Đánh giá tình hình sử dụng đất tại phường chiềng sinh TP sơn la giai đoạn 2003 2012 - Pdf 34

LỜI NÓI ĐẦU
"Học đi đôi với hành”, lấy kiến thức lí thuyết làm nền tảng để vận dụng

vào thực tế công việc. Đó là phương châm học của học sinh, sinh viên trường
Trường Cao Đẳng Sơn La.
Nhận được sự nhất trí của ban giám hiệu nhà trường và khoa nông Lâm,
và UBND phường Chiềng Sinh - TP Sơn La. Dưới sự hướng dẫn chi tiết của cô
giáo Phùng Thị Hương, bản thân em nhận thấy đây là một cơ hội quý báu để
em vận dụng lý thuyết đã học được ở trường vào công việc thực tế, đồng thời
nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ của bản thân ngày một vững chắc hơn.
Trong thời gian thực tập tốt nghiệp chuyên ngành địa chính môi trường
và quá trình viết báo cáo em đã tiếp thu được rất nhiều điều bổ ích về kiến thức
cơ bản cũng như chuyên môn nghiệp vụ đặc thù của chuyên ngành. Nhưng do
thời gian có hạn và trình độ tiếp thu kiến thức chưa cao nên bài báo cáo không
thể tránh khỏi những thiếu xót. Vậy em mong nhận được sự đóng góp ý kiến
của các thầy cô trong khoa Lâm nông, để bản báo cáo của em được hoàn thiện
hơn.
Cuối cùng em xin trân thành cảm ơn ban giám hiệu nhà trường và cùng
toàn bộ các thầy, cô trong khoa nông Lâm. Đồng thời xin trân thành cảm ơn
UBND phường Chiềng Sinh - TP Sơn La đã tạo điều kiện thuận lợi và giúp đỡ
em hoàn thành đợt thực tập tốt nghiệp này này.
Em xin trân thành cảm ơn!
Chiềng Sinh, ngày 19 tháng 3 năm 2013

CÀ VĂN HÙNG

1


PHẦN I: MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề

1.2 Mục đích nghiên cứu
Đánh giá, thực trạng công tác quản lý nhà nước về đất đai của phường
Chiềng Sinh - TP Sơn La từ đó đề xuất những giải pháp phục vụ cho quá trình
quản lý và sử dụng đất đai hợp lý, khoa học và đạt hiệu quả cao trong thời gian
tiếp theo.
1.3. Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá công tác quản lý nhà nước về đất đai của phường Chiềng Sinh
- TP Sơn La giai đoạn 2003 – 2012 theo 13 nội dung quy định trong luật
đất đai 2003.
- Đánh giá sự hiểu biết của người dân và cán bộ của phường Chiềng Sinh - TP
Sơn La về công tác quản lý nhà nước về đất đai.
1.4 .Ý nghĩa của đề tài
- Trong học tập và nghiên cứu khoa học: Củng cố kiến thức đã học và
bước đầu làm quen với công tác quản lý nhà nước về đất đai ngoài thực tế.
- Trong thực tiễn: Đề tài nghiên cứu tình hình quản lý nhà nước về đất đai
từ đó đưa ra những giải pháp giúp cho công tác quản lý nhà nước về đất đai của
phường được tốt hơn.

3


PHẦN II: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1. Cơ sở khoa học và tính pháp lý của công tác quản lý nhà nƣớc về đất
đai
2.1.1. Sơ lược lịch sử của ngành Địa chính và Quản lý nhà nước về đất đai
qua các thời kỳ
Đất đai là tài sản quốc gia, là yếu tố quan trọng thúc đẩy phát triển sản
xuất xã hội, cộng đồng và cũng là tư liệu sản xuất đặc biệt quan trọng của người
sử dụng đất. Tuy nhiên, đất đai là nguồn tài nguyên có hạn trong khi đó nhu cầu
thì ngày càng tăng, cùng với sức ép về dân số thì việc sử dụng đất cần tuân theo

