Thực trạng quản lý điều trị bệnh nhân tăng huyết áp tại Khoa khám bệnh, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Bình năm 2010 – 2011 - Pdf 34

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Tăng huyết áp (THA) là một bệnh rất thường gặp và đã trở thành mối quan
tâm hàng đầu của nền y học thế giới với tần suất mắc bệnh ngày càng tăng.
Theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới vào năm 2000 số người tăng
huyết áp chiếm khoảng 26,4% dân số toàn thế giới và dự tính sẽ tăng lên
29,2% vào năm 2025 và mỗi năm gây chết 7,1 triệu người tương đương 4,5%
gánh nặng bệnh tật toàn cầu [2], [3], [6].
Ở Việt Nam, các nghiên cứu về dịch tễ học tăng huyết áp cho thấy tỷ lệ
mắc bệnh đang có xu hướng tăng nhanh khi nền kinh tế ngày càng phát triển.
Theo các số liệu điều tra cho thấy năm 1960 bệnh t¨ng huyÕt ¸p chỉ chiếm 1%
dân số thì đến năm 2002 tỷ lệ tăng huyết áp là 23,2% khu vực Hà Nội, thành
phố Hồ Chí Minh năm 2004 là 20,5% và một điều tra gần đây năm 2008 của
Viện Tim mạch Việt Nam ở 8 tỉnh và thành phố tỷ lệ t¨ng huyÕt ¸p tới 25,1%
[5], [7], [15], [25].
Tăng huyết áp là một bệnh mãn tính, phần lớn không tìm thấy nguyên
nhân, bệnh tiến triển "thầm lặng" không có triệu chứng nhưng gây ra nhiều biến
chứng nguy hiểm như: đột quỵ, nhồi máu cơ tim, mù lòa, suy tim, suy thận... Bệnh đã
gây tỷ lệ tử vong và di chứng rất nặng nề, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống và là
gánh nặng về vật chất và tinh thần cho gia đình và xã hội [3], [1], [8].
Mặc dù tần suất bệnh ngày một gia tăng, tính chất bệnh thì rất nguy
hiểm, tuy nhiên hiện nay t¨ng huyÕt ¸p còn tồn tại 3 nghịch lý đó là: Bệnh dễ
chẩn đoán nhưng thường bệnh nhân không biết mình bị từ khi nào. Bệnh có
thể điều trị được nhưng số người được điều trị không nhiều. Bệnh có thể
khống chế được với mục tiêu mong muốn nhưng số người điều trị đạt huyết
áp mục tiêu lại không nhiều. Nguyên nhân của tình trạng này là do những


2


Đánh giá nhận thức, thái độ, thực hành của bệnh nhân về bệnh tăng
huyết áp và tuân thủ điều trị tăng huyết áp đang được quản lý tại Khoa
khám bệnh, Bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Bình.


3

CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. ĐỊNH NGHĨA VÀ PHÂN LOẠI TĂNG HUYẾT ÁP
1.1.1. Định nghĩa tăng huyết áp
Nếu như về phân độ tăng huyết áp hiện nay trên thế giới có rất nhiều cách
và chưa thống nhất được, mỗi tác giả chọn cho mình một cách riêng để sử dụng,
thì định nghĩa về tăng huyết áp lại cực kỳ thống nhất giữa các tổ chức.
Tổ chức y tế thế giới (WHO), Hội tăng huyết áp quốc tế (ISH), Liên Ủy
ban quốc gia về tăng huyết áp của Hoa Kỳ (JNC) đã thống nhất đưa ra định
nghĩa về tăng huyết áp như sau:
Tăng huyết áp được xác định khi huyết áp tâm thu ≥ 140 mmHg hoặc
huyết áp tâm trương ≥ 90 mmHg... [4], [40], [48].
1.1.2. Phân loại tăng huyết áp
Có rất nhiều cách phân loại t¨ng huyÕt ¸p, nhưng để phù hợp với thực
tiễn hiện nay, Hội Tim mạch Việt Nam khuyến cáo cập nhật sử dụng cách
phân loại đã được công bố vào năm 2007. Đây là khuyến cáo dựa vào phân
loại của WHO/ISH năm 1999, năm 2005, JNC VI năm 1997 và đặc biệt là
khuyến cáo của ESC/ESH 2003. Việc phân loại bao gồm tối ưu, bình thường,
bình thường cao, ba giai đoạn t¨ng huyÕt ¸p: nhẹ, vừa, nặng tương đương với
độ I, độ II và độ III và việc chọn độ t¨ng huyÕt ¸p sẽ được chọn theo con số
HA cao nhất [8], [32], [59].



