LỜI NÓI ĐẦU
"Học đi đôi với hành, lấy kiến thức lí thuyết làm nền tảng để vận dụng vào
thực tế công việc. Đó là phương trâm học của học sinh, sinh viên trường Trường
cao Đẳng Sơn La,
Nhận được sự nhất trí của ban giám hiệu nhà trường và khoa Nông Lâm, và
chính quyền xã Nà Bó- huyện Mai Sơn - tỉnh Sơn La. Dưới sự hướng dẫn chi tiết
của cô giáo Phùng Thị Hương, bản thân em nhận thấy đây là một cơ hội quý báu
để em vận dụng lý thuyết đã học được ở trường vào công việc thực tế, đồng thời
nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ của bản thân ngày một vững trắc hơn.
Trong thời gian thực tập tốt nghiệp chuyên ngành địa chính môi trường và
quá trình viết báo cáo em đã tiếp thu được rất nhiều điều bổ ích về kiến thức cơ
bản cũng như chuyên môn nghiệp vụ đặc thù của chuyên ngành. Nhưng do thời
gian có hạn và trình độ tiếp thu kiến thức chưa cao nên bài báo cáo không thể tránh
khỏi những thiếu sót. Vậy em mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô
trong khoa Nông Lâm, để bản báo cáo của em được hoàn thiện hơn.
Cuối cùng em xin trân thành cảm ơn ban giám hiệu nhà trường và cùng toàn
bộ các thầy, cô trong khoa Nông Lâm. Đồng thời xin trân thành cảm ơn UBND xã
Nà Bó đã tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ em hoàn thành đợt thực tập tốt nghiệp
này này.
Em xin trân thành cảm ơn!
Mai Sơn, ngày 18 tháng 3 năm 2013
LÈO VĂN QUANG
1
PHẦN I: MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là tư liệu
sản xuất đặc biệt không thể thay thế được trong các ngành kinh tế quốc dân, là địa
Huyện Mai Sơn từ đó đề xuất những giải pháp phục vụ cho quá trình quản lý và sử
dụng đất đai hợp lý, khoa học và đạt hiệu quả cao trong thời gian tiếp theo.
1.3. Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá công tác quản lý nhà nước về đất đai của xã Nà Bó giai đoạn
2003 – 2012 theo 13 nội dung quy định trong luật đất đai 2003.
- Đánh giá sự hiểu biết của người dân và cán bộ của xã Nà Bó về công tác
quản lý nhà nước về đất đai.
1.4 .Ý nghĩa của đề tài
- Trong học tập và nghiên cứu khoa học: Củng cố kiến thức đã học và bước
đầu làm quen với công tác quản lý nhà nước về đất đai ngoài thực tế.
- Trong thực tiễn: Đề tài nghiên cứu tình hình quản lý nhà nước về đất đai từ
đó đưa ra những giải pháp giúp cho công tác quản lý nhà nước về đất đai của xã
được tốt hơn.
3
PHẦN II: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU26
2.1. Cơ sở khoa học và tính pháp lý của công tác quản lý nhà nƣớc về đất đai
2.1.1. Sơ lược lịch sử của ngành Địa chính và Quản lý nhà nước về đất đai qua
các thời kỳ
Đất đai là tài sản quốc gia, là yếu tố quan trọng thúc đẩy phát triển sản xuất
xã hội, cộng đồng và cũng là tư liệu sản xuất đặc biệt quan trọng của người sử
dụng đất. Tuy nhiên, đất đai là nguồn tài nguyên có hạn trong khi đó nhu cầu thì
ngày càng tăng, cùng với sức ép về dân số thì việc sử dụng đất cần tuân theo các
nguyên tắc hợp lý, tiết kiệm, bền vững. Từ yêu cầu cấp thiết trên, công tác địa
chính xuất hiện. Tại Việt Nam công tác địa chính được tiến hành từ thế kỷ thứ VI
bắt đầu bằng việc kiểm tra điền địa, trải qua các thời kỳ khác nhau nhưng đều ảnh
hưởng và có tác động trực tiếp đến việc quản lý sử dụng đất.
2.1.1.1. Thời kỳ phong kiến:
lập thành ba bản:
+ Bản “Giáp” nộp tại Đinh Bộ Hộ.
+ Bản “Bính” nộp tại Đinh Bộ Chánh.
+ Bản “Đinh” để tại xã.
Nhà Nguyễn còn ban hành bộ luật thứ hai của nước ta - Bộ Luật Gia Long.