sách “hạn điền”. Nhà nước chính thức tuyên bố hàng loạt đạo dụ và theo luật
quân điền thời Hồng Đức ban hành năm 1481 “Đất đai là tài sản Nhà nước”.
Thời kỳ nhà Nguyễn (1802 – 1808) đã hoàn tất việc lập sổ địa bạ cho
18.000 xã từ Mục Nam Quan đến Mũi Cà Mau, bao gồm 10.004 tập. Địa bạ
được lập thành ba bản:
+ Bản “Giáp” nộp tại Đinh Bộ Hộ.
+ Bản “Bính” nộp tại Đinh Bộ Chánh.
+ Bản “Đinh” để tại xã.
Nhà Nguyễn còn ban hành bộ luật thứ hai của nước ta - Bộ Luật Gia
Long. Bộ luật này gồm 14 điều nhằm điều chỉnh mối quan hệ về nhà, đất, thuế
lúa. Đây là bộ Luật xác định quyền sở hữu tối cao của nhà vua về ruộng đất.
Thời kỳ Gia Long (1860): Nhà nước phong kiến đã tiến hành đo đạc, lập
sổ địa bạ cho từng xã với nội dung phân rõ công tư điền thổ, diện tíc h, tứ cận,
định dạng thuế.
2.1.1.2. Thời kỳ Pháp thuộc
Chúng chia nước ta thành ba kỳ để cai trị:
* Ở Nam Kỳ: Sở địa chính được thành lập năm 1867 và bắt đầu lập nền
tam giác đạc từ 1871 – 1895, ở các tỉnh có trắc địa viên làm bao đạc cho từng
làng và lập biểu thuế điền thổ.
5


Từ năm 1896, Sở Địa chính dưới đặc quyền của Thống đốc Nam Kỳ đã
tiến hành làm bản đồ giải thửa. Đến năm 1930, hầu hết các tỉnh Nam Kỳ đã đo
đạc xong bản đồ giải thửa ở tỷ lệ 1/4000, 1/2000 và 1/500.
Từ 1911 các tư liệu địa chính phải lưu trữ ở các Phòng Quản lý địa bộ.
Các Tỉnh trưởng đảm nhiệm việc quản thủ địa bộ cho người trong nước, còn
Pháp và ngoại kiều khác có chế độ Đế đương do Ty bảo vệ quyền sở hữu theo
luật napôlêôn.
* Tại Trung Kỳ: Để có căn cứ tính thuế, từ năm 1806 đã tiến hành đo đạc

421/NĐPC ngày 03/3/1955, có giám đốc phụ trách. Ở mỗi tỉnh, tuỳ theo yêu
cầu công việc có Ty hay Phòng, Ban lao động để làm công tác địa chính.
Tại Cao nguyên Trung Kỳ, Nha địa chính vùng Cao nguyên được thành
lập theo Nghị định số 495/NĐ – DBSP ngày 02/8/1955 và trụ sở được đặt tại
Đà Lạt.
* Từ năm 1956 đến năm 1959: Ngày 14/12/1955, tuyên bố xoá bỏ tư cách
pháp nhân của các “phần” và thành lập Nha tổng giám đốc địa chính và địa hình
theo Nghị định số 01/ĐTCC – NĐ ngày 21/1/1957 để thi hành chính sách về
điền địa và nông nghiệp.
* Từ năm 1960 đến năm 1975: Ngày 01/12/1959, Bộ trưởng điền thổ và
cải cách điền địa đã ban hành Nghị định số 211/HĐBT/NĐ thiết lập tổng nha
điền địa.
2.1.1.4. Thời kỳ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà và Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam
Cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng
hoà ra đời, ngành Địa chính từ Trung ương đến cơ sở được duy trì và củng cố.
Chính sách đất đai thời kỳ này mang tính chất “chấn hưng nông nghiệp”. Hàng
loạt các Thông tư, Nghị định,... được ban hành nhằm tăng cường hiệu quả sử
dụng đất nông nghiệp, tránh lãng phí đất đai.
Ngày 02/02/1947, ngành địa chính được sát nhập vào ngành canh nông;
7


Ngày 18/6/1949, thành lập Nha địa chính trong Bộ Tài chính, toàn bộ các
cán bộ địa chính được đưa đi làm thuế nông nghiệp;
Tháng 7/1949, Chính phủ ra Sắc lệnh số 78/SL quy định giảm 25% địa
tô;
Theo sắc lệnh số 40/SL, ngày 13/7/1951, ngành địa chính chính thức hoạt
động theo chuyên ngành;
Ngày 05/3/1952, Chính phủ ban hành điều lệ tạm thời về việc sử dụng

