấn hưng thực nghèo nàn, lạc hậu rồi mới đánh đổ giặc ngoại
nghiệp, lập hội kinh doanh, xâm giải phóng dân tộc (cứu dân trước ,cứu nước
23
phát triển nghề làm vườn…
sau ). Nhưng PCT chủ trương dựa vào Pháp để
+Về văn hóa: Mở trường đánh đổ ngôi vua và bọn phong kiến hủ bại, xem
dạy học theo lối mới, diễn đó là điều kiện tiên quyết để giành độc lập, điều
thuyết các vấn đề VH-XH, này thể hiện tầm nhìn hạn hẹp của một sĩ phu
cổ vũ theo cái mới, vận động yêu nước như ông khác nào “xin giặc rủ lòng
cải cách trang phục và lối thương”. Ông chưa nhìn thấy bản chất của Chủ
sống (cắt tóc ngắn, mặc áo Nghĩa Thực dân nói chung, bản chất của kẻ thùngắn...)
- Cuộc vận động chuyển
Thực dân Pháp nói riêng.
Như vậy với hai xu hướng bạo động và cải
thành phong trào chống thuế cách trong phong trào yêu nước và cách mạng ở
1908 ở Trung kì. TD Pháp Việt Nam đầu thế kỉ XX Phan Bội Châu và Phan
đàn áp, dập tắt phong trào. Châu Trinh đã tiếp thu ánh sáng văn minh của
PCT cùng nhiều đồng chí thời đại, cũng như tìm những lực lương có thể hỗ
khác của ông bị bắt .
Nguyễn Thiện Thuật
Khởi nghĩa Hương Khê
Hoặc Giáo viên cho Học sinh về nhà làm bài tập :
* Phân tích sự giống và khác nhau giữa hai xu hướng bạo động và cải
cách đầu TK XX ( chủ trương và phương pháp ) để HS nắm rõ hơn về nhân vật
PBC và PCT.
25