Bộ luật này gồm 14 điều nhằm điều chỉnh mối quan hệ về nhà, đất, thuế lúa. Đây
là bộ Luật xác định quyền sở hữu tối cao của nhà vua về ruộng đất.
Thời kỳ Gia Long (1860): Nhà nước phong kiến đã tiến hành đo đạc, lập sổ
địa bạ cho từng xã với nội dung phân rõ công tư điền thổ, diện tích, tứ cận, định
dạng thuế.
2.1.1.2. Thời kỳ Pháp thuộc
Chúng chia nước ta thành ba kỳ để cai trị:
* Ở Nam Kỳ: Sở địa chính được thành lập năm 1867 và bắt đầu lập nền tam
giác đạc từ 1871 – 1895, ở các tỉnh có trắc địa viên làm bao đạc cho từng làng và
lập biểu thuế điền thổ.
5
Từ năm 1896, Sở Địa chính dưới đặc quyền của Thống đốc Nam Kỳ đã tiến
hành làm bản đồ giải thửa. Đến năm 1930, hầu hết các tỉnh Nam Kỳ đã đo đạc
xong bản đồ giải thửa ở tỷ lệ 1/4000, 1/2000 và 1/500.
Từ 1911 các tư liệu địa chính phải lưu trữ ở các Phòng Quản lý địa bộ. Các
Tỉnh trưởng đảm nhiệm việc quản thủ địa bộ cho người trong nước, còn Pháp và
ngoại kiều khác có chế độ Đế đương do Ty bảo vệ quyền sở hữu theo luật
napoleon.
* Tại Trung Kỳ: Để có căn cứ tính thuế, từ năm 1806 đã tiến hành đo đạc
đơn giản để lập địa bộ.
Ngày 26/4/1930, Khâm sứ Trung Kỳ ban hành Nghị quyết số 1358 lập Sở
Bảo tồn điền trạch, sau đổi thành Sở Quản thủ địa chính.
theo Nghị định số 495/NĐ – DBSP ngày 02/8/1955 và trụ sở được đặt tại Đà Lạt.
* Từ năm 1956 đến năm 1959: Ngày 14/12/1955, tuyên bố xoá bỏ tư cách
pháp nhân của các “phần” và thành lập Nha tổng giám đốc địa chính và địa hình
theo Nghị định số 01/ĐTCC – NĐ ngày 21/1/1957 để thi hành chính sách về điền
địa và nông nghiệp.
* Từ năm 1960 đến năm 1975: Ngày 01/12/1959, Bộ trưởng điền thổ và cải
cách điền địa đã ban hành Nghị định số 211/HĐBT/NĐ thiết lập tổng nha điền địa.
2.1.1.4. Thời kỳ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà và Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam
Cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hoà
ra đời, ngành Địa chính từ Trung ương đến cơ sở được duy trì và củng cố. Chính
sách đất đai thời kỳ này mang tính chất “chấn hưng nông nghiệp”. Hàng loạt các
Thông tư, Nghị định,... được ban hành nhằm tăng cường hiệu quả sử dụng đất
nông nghiệp, tránh lãng phí đất đai.
Ngày 02/02/1947, ngành địa chính được sát nhập vào ngành canh nông;
Ngày 18/6/1949, thành lập Nha địa chính trong Bộ Tài chính, toàn bộ các
cán bộ địa chính được đưa đi làm thuế nông nghiệp;
Tháng 7/1949, Chính phủ ra Sắc lệnh số 78/SL quy định giảm 25% địa tô;
7
Theo sắc lệnh số 40/SL, ngày 13/7/1951, ngành địa chính chính thức hoạt
động theo chuyên ngành;
Ngày 05/3/1952, Chính phủ ban hành điều lệ tạm thời về việc sử dụng công
điền, công thổ chia cho người nghèo;
Ngày 14/12/1953, Quốc hội thông qua “Luật cải cách ruộng đất”;
Ngày 19/12/1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 179/SL ban hành
luật cải cách ruộng đất, nhằm đánh đổ hoàn toàn chế độ phong kiến, thực hiện triệt
để khẩu hiệu “người cày có ruộng”. Nhà nước thực hiện hình thức tịch thu, trưng
thu, trưng mua ruộng đất theo từng đối tượng sở hữu đất đai khác nhau để chia cho
quan trực thuộc Chính phủ thực hiện tổ chức quản lý nhà nước về đất đai.