Luật đất đai ngày 14/7/1993, Nhà nước khẳng định đất đai thuộc sở hữu
toàn dân do nhà nước thống nhất quản lý, đất đai được giao ổn định lâu dài cho
tổ chức, hộ gia đình, cá nhân.
Quyết định số 12/QĐ-CP của Chính phủ, ngày 22/02/1994 về việc thành
lập Tổng cục Địa chính trên cơ sở hợp nhất và tổ chức lại Tổng cục Quản lý
ruộng đất và Cục đo đạc và bản đồ Nhà nước.
Nghị định số 34/NĐ-CP của Chính phủ, ngày 23/4/1994 quy định chức
năng, quyền hạn và nhiệm vụ của Tổng cục Địa chính. Tổng cục Địa chính là cơ
quan trực thuộc Chính phủ thực hiện tổ chức quản lý nhà nước về đất đai.
Theo thông tư số 470/TT-TCĐC ngày 18/7/1994 thì hệ thống tổ chức
quản lý Nhà nước về đất đai ở địa phương trực thuộc UBND các cấp gồm: Sở
Địa chính trực thuộc UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Phòng Địa
chính trực thuộc UBND huyện, quận, Thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh; Cán bộ
địa chính xã trực thuộc UBND xã, xã, thị trấn.
Ngày 05/8/2002, Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
khoá XI, kỳ họp thứ nhất thông qua Nghị quyết số 02/2002/QH 11 quy định
danh sách các bộ và cơ quan ngang bộ của Chính phủ, trong đó có Bộ Tài
nguyên và Môi trường.
Ngày 26/11/2003, Luật đất đai ra đời trên cơ sở khắc phục những ách tắc,
trở ngại trong quản lý sử dụng đất. Theo điều 6, Luật đất đai 2003, quản lý Nhà
nước về đất đai bao gồm 13 nội dung. Để triển khai thi hành Luật đất đai 2003,
9


nhằm nhanh chóng đưa Luật đất đai vào áp dụng thực tiễn cuộc sống thì Chính
phủ và Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ra hàng loạt các văn bản, Nghị định,
Chỉ thị, và các Thông tư,…hướng dẫn thi hành luật đất đai, tạo ra những chuyển
biến rõ rệt trong quản lý và sử dụng đất.
2.1.2. Cơ sở khoa học và căn cứ pháp lý của công tác quản lý sử dụng đất
2.1.2.1. Cơ sở lý luận

ruộng đất về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;
- Nghị định số 64/NĐ-CP ngày 02/ 9 /1993 của Chính phủ quy định về
việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào
mục đích sản xuất nông nghiệp;
- Nghị định số 02/NĐ-CP năm 1994 quy định về giao đất lâm nghiệp.
- Thông tư số 364/TT-TCĐC ngày 16/3/1998 của Tổng cục Địa chính về
hướng dẫn thủ tục đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính và cấp GCNQSDĐ.
- Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về việc
bồi thường hỗ trợ tái định cư khi nhà nước thu hồi đất.
- Nghị định số 84/2007NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ về quy
định bổ sung cấp GCNQSDĐ, thu hồi đất, thực hiện QSDĐ, trình tự, thủ tục bồi
thường, hỗ trợ tái định cư khi nhà nước thu hồi và giải quyết khiếu nại.
- Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 của Chính phủ quyết
định bổ xung về quy hoạch sử dụng đất, bồi thường, hỗ trợ tái định cư.
- Quyết định số 04/2005/QĐ-BTNMT ngày 30/6/2005 của Bộ Tài nguyên
và Môi trường ban hành quy trình lập và điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử
dụng đất.
- Quyết định số 08/2004/QĐ-BTNMT ngày 21/7/2006 của Bộ Tài nguyên
và Môi trường về việc ban hành quy định về cấp GCNQSDĐ.
- Thông tư số 29/TT-BTNMT ngày 01/11/2004 của Bộ Tài nguyên và
Môi trường hướng dẫn lập, chỉnh lý và quản lý hồ sơ địa chính.
11


- Thông tư số 09/ 2007/TT-BTNMT ngày 02/8/2007 về việc hướng dẫn
việc lập, chỉnh lý, quản lý hồ sơ địa chính.
- Thông tư số 08/2007/TT-BTNMT ngày 02/8/2007 của Bộ Tài nguyên
và Môi trường về việc hướng dẫn thực hiện thống kê, kiểm kê đất đai và xây
dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất;
Để tạo cơ sở vững chắc cho công tác quản lý nhà nước về đất đai, tại điều