5

- Tăng huyết áp độ II, không có yếu tố nguy cơ tim mạch hoặc là có từ
1 - 2 yếu tố nguy cơ tim mạch.
Nhóm tăng huyết áp nguy cơ cao:
- Tăng huyết áp độ I, II kèm theo 3 yếu tố nguy cơ trở lên.
- Hoặc tăng huyết áp độ III đơn thuần không kèm theo các yếu tố nguy
cơ hoặc có từ 1 – 2 yếu tố nguy cơ tim mạch.
Nhóm tăng huyết áp rất nguy hiểm:
- Tăng huyết áp độ I, II, III, đã có biến cố hoặc có bệnh tim mạch, hoặc
có bệnh thận mãn tính.
- Tăng huyết áp độ III có từ 3 yếu tố nguy cơ tim mạch hoặc hội chứng
chuyển hóa, tổn thương cơ quan đích, đái tháo đường [4], [58], [60].
1.2. CƠ CHẾ BỆNH SINH CỦA TĂNG HUYẾT ÁP NGUYÊN PHÁT
Cơ chế bệnh sinh của tăng huyết áp rất phức tạp, trong những năm gần
đây các nhà sinh lý và lâm sàng tim mạch đã cố gắng nghiên cứu, tìm hiểu
giải thích cơ chế bệnh sinh của t¨ng huyÕt ¸p. Dưới đây là một số cơ chế đã
được công nhận trong bệnh sinh của t¨ng huyÕt ¸p [27], [28].
1.2.1. Tăng hoạt động thần kinh giao cảm
Hệ giao cảm: Bắt nguồn từ sừng bên của tuỷ sống vùng ngực 1 - 5. Một
số sợi qua đám rối hình sao rồi đi đến tim (đến nút xoang, nút nhĩ thất, bó
His) Khi kích thích sợi giao cảm gây tác dụng ngược lại với kích thích dây
thần kinh số X như: tim đập nhanh, mạnh, tăng tính hưng phấn và tăng tốc độ
dẫn truyền, tăng trương lực cơ tim. Cơ chế tác dụng của dây thần kinh giao cảm là
thông qua chất môi giới hoá học trung gian là Adrenalin và Noradrenalin . Đồng
thời sẽ gây ra phản xạ co thắt toàn bộ hệ thống động mạch ngoại vi và động mạch
thận làm tăng sức cản ngoại vi dẫn đến hậu quả t¨ng huyÕt ¸p động mạch [27].
1.2.2. Vai trò của hệ thống Renin - Angiotensin - Aldosteron
Renin là một enzym do các tế bào tổ chức cạnh cầu thận và một số tổ


Vữa xơ làm giảm khả năng đàn hồi của thành động mạch lớn gây tăng


7

huyết áp, thường gặp ở người già có HATT cao trong khi HATTr vẫn ở mức
bình thường [54].
1.2.5. Thay đổi chức năng của thụ cảm thể áp lực
Thụ cảm thể áp lực ở xoang động mạch cảnh thông qua vòng phản xạ
thần kinh điều hòa huyết áp, khi thay đổi chức năng của thụ cảm thể áp lực
xoang động mạch cảnh, vòng phản xạ luôn duy trì gây tăng huyết áp [27], [51].
1.2.6. Giảm chất điều hòa huyết áp
Prostaglandin E2 và Kallikrenin ở thận có chức năng sinh lý điều hòa
huyết áp, hạ Calci máu, tăng Calci niệu. Khi các chất này bị ức chế hoặc thiếu
sẽ gây t¨ng huyÕt ¸p [27], [61].