Theo thông tư số 470/TT-TCĐC ngày 18/7/1994 thì hệ thống tổ chức quản
lý Nhà nước về đất đai ở địa phương trực thuộc UBND các cấp gồm: Sở Địa chính
trực thuộc UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Phòng Địa chính trực
thuộc UBND huyện, quận, Thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh; Cán bộ địa chính xã
trực thuộc UBND xã, thị trấn.
Ngày 05/8/2002, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá
XI, kỳ họp thứ nhất thông qua Nghị quyết số 02/2002/QH 11 quy định danh sách
các bộ và cơ quan ngang bộ của Chính phủ, trong đó có Bộ Tài nguyên và Môi
trường.
Ngày 26/11/2003, Luật đất đai ra đời trên cơ sở khắc phục những ách tắc,
trở ngại trong quản lý sử dụng đất. Theo điều 6, Luật đất đai 2003, quản lý Nhà
nước về đất đai bao gồm 13 nội dung. Để triển khai thi hành Luật đất đai 2003,
nhằm nhanh chóng đưa Luật đất đai vào áp dụng thực tiễn cuộc sống thì Chính phủ
và Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ra hàng loạt các văn bản, Nghị định, Chỉ thị,
và các Thông tư,…hướng dẫn thi hành luật đất đai, tạo ra những chuyển biến rõ rệt
trong quản lý và sử dụng đất.
2.1.2. Cơ sở khoa học và căn cứ pháp lý của công tác quản lý sử dụng đất
2.1.2.1. Cơ sở lý luận
Để một hệ thống quản lý đất đai tốt phải đảm bảo được các mục tiêu sau:
9
- Trên cơ sở ban hành và tổ chức thực hiện pháp luật đất đai nhằm tạo cơ sở
pháp lý đảm bảo quyền sở hữu nhà nước về đất đai (quyền giao đất, cho thuê đất,
thu hồi đất, hướng dẫn, thanh tra xử lý vi phạm pháp luật, quy hoạch, kế hoạch sử
dụng đất …) và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất, góp phần
giả quyết tốt mọi tranh chấp đất đai tạo cơ sở vững chắc cho việc tính thuế đất và
thuế bất động sản.
- Phát triển và quản lý tốt thị trường bất động sản bao gồm cả hệ thống thế
- Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về việc
bồi thường hỗ trợ tái định cư khi nhà nước thu hồi đất;
- Nghị định số 84/2007NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ về quy định
bổ sung cấp GCNQSDĐ, thu hồi đất, thực hiện QSDĐ, trình tự, thủ tục bồi
thường, hỗ trợ tái định cư khi nhà nước thu hồi và giải quyết khiếu nại;
- Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 của Chính phủ quyết định
bổ xung về quy hoạch sử dụng đất, bồi thường, hỗ trợ tái định cư;
- Quyết định số 04/2005/QĐ-BTNMT ngày 30/6/2005 của Bộ Tài nguyên
và Môi trường ban hành quy trình lập và điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng
đất;
- Quyết định số 08/2004/QĐ-BTNMT ngày 21/7/2006 của Bộ Tài nguyên
và Môi trường về việc ban hành quy định về cấp GCNQSDĐ;
- Thông tư số 29/TT-BTNMT ngày 01/11/2004 của Bộ Tài nguyên và Môi
trường hướng dẫn lập, chỉnh lý và quản lý hồ sơ địa chính;
- Thông tư số 09/ 2007/TT-BTNMT ngày 02/8/2007 về việc hướng dẫn việc
lập, chỉnh lý, quản lý hồ sơ địa chính;
- Thông tư số 08/2007/TT-BTNMT ngày 02/8/2007 của Bộ Tài nguyên và
Môi trường về việc hướng dẫn thực hiện thống kê, kiểm kê đất đai và xây dựng
bản đồ hiện trạng sử dụng đất;
Để tạo cơ sở vững chắc cho công tác quản lý nhà nước về đất đai, tại điều 6
luật đất đai năm 2003 nêu rõ các nội dung quản lý nhà nước về đất đai như sau:
11
+ Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và
tổ chức thực hiện các văn bản đó;
+ Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập
bản đồ hành chính;
+ Khảo sat, đo đạc, đánh giá, phân hạng đất; lập bản đồ địa chính, bản đò
văn bản đó về cơ bản đã giải quyết được các quan hệ đất đai, góp phần thúc đẩy
kinh tế phát triển, ổn định chính trị.