Trước năm 1993, nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật để
quản lý đất đai một cách chặt chẽ. Tuy nhiên các văn bản chưa đáp ứng được
yêu cầu của công tác quản lý nhà nước về đất đai bởi việc sử dụng đất đai là vấn
đề phức tạp chịu ảnh hưởng của các yếu tố khác nhau. Từ năm 1993 đến nay,
ngành tài nguyên môi trường đã xây dựng được hệ thống chính sách tương đối
đồng bộ về công tác quản lý nhà nước về đất đai như: Luật Đất đai năm 1993,
luật sửa đổi bổ sung năm 1998, luật sử đổi bổ sung năm 2001, các văn bản liên
ngành… và gần đây nhất là Luật đất đai sửa đổi bổ sung của Luật Đất đai năm
2003. Hệ thống các văn bản đó về cơ bản đã giải quyết được các quan hệ đất
đai, góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển, ổn định chính trị.
2.2.1.1. Công tác xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa chính,
lập bản đồ hành chính
Để giúp cho các địa phương có cơ sở pháp lý thực hiện công tác quản lý
nhà nước về đất đai nói riêng và quản lý hành chính nhà nước trên mọi lĩnh vực,
cung cấp tài liệu cho các ngành khác…Trong hoạt động phát triển thì công tác
xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản
đồ địa chính có ý nghĩa rất quan trọng. Công tác xác định địa giới hành chính
hàng năm được đảng và nhà nước đặc biệt quan tâm. Thực hiện Chỉ thị 364/CTHĐBT ngày 06/11/1994 của Thủ tướng Chính phủ, nhà nước ta đã tiến hành đo
đạc và cắm mốc địa giới hành chính trên toàn lãnh thổ và cho đến nay công việc
về cơ bản đã thực hiện xong. Các mốc địa giới đã được cắm mốc từ các mốc địa
13


giới quốc gia đến các mốc địa giới cấp tỉnh, huyện, xã. mốc địa giới này là cơ
sở lập hồ sơ địa chính và lập bản đồ hành chính.
2.2.1.2. Công tác khảo sát, đo đạc, đánh giá, phân hạng đất, lập bản đồ địa
chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất
Trong lĩnh vực đo đạc bản đồ, hệ thống ảnh hàng không, ảnh vệ tinh đã
bao trùm, cả nước đã thực hiện được hơn 80 % diện tích, một mặt đáp ứng công
tác đo vẽ bản đồ địa hình, mặt khác sử dụng để thành lập nền bản đồ địa chính.

2.2.1.5. Công tác thanh tra, kiểm tra, giải quyết tranh chấp đất đai, giải quyết
khiếu nại, tố cáo
Công tác này thường xuyên được đôn đốc thực hiện. kết quả đã giả quyết
nhiều đơn thư khiếu nại tố cáo liên quan đến đất đai nhằm tạo điều kiện cho
nhân dân yên tâm sản xuất. Bên cạnh đó thì vấn đề khiếu nại vượt cấp về lĩnh
vực đất đai còn xảy ra nhiều mà nguyên nhân là do nhà nước chưa thực hiện
đúng các chính sách cho người dân, công tác quản lý còn lỏng lẻo. Vì vậy trong
những năm tới nhà nước cần hoàn thiện các cơ chế chính sách đảm bảo luật
pháp được thi hành đúng và có hiệu quả.
2.2.2. Tình hình quản lý sử dụng đất trên toàn địa bàn tỉnh Sơn La từ khi có
luật đất đai năm 2003 đến nay
Sơn La là một tỉnh miền núi phía bắc nông nghiệp luôn chiếm một vị trí
quan trọng trong cơ cấu kinh tế của tỉnh, trong khi đó diện tích đất sản xuất
nông nghiệp bình quân đầu người thấp.
Trong công tác quản lý Nhà nước về đất đai, tỉnh Sơn La đã đạt được
những kết quả sau:
* Về xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành
chính, lập bản đồ địa chính của tỉnh được tiến hành đầy đủ. Ranh giới hành
chính tỉnh được xác định bằng các yếu tố địa vật, được cắm mốc giới rõ ràng.
Hiện nay tỉnh đã hoàn thành BĐHC và HSĐGHC, hàng năm các mốc giới đều
được kiểm tra, nếu phát hiện hỏng hóc hoặc bị phá huỷ đều được xử lý và thay
thế kịp thời.
15