Sơ đồ: Cơ chế tự điều hòa huyết áp
1.3. CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ
Hướng dẫn của Anh về việc xác định nguy cơ tim mạch dựa trên các yếu tố
nguy cơ cơ bản giống như các nguy cơ đã đưa vào công thức Nghiên cứu Tim
Framingham và được công bố trong chương trình giáo dục quốc gia về cholesterol
(NECP, 2001). Những yếu tố nguy cơ đó gồm có tuổi, giới, chỉ số huyết áp, rối


8

lon chuyn lipid, hỳt thuc lỏ, v tiu ng... Vic xỏc nh cỏc yu t nguy c
cú hay khụng i vi bnh nhõn THA s quyt nh thỏi iu tr khỏc nhau [57].
1.3.1. ỏi thỏo ng týp II
Theo thng kờ ca WHO thỡ t l bnh nhõn ỏi thỏo ng týp II cú

tăng Cholesterol là 49,32% [31].
1.3.3. Yếu tố gia đình và tính di truyền
Người da đen có tỷ lệ tăng huyết áp cao và nặng hơn chủng tộc khác
(chiếm tỷ lệ 30% - 37,5%) [27], [43]. Tiền sử gia đình có người thân bị tăng
huyết áp: nữ < 65 tuổi, nam < 55 tuổi.
Người ta thấy tính chất gia đình của bệnh tăng huyết áp, bố hoặc mẹ bị
bệnh này thì con cái cũng dễ mắc bệnh. Bệnh nhân tăng huyết áp di truyền lại
cho con cái không phải bệnh tăng huyết áp mà chỉ truyền lại một số đặc điểm
của cơ thể thuận lợi cho bệnh tăng huyết áp như: thể tạng, đặc điểm của hoạt
động thần kinh cao cấp... [13], nhưng chỉ khi có tác động của các yếu tố bên
ngoài như: những điều kiện sinh hoạt vật chất, tinh thần... giống như ở gia
đình bệnh nhân tăng huyết áp, mới gây ra tăng huyết áp [11].
1.3.4. Hút thuốc lá
Trong khói thuốc có chứa hơn 4000 chất khác nhau [18]. Nhưng
Nicotin lµ thủ phạm chính gây nên bệnh lý tim mạch. Theo các nhà khoa học
cứ hút một điếu thuốc thì HATT có thể tăng 11 mmHg, HATTr tăng lên tới 9
mmHg và kéo dài 20 - 30 phút. Hút nhiều thuốc lá có thể gây tăng huyết áp
kịch phát. Nếu hút trên 10 điếu một ngày và liên tục trong 3 năm thì nguy cơ
mắc bệnh tim mạch cao hơn so với người bình thường. Ngoài ra hút thuốc lá
cũng bị coi là nguyên nhân dẫn đến vữa xơ động mạch [11], [42], [58].
1.3.5. Người trªn 60 tuổi và nữ giới tuổi tiền mãn kinh
Bệnh tăng huyết áp thường thấy ở tuổi trung niên trở đi, tuổi càng cao
thì tần suất mắc bệnh càng nhiều. Tỷ lệ bệnh nhân lớn tuổi tăng huyết áp trên