2.3.1.1. Công tác xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa chính, lập
bản đồ hành chính
Để giúp cho các địa phương có cơ sở pháp lý thực hiện công tác quản lý nhà
nước về đất đai nói riêng và quản lý hành chính nhà nước trên mọi lĩnh vực, cung
cấp tài liệu cho các ngành khác…Trong hoạt động phát triển thì công tác xác định
địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản đồ địa chính
có ý nghĩa rất quan trọng. Công tác xác định địa giới hành chính hàng năm được
Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm. Thực hiện Chỉ thị 364/CT-HĐBT ngày
06/11/1994 của Thủ tướng Chính phủ, nhà nước ta đã tiến hành đo đạc và cắm mốc
địa giới hành chính trên toàn lãnh thổ và cho đến nay công việc về cơ bản đã thực
hiện xong. Các mốc địa giới đã được cắm mốc từ các mốc địa giới quốc gia đến
các mốc địa giới cấp tỉnh, huyện, xã. mốc địa giới này là cơ sở lập hồ sơ địa chính
và lập bản đồ hành chính.
2.3.1.2. Công tác khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân hạng đất, lập bản đồ địa chính,
bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất
Trong lĩnh vực đo đạc bản đồ, hệ thống ảnh hàng không, ảnh vệ tinh đã bao
trùm, cả nước đã thực hiện được hơn 80 % diện tích, một mặt đáp ứng công tác đo
vẽ bản đồ địa hình, mặt khác sử dụng để thành lập nền bản đồ địa chính. Hệ thống
bản đồ địa hình tỷ lệ 1/50000 trùm phủ cả nước và 1/25000 trùm phủ các khu vực
kinh tế trọng điểm cùng với hơn 50% khối lượng bản đồ công nghệ số đã được
hoàn thành. Hệ quy chiếu quốc gia VN-2000, hệ thống các điểm toạ độ, độ cao nhà
nước đã hoàn thành và được thủ tướng chính phủ ra quyết định đưa vào sử dụng từ
13
ngày 12/9/2000. Đến nay đã hoàn thành và bàn giao lưới toạ độ hạng III cho tất cả
các tỉnh, thành phố và hoàn thành đo vẽ 20 mảnh bản đồ địa hình đáy biển tỷ lệ
1/50000 khu vực Quảng Ninh - Hải Phòng và khu vực Bình Trị Thiên phục vụ hiệp
2.3.2. Tình hình quản lý sử dụng đất trên toàn địa bàn tỉnh Sơn La từ khi có
luật đất đai năm 2003 đến nay
Sơn la là một tỉnh miền núi phía bắc nông nghiệp luôn chiếm một vị trí quan
trọng trong cơ cấu kinh tế của tỉnh, trong khi đó diện tích đất sản xuất nông nghiệp
bình quân đầu người thấp.
Trong công tác quản lý Nhà nước về đất đai, tỉnh Sơn La đã đạt được những
kết quả sau:
* Về xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính,
lập bản đồ địa chính của tỉnh được tiến hành đầy đủ. Ranh giới hành chính tỉnh
được xác định bằng các yếu tố địa vật, được cắm mốc giới rõ ràng. Hiện nay tỉnh
đã hoàn thành BĐHC và HSĐGHC, hàng năm các mốc giới đều được kiểm tra,
nếu phát hiện hỏng hóc hoặc bị phá huỷ đều được xử lý và thay thế kịp thời.
* Công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất: Đến năm 2000 tỉnh đã
hoàn thành việc lập quy hoạch giai đoạn 2001-2010, kế hoạch sử dụng đất 20012005, kế hoạch 2006-2010. Đồng thời năm 2005-2009 tỉnh đã tiến hành đo đạc
thành lập bản đồ địa chính cho 5 huyện là Phù Yên, Thuận Châu, Mường La,
Quỳnh Nhai và Sông Mã do đó số liệu có nhiều biến động UBND tỉnh đã chỉ đạo
trong kỳ quy hoạch 2011-2020 sẽ sử dụng số liệu sau đo đạc để làm cơ sở cho
công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
* Công tác cấp giấy CNQSD đất: Nhìn chung công tác cấp giấy CNQSD đất
của tỉnh về cơ bản tương đối ổn định nhưng vẫn còn chậm, trong thời gian tới cần
phải tiếp tục đẩy mạnh hơn.