* Công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất: Đến năm 2000 tỉnh đã
hoàn thành việc lập quy hoạch giai đoạn 2001-2010, kế hoạch sử dụng đất
2001-2005, kế hoạch 2006-2010. Đồng thời năm 2005-2009 tỉnh đã tiến hành
đo đạc thành lập bản đồ địa chính cho 5 huyện là: Phù Yên, Thuận Châu,
Mường La, Quỳnh Nhai và Sông Mã do đó số liệu có nhiều biến động UBND

hơn nữa công tác cấp giấy CNQSD đất , giải quyết dứt điểm các đơn thư khiếu
nại tố cáo còn tồn đọng trong thời gian qua, giúp người dân yên tâm sản xuất.
Đồng thời cần phát triển hơn nữa thị trường quyền sử dụng đất trong thị trường
bất động sản để làm tăng nguồn tài chính từ đất đai.
2.2.3. Tình hình quản lý và sử dụng đất đai trên toàn phường Chiềng Sinh
Thực hiện Chỉ thị 364/CP ngày 6/11/1991 của Thủ tướng Chính phủ, địa
giới hành chính của phường Chiềng Sinh với các xã lân cận đã được xác định.
Qua công tác cập nhập, chỉnh lý theo số liệu thống kê đất đai theo địa giới hành
chính phường xác định tổng diện tích tự nhiên của phường là: 2.261 ha
Uỷ ban nhân dân phường đã căn cứ vào quy định của Luật đất đai năm
2003, các văn bản hướng dẫn của nhà nước và căn cứ vào nghị quyết về kế
hoạch sử dụng đất hàng năm được Hội đồng nhân dân phường thông qua để giải
quyết hồ sơ xin giao đất, cho thuê đất cho các cá nhân, tổ chức một cách nhanh
chóng thuận lợi.
Công tác đăng ký quyền sử dụng đất cho các đối tượng được thực hiện
thường xuyên cùng với công tác lập và quản lý hồ sơ địa chính. Đến nay toàn
phường đã cơ bản hoàn thành việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông
nghiệp đến từng hộ gia đình cụ thể như:
- Kết quả giao đất và cấp giấy CNQSD đất nông nghiệp trên địa bàn
phường Chiềng Sinh theo Chỉ thị 10/198-CT-TTg và cấp bổ sung cho đến nay.
- Tổng số GCNQSD đất đã cấp được cho hộ gia đình và cá nhân: 2.885
giấy CNQSD đất với diện tích 923,84 ha trong đó.
+ Đất nông nghiệp: 880 ha

17


+ Đất phi nông nghiệp trên địa bàn phường Chiềng Sinh, cấp được cho các
hộ gia đình và cá nhân: 2.740 giấy với diện tích 43,84 ha.
- Kết quả giao đất và GCNQSD đất Lâm nghiệp trên địa bàn phường như

2. Nhóm đất phi nông nghiệp
Năm 2010 phường Chiềng Sinh có 456,57 ha diện tích nhóm đất phi
nông nghiệp chiếm 20,15% tổng diện tích tự nhiên bao gồm:
2.1 - Đất ở.
Tổng diện tích đất ở 89,75 ha
2.2 Đất chuyên dùng.
Diện tích đất chuyên dùng là 376,83 ha, diện tích nhóm đất phi nông
nghiệp bao gồm các loại đất sau:
- Đất trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp là 46,03 ha chiếm 1,32% diện
tích đất phi nông nghiệp được dừng để xây dựng Trụ sở UBND phường và các
trụ sở cơ quan nhà nước đóng trên địa bàn phường ( Chi cục dự trữ quốc gia
khu vực Tây Bắc, Cục thuế Tỉnh Sơn La, Trung tâm đăng kiểm cơ giới thủy bộ
Sơn La, Liên đoàn lao động tỉnh Sơn La...)
- Đất quốc phòng: Diện tích năm 2010 có diện tích là 40,30 ha, chiếm
8,83% diện tích đất phi nông nghiệp ( Viện Quân y 6, Trường Quân sự tỉnh)
- Đất An ninh: Diện tích năm 2010 có 5,96 ha chiếm 1,31% diện tích đất phi
nông nghiệp ( Trụ sở Cảnh sát cơ động tỉnh Sơn La)
-

Đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp năm 2010 có 51,01 ha chiếm

11,17% diện tích đất phi nông nghiệp là đất của các cơ sở kinh doanh ( Công ty
CP Cơ khí Sơn La ....)