10

thế giới ngày càng nhiều. Ở các nước phát triển 65% người lớn tuổi bị tăng
huyết áp. Nữ giới ở tuổi tiền mãn kinh bị tăng huyết áp nhiều hơn so với nam
giới cùng lứa tuổi [39]. Theo thống kê của Viện Tim mạch Việt Nam tỷ lệ

cơ bị các biến chứng tim mạch nhiều hơn so với người bình thường:
Đột quỵ gấp 3,8 lần ở nam vµ 2,6 lần ở nữ.
Bệnh mạch vành gấp 2 lần ở nam và 2,2 lần ở nữ.
Suy tim gấp 4 lần ở nam và 3 lần ở nữ [21].
* Tim: Tăng huyết áp có thể gây ra các biến chứng cấp tính như: phù
phổi cấp, nhồi máu cơ tim cấp, suy tim cấp vµ mãn tính như: dày thất trái, suy
vành mãn, suy tim [18].
* Thận: các biểu hiện như: đái máu, protein niệu, đặc biệt là suy thận.
* Mắt: phù, xuất huyết, xuất tiết đáy mắt...
* Bệnh động mạch ngoại vi [8].
1.5. ĐIỀU TRỊ TĂNG HUYẾT ÁP
1.5.1. Phương pháp điều trị không dùng thuốc
Là phương pháp điều trị bắt buộc dù có kèm theo dùng thuốc hay
không. Phải tiến hành trước và song song với tất cả phương pháp điều trị.
Trong các nghiên cứu lâm sàng cho thấy việc điều chỉnh lối sống đã
làm giảm đáng kể được huyết áp và giảm tỷ lệ mới mắc tăng huyết áp. Điều
chỉnh lối sống bao gồm giảm cân với người quá cân, hoạt động thể lực, giảm
uống rượu, ngừng hút thuốc lá, ăn nhiều rau củ quả... Khi tuân thủ tối ưu
huyết áp tâm thu sẽ giảm >10 mmHg [32].


12

Điều chỉnh lối sống còn làm giảm liều lượng thuốc vào cơ thể, từ đó
làm giảm tác dụng phụ của thuốc tác động lên bệnh nhân, nâng cao hiệu quả
điều trị bệnh [56].
Điều chỉnh lối sống làm giảm huyết áp:
Giảm cân duy trì trọng lượng cơ thể bình thường BMI từ 18,5 - < 23, theo
khuyến cáo cân nặng giảm 10 kg sẽ làm giảm huyết áp tâm thu 5 - 10 mmHg.
Tuân thủ ăn kiêng để giảm huyết áp: Theo khuyến cáo, ăn nhiều trái

bệnh tăng huyết áp. Đặc biệt ở những bệnh nhân tăng huyết áp lớn tuổi việc
sử dụng thuốc lợi tiểu như một biện pháp đầu tay [10], [11], [32].
Các nhóm thuốc lợi tiểu làm giảm thể tích tuần hoàn dẫn đến giảm
cung lượng tim và giảm huyết áp, làm tăng thải Natri máu. Một số thuốc lợi
tiểu còn có tác dụng giãn mạch nhẹ (Indapamide) do ức chế dòng Natri vào tế
bào cơ trơn thành mạch.
* Nhóm thuốc chẹn bêta
Các thuốc chẹn bêta giao cảm được sử dụng từ năm 1964 để điều trị
tăng huyết áp. Đặc biệt trong tăng huyết áp kèm bệnh lý mạch vành [11], [31].
Hầu hết các thuốc chẹn bêta giao cảm làm giảm cung lượng tim bằng cách
làm giảm tần số và giảm co bóp.
Thuốc có tác dụng ức chế sự phóng thích một phần Renin qua trung
gian thần kinh giao cảm, với tác dụng lên hệ Renin - Angiotensin góp phần
làm hạ huyết áp [10], [32].
* Nhóm thuốc chẹn kênh Calci
Cơ chế của thuốc là chẹn dòng Ion Calci không cho đi vào tế bào cơ trơn
của mạch máu, gây giãn mạch và làm hạ huyết áp: Nicardipin, Amlodipin.