* Công tác giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất: Hàng năm xét từ nguồn quỹ
đất của địa phương cũng như nhu cầu sử dụng đất của các tổ chức và người dân có
nhu cầu sử dụng đất và đủ điều kiện giao đất, cho thuê đất, UBND tỉnh vẫn ký
quyết định cho các tổ chức thuê đất và chỉ đạo các huyện cho người dân thuê đất
15
cũng như giao đất cho người dân sử dụng, tính đến năm 2003 tỉnh đã cơ bản hoàn
thành công tác giao đất nông nghiệp, giao rừng tự nhiên cho người dân sử dụng
đo đạc và lập hồ sơ địa chính cho đất nông nghiệp và đã hoàn thành công tác đo
đạc địa chính toàn xã. Đây là cơ sở quan trọng cho công tác quản lý và sử dụng đất
đai trên địa bàn xã nhằm nâng cao năng lực sản xuất trong nông nghiệp và thực
hiện công tác quản lý Nhà nước về đất đai.
Uỷ ban nhân dân xã đã căn cứ vào quy định của Luật đất đai năm 2003, các
văn bản hướng dẫn của nhà nước và căn cứ vào nghị quyết về kế hoạch sử dụng
đất hàng năm được Hội đồng nhân dân xã thông qua để giải quyết hồ sơ xin giao
đất, cho thuê đất cho các cá nhân, tổ chức một cách nhanh chóng thuận lợi.
Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp toàn xã đạt 75%;
tỷ lệ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở đến nay trên địa bàn xã đạt trên
95%. Đang tiến hành lập hồ sơ thủ tục để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
cho các hộ gia đình còn lại.
Thực hiện Nghị định 181/NĐ-CP, Ủy ban nhân dân xã có trách nhiệm theo
dõi việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất tại địa phương. Đã đưa việc lập
kế hoạch sử dụng đất hàng năm vào thực tiễn có hiệu quả, đáp ứng được nhu cầu
sử dụng đất cho các mục đích của địa phương
2.3.4. Tình hình quản lý và sử dụng đất đai trên toàn xã Nà Bó- Mai Sơn
- Trình bày quỹ đất và tính hình biến động trong năm giữa 3 nhóm đất và
trong nội bộ nhóm đất nông nghiệp:
1. Đất nông nghiệp
- Với quỹ đất chưa sử dụng dồi dào, diện tích đất trồng cây hàng năm tăng
lên nhanh chóng tăng 146,44 ha do chuyển từ đất rừng sản xuất.
- Thực hiện chủ chương của huyện tỉnh, trong giai đoạn này diện tích rừng
phòng hộ tăng 1.465,08 ha, chủ yếu lấy từ đất đồi núi chưa sử dụng (1.364,92) và
do chuyển từ đất rừng sản xuất (100,16 ha), trong kỳ có 9,96 ha đất rừng phòng hộ
được chuyển sang đất ở.
2. Đất phi nông nghiệp
17
PHẦN III: NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu
Công tác quản lý nhà nước về đất đai của xã Nà Bó – Huyện Mai Sơn –
Tỉnh Sơn La giai đoạn từ năm 2003 đến năm 2012.
3.1.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu trong giới hạn 13 nội dung quản lý nhà nước về đất
đai được quy định trong Luật Đất Đai năm 2003.
3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành
Đề tài nghiên cứu tại UBND xã Nà Bó – Huyện Mai Sơn – tỉnh Sơn La từ
ngày 18/02/2013 đến ngày 28/04/2013
3.3. Nội dung nghiên cứu
- Đánh giá công tác quản lý đất đai theo 13 nội dung quản lý đất Nhà nước
về đất đai của Xã Nà Bó - Huyện Mai Sơn giai đoạn 2003 – 2012 cụ thể như sau:
1. Công tác ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng
đất đai và tổ chức thực hiện các văn bản đó.
2. Công tác xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành
chính, lập bản đồ hành chính.
3. Công tác khảo sát, đo đạc, đánh giá phân hạng đất đai, lập bản đồ hành
chính, bản đồ hiên trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sư dụng đất.
4. Công tác quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
5. Công tác quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích
sử dụng đất.
6. Công tác đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
7. Công tác thống kê, kiểm kê đất đai.
8. Công tác quản lý tài chính về đất đai.
19
- Phương pháp phân tích, xử lý số liệu thông qua phần mềm tin học excel;
đối chiếu, so sánh với các quy định hiện hành trong luật.
21
PHẦN IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội
4.1.1. Điều kiện tự nhiên
4.1.1.1. Vị trí địa lý
Nà bó là một xã vùng một của huyện Mai Sơn tỉnh Sơn La, UBND xã nằm
tại bản Nà Bó cách trung tâm huyện lỵ Mai Sơn 8 km về phía bắc.