19


- Đất sản xuất vật liệu xây dựng gốm sử: Diện tích năm 2010 có 45,50 ha
chiếm 9,97% diện tích đất phi nông nghiệp như: Công ty CP Xi Măng, Nhà máy
Gạch Tuylen,..

Đề tài được nghiên cứu trong giới hạn 13 nội dung quản lý nhà nước về
đất đai được quy định trong Luật Đất Đai năm 2003.
3.2. Địa điểm và thời gian tiến hành
Đề tài nghiên cứu tại UBND phường Chiềng Sinh - TP Sơn La từ ngày
18/02/2013 đến ngày 28/04/2013
3.3. Nội dung nghiên cứu
- Đánh giá công tác quản lý đất đai theo 13 nội dung quản lý đất Nhà
nước về đất đai của phường Chiềng Sinh giai đoạn 2003 – 2012 cụ thể như sau:
1. Công tác ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử
dụng đất đai và tổ chức thực hiện các văn bản đó.
2. Công tác xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới
hành chính, lập bản đồ hành chính.
3. Công tác khảo sát, đo đạc, đánh giá phân hạng đất đai, lập bản đồ hành
chính, bản đồ hiên trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sư dụng đất.
4. Công tác quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
5. Công tác quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục
đích sử dụng đất.
6. Công tác đăng ký quyền sử dụng đất, lập và quản lý hồ sơ địa chính,
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
21


7. Công tác thống kê, kiểm kê đất đai.
8. Công tác quản lý tài chính về đất đai.
9. Công tác quản lý và phát triển thị trường quyền sử dụng đất trong thị
trường bất động sản.
10. Công tác quản lý giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của
người sử dụng đất.
11. Công tác thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định của pháp
luật về đất đai và xử lý vi phạm pháp Luật đất đai.



PHẦN IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội
4.1.1. Điều kiện tự nhiên
4.1.1.1. Vị trí địa lý
Phường Chiềng Sinh là cửa ngõ, trung tâm kinh tế, văn hóa phía Đông
Nam TP Sơn La, địa bàn rộng dân cư đông đúc, là đô thị trẻ đang trên đà phát
triển, tốc độ tăng trưởng kinh tế là 14%, cơ cấu kinh tế của phường đã từng
bước chuyển dịch quan trọng, đúng hướng, phù hợp với phát triển của Thành
phố theo xu hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa.
Phường có 25 cơ sở, tổ bản trong đó có 8 tổ và 17 bản. Đây là thế mạnh
tạo tiền đề cho nhân dân các dân tộc của phường Chiềng Sinh phát triển trên
mọi lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, Quốc phòng - An ninh với tổng diện tích
tự nhiên là 2.266 ha, với vị trí giáp ranh như sau:
+ Phía Bắc và phía Đông : Giáp xã Chiềng Ngần TP Sơn La..
+ Phía Nam : Giáp xã Chiềng Ban, Chiềng Mung huyện Mai Sơn.
+ Phía Tây

: Giáp xã Chiềng Cơi, Hua La và phường Quyết Tâm -TP

Sơn La.
Trung tâm phường cách trung tâm Thành Phố 10km. Phường có 8,2 km
Quốc lộ 6 chạy dọc địa bàn từ Tây Bắc xuống Đông Nam, có 350 m Quốc lộ 4G
đi huyện Sông Mã chạy qua, tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao lưu hàng hóa,
phát triển kinh tế - xã hội của phường.
4.1.1.2. Địa Hình - Địa Mạo
Phường Chiềng Sinh là phường mới thành lập, thuộc đô thị miền núi, có
độ cao trung bình từ 660 - 854m so với mực nước biển, địa bàn bị chia cắt bởi
các dãy núi đá vôi như: Núi Kéo Ngu Bướm, núi Ngu Lườn, núi Phòng Không,

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status