14

Nhiều nghiên cứu khẳng định các thuốc chẹn kênh Calci có tác dụng
giảm huyết áp và giảm phì đại thất trái [10].
Các chất ức chế Calci tham gia phục hồi chức năng thành mạch và cản
trở sự hình thành và phát triển mảng xơ vữa động mạch [10], [14], [44].
* Nhóm thuốc ức chế men chuyển
Từ năm 1980, các thuốc ức chế men chuyển đã được đưa vào điều trị
tăng huyết áp và được đưa vào danh sách 7 thuốc được dùng đầu tiên trong
tăng huyết áp của JNC VII [10].
Cơ chế tác dụng của thuốc là ức chế một Enzym có tên là men chuyển

Để điều trị tăng huyết áp có hiệu quả, ngoài các lý do như sử dụng
thuốc không đúng phác đồ, điều trị không thường xuyên, liên tục, kéo dài
hoặc một số trường hợp tăng huyết áp kháng trị thì trong quá trình điều trị có
một số yếu tố ảnh hưởng đến kết quả điều trị như:
1.6.1. Tuổi, giới tính
Giới tính và tuổi tác không ảnh hưởng đến tính đáp ứng với nhiều loại
thuốc, nhưng giới tính và tuổi tác lại có ảnh hưởng đến tuân thủ điều trị. Đặc
biệt ở người lớn tuổi thì sự hấp thu và thải trừ thuốc trong cơ thể không như
người trẻ tuổi nên người lớn tuổi hay bị tác dụng phụ của thuốc và ở một số
bệnh nhân lớn tuổi trí tuệ sa sút nên việc quên uống thuốc dễ xảy ra.
1.6.2. Lối sống của người bệnh
Lối sống của người bệnh có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình điều trị,
việc thay đổi lối sống đối với tất cả người bệnh, là một vấn đề chính yếu để
ngăn ngừa tăng huyết áp, là một phần không thể bỏ qua và là một trở ngại
trong quá trình điều trị bệnh tăng huyết áp. Chính vì vậy việc kết hợp giữa
việc dùng thuốc với tăng cường hoạt động thể lực, chế độ ăn uống thích hợp,


16

bỏ thói quen hút thuốc lá, uống rượu mạnh làm gia tăng hiệu quả của thuốc hạ
áp và giảm nguy cơ tim mạch, giúp cho việc điều trị có hiệu quả tốt hơn. Việc
thay đổi lối sống bao gồm: Giảm cân ở người quá cân, hoạt động thể lực, giảm
uống rượu, ăn nhiều rau quả, giảm lượng chất béo bão hòa, giảm thức ăn chứa
Natri và tăng cường thức ăn chứa Calci, Magie, Kali… Hiệu quả chống tăng
huyết áp đạt được từ việc điều chỉnh lối sống phụ thuộc vào sự tuân thủ của
người bệnh. Khi đạt được sự tuân thủ tối ưu trong việc thay đổi lối sống thì
huyết áp tâm thu giảm > 10mmHg [8], [32].
1.6.3. Trình độ học vấn và sự tuân thủ của người bệnh
Đối với bệnh nhân tăng huyết áp, tuân thủ điều trị là điều kiện cần thiết

Trong những năm gần đây t¨ng huyÕt ¸p không chỉ phổ biến ở các nước
phát triển Mỹ và Châu Âu, mà tần suất còn tăng nhanh ở các nước đang phát
triển, đặc biệt các nước Châu Á và Châu Phi. Một số nghiên cứu các nước
Châu Á: Trung Quốc năm 2002 là 27,2%, Ấn Độ năm 2000 là 31%, Malaysia
n¨m 2004 là 32,9%, Philippin năm 2000 là 23% [6].
Mặc dù tăng huyết áp là một yếu tố nguy cơ cao của bệnh tim mạch ở
các nước trên thế giới, nhưng nhiều thử nghiệm lớn trên thế giới về điều trị
t¨ng huyÕt ¸p đã cho thấy nếu kiểm soát tốt huyết áp làm giảm đáng kể tỷ lệ
tử vong do biến chứng t¨ng huyÕt ¸p. Tuy nhiên tỷ lệ kiểm soát huyết áp hiện
nay vẫn còn thấp (theo WHO).
Một số khảo nghiệm của WHO về đánh giá khả năng kiểm soát và điều
trị cho thấy: Trong 167 quốc gia được khảo sát có 61% chưa có khuyến cáo
quốc gia về điều trị t¨ng huyÕt ¸p, 45% chưa có sự huấn luyện điều trị t¨ng
huyÕt ¸p cho cán bộ y tế, 25% không đủ cung cấp thuốc điều trị, 8% không đủ
phương tiện tối thiểu [32].