Theo Địa giới hành chính được thành lập theo chỉ thị 364-CP, Nà Bó giáp
ranh với các xã sau:
+ Phía Bắc : Giáp xã Chiềng Chăn và xã Tà Hộc - Huyện Mai Sơn.
+ Phía Nam : Giáp xã Hát Lót và Thị Trấn Hát Lót - Huyện Mai Sơn.
+ Phía Đông: Giáp xã Cò Nòi - Huyện Mai Sơn.
+ Phía Tây : Giáp xã Mường Bằng và Mường Bon huyện Mai Sơn.
4.1.1.2. Địa hình - Địa mạo
Nà Bó có nhiều dãy núi chạy theo hướng Đông Nam-Tây Bắc tạo ra nhiều
dạng địa hình xen kẽ nhau:
Đất bằng và đồi dốc thoải tập trung phần lớn ở trung tâm xã, thung lũng và
đồi núi dốc tập trung ở phía Nam của xã.
Độ cao trung bình từ 550 - 650m so với mực nước biển, xung quanh là các
dãy núi cao trung tâm xã là vùng đồng bằng xen đồi thấp, hướng dốc từ Đông Nam
xuống Tây Bắc.
4.1.1.3 Khí hậu
Theo số liệu của Đài khí tượng thuỷ văn khu vực Tây Bắc, Nà Bó nằm trong
hộ và 174,08 ha đất có rừng trồng phòng hộ.
* Tài nguyên nhân văn
Nà Bó có nền văn hoá lâu đời mang đậm bản sắc văn hoá của miền núi Bắc
Bộ. Nhân dân trong xã luôn thể hiện tinh thần tương thân, tương ái, vượt qua khó
khăn thử thách trong công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Cộng đồng các dân
tộc trong xã đoàn kết, gắn bó chung sống từ lâu đời, trong đó: Chủ yếu là dân tộc
23
thái chiếm 74,47%, dân tộc kinh chiếm 31,23% còn lại là dân tộc H'mông chiếm
4,3%.
4.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội
4.1.2.1. Dân số, mức độ tăng trưởng trong năm
a) Dân số
Công tác dân số kết hợp lồng ghép các dịch vụ kế hoạch hoá gia đình được
duy trì thường xuyên. Kết quả, tỷ suất sinh hàng năm đều giảm, tỷ lệ tăng dân số tự
nhiên giảm còn 1.5%. Tuy nhiên, việc giảm tỷ xuất sinh hằng năm chưa được vững
chắc, tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên giảm chậm.
Theo số liệu thống kê đến năm 2012, dân số toàn xã là 8.157 người với
3.127 hộ gia đình (quy mô hộ: 9,57 người/hộ). Mật độ dân số trung bình trong toàn
xã là 930 người/km2.
Bảng .4.1.Tình hình dân số- Mức độ tăng trưởng trong năm
Chỉ tiêu
Đơn vị
1.Tổng số nhân khẩu
Người
Lao động
967
9.87
14,20
14,42 14.77
Lao động
789
8,69
5.02
4,27
b. Thành phần dân tộc
- Dân tộc Thái chiếm:
72,04 %
- Dân tộc Kinh chiếm:
21,5 %
- Dân tộc Mông:
Các tuyến giao thông chính:
- Nà Sản-Hát Lót
- Bản Dôm-Nà Bó-Mường Bằng I
- Nà Bó – Chiềng Sung - Tà Hộc
- Cà Nòi- Hát Lót -Nà Bó -Chiềng Chăn
4.1.2.3. Cơ cấu và tốc độ tăng trưởng kinh tế trong năm 2012
Năm 2012 tổng sản lượng lương thực có hạt đạt khoảng 2800 tấn, bình quân
thu nhập trên dầu người đạt 8,3 triệu đồng/năm. Lương thực bình quân trên đầu
người đạt trên 650 kg/năm/người. An ninh lương thực được bảo đảm.
Đẩy nhanh tốc độ chuyên dịch cơ cấu kinh tế theo hướng nông nghiệp - dịch
vụ - tiểu thủ công nghiệp, đẩy nhanh phát triển chăn nuôi so với trồng trọi, nâng
cao năng xuất, chất lượng sản phẩm với khối lượng hàng hoá lớn, tập chung: Mở
rộng các hoạt động dịch vụ tăng thu nhập cho ngân sách, thực hiện chính sách thu
hút đầu tư, làm tốt công tác giải phóng mặt bằng thực hiện đón dân tái định cư thuỷ
điện Sơn La.
25