18

Tại một số nước Châu Á: Trung Quốc tỷ lệ bệnh nhân t¨ng huyÕt ¸p
không được điều trị chiếm 71,8%, được điều trị chỉ chiếm 28,2%, trong đó tỷ lệ
kiểm soát được huyết áp chỉ có 8,1% [6]. Từ năm 1991 đến 2000 Bộ Y tế đã
tiến hành chương trình quản lý bệnh tiểu đường và t¨ng huyÕt ¸p tại cộng
đồng của 3 thành phố lớn là Bắc Kinh, Thượng Hải và Quảng Châu kết quả
của điều tra sức khỏe năm 2001 cho thấy: tỷ lệ phát hiện sớm t¨ng huyÕt ¸p
tăng từ 26,3% lên 44,7%, tỷ lệ bệnh nhân bị t¨ng huyÕt ¸p được điều trị tăng
từ 12,1% lên 28,2% và tỷ lệ kiểm soát được huyết áp về bình thường tăng từ
2,8% lên 8,1%. Các biến chứng do t¨ng huyÕt ¸p gây ra cũng giảm đáng kể
trong chương trình này tỷ lệ đột quỵ mới mắc giảm 52% ở nam giới và 53% ở
nữ giới, tỷ lệ tử vong chung do đột quỵ cũng giảm được 54% [23]. Tại Ấn Độ

thực hiện các biện pháp can thiệp cho tăng huyết áp, hàng năm Chính phủ đã
chi phí trực tiếp hoặc gián tiếp cho điều trị, chăm sóc bệnh nhân tăng huyết áp
lên tới trên 259 tỷ đô la Mỹ. Theo kinh nghiệm của họ thì: Lực lượng chính
quản lý và điều trị tăng huyết áp ở Mỹ là các bác sỹ gia đình. Như vậy, trong
những năm qua mặc dù tỷ lệ bệnh tăng nhanh đặc biệt ở các nước đang phát
triển, tính chất nguy hiểm của bệnh được biết rõ, nhiều nước đã có can thiệp
của chính phủ, tuy nhiên tỷ lệ nhận biết bệnh, tỷ lệ được điều trị đúng và tỷ lệ
kiểm soát huyết áp còn chưa cao.
1.7.2. Tình hình bệnh và kiểm soát, điều trị tăng huyết áp tại Việt Nam
Các cuộc điều tra về dịch tễ học tại Việt Nam trong những năm gần đây
cho thấy bệnh có chiều hướng gia tăng: Năm 1992 tỷ lệ mắc tăng huyết áp
trên toàn quốc gia là 11,7% [39] năm 1999 tỷ lệ tăng huyết áp là 16,05%
[25].Tại thành phố Hà Nội (2002) là 23,2%, tại cộng đồng Miền Bắc Việt
Nam là 16,3%. Thành phố Hồ Chí Minh (2004) là 20,5% [23], phía Bắc
Bình Định (2006) là 34,33%.


20

Tỷ lệ tăng huyết áp khác nhau giữa các vùng miền, khác nhau giữa các
lứa tuổi và giới tính: Công trình điều tra dịch tễ học bệnh tăng huyết áp năm
1989 - 1992 của Trần Đỗ Trinh và cộng sự cho thấy tỷ lệ tăng huyết áp là 11,7%
trong đó tăng huyết áp chính thức là 5,1%, tăng huyết áp giới hạn là 6,7%,
ngoài ra tăng huyết áp không bền là 0,7%. Tỷ lệ tăng huyết áp tăng lên
theo tuổi, tăng huyết áp ở nam là 12,2%, cao hơn nữ 11,2%. Tỷ lệ tăng
huyết áp vùng ven biển là 17,8%, cao hơn hẳn các vùng khác và tỷ lệ thấp
nhất là vùng Đồng bằng sông Hồng 10,7%. Theo công trình nghiên cứu của
Viện Bảo vệ sức khỏe người cao tuổi năm 1989 - 1991, nghiên cứu tại các vùng
đại diện tỷ lệ tăng huyết áp tương ứng là thành thị 33%, ven biển 26,2%, nông
thôn 19,9% và miền núi là 30,5%. Theo nghiên cứu của Đào Duy An năm

là 16,7% [45]. Hay một cuộc điều tra dịch tễ học tăng huyết áp tại tỉnh Khánh
Hòa của Lê Viết Định năm 1990 cho thấy tỷ lệ từ 16 tuổi trở lên của nhân dân
tỉnh Khánh Hòa là 8,68%, nam nhiều hơn nữ, tỷ lệ tăng huyết áp tăng dần
theo tuổi và riêng ở lứa tuổi từ 60 trở lên, tỷ lệ tăng huyết áp giữa nông thôn
và thành thị có sự khác biệt rõ, có 60,12% người tăng huyết áp giai đoạn I
không biết mình bị bệnh và không được điều trị. Như vậy qua các nghiên cứu
trên thấy rằng tỷ lệ mắc rất khác nhau giữa các tác giả, khác nhau giữa các vùng,
miền và chưa có điều tra nào mang tính tổng thể trên phạm vi toàn quốc, tuy
nhiên tất cả các nghiên cứu đều cho thấy bệnh chiếm một tỷ lệ cao trong cộng
đồng với tần suất gia tăng lớn.
Mặc dù tỷ lệ bệnh tăng nhanh, tính chất nguy hiểm được biết rõ, đã có
sự can thiệp điều trị ở cơ sở y tế cũng như ở cộng đồng, tuy nhiên tỷ lệ nhận
biết, tỷ lệ điều trị và kiểm soát huyết áp vẫn còn thấp qua các nghiên cứu:
Tô Văn Hải năm 2000 nghiên cứu tỷ lệ tăng huyết áp tại cộng đồng Hà
Nội cũng cho kết luận tỷ lệ nhận biết bệnh và ý thức điều trị của người bị tăng
huyết áp là rất thấp, mà tỷ lệ tăng huyết áp ở người cao tuổi lên tới gần 50%.


22

Nghiên cứu của Phạm Gia Khải, Nguyễn Lân Việt và cộng sự năm 20012002 về tần suất tăng huyết áp và các yếu tố nguy cơ các tỉnh phía Bắc Việt Nam
trên tổng số 5012 người dân từ 25 tuổi trở lên cho thấy tần suất tăng huyết áp
chung theo JNC VI (1997) chiếm tỷ lệ 16,32%, nếu loại trừ những đối tượng
tăng huyết áp được điều trị thì tần suất chung này còn lại là 15,09%. Trong số
người phát hiện tăng huyết áp chỉ có 11,5% được điều trị thuốc hạ huyết áp.
Tần suất tăng huyết áp kể cả nhóm đã được điều trị thuốc hạ huyết áp tại các
địa phương như sau: Thành phố Hà Nội 23,2%, tỉnh Nghệ An 16,6%, tỉnh
Thái Bình 12,4%, tỉnh Thái Nguyên 13,9%. Tần suất tăng huyết áp tăng dần
theo tuổi, nam cao hơn nữ, thành thị cao hơn nông thôn. Tần suất các rối loạn
lipid máu cũng tăng dần theo tuổi, tương tự giữa nam và nữ [26].

Kon Tum 2004 Tỷ lệ nhận biết bệnh là 64,6%, tỷ lệ điều trị 45,3% và tỷ lệ
kiểm soát khá cao đạt 38,9%. Nguyễn Mạnh Phan, Thành phố Hồ Chí Minh
2005 tỷ lệ nhận biết 72,1%, tỷ lệ điều trị đạt 55% và tỷ lệ kiểm soát 19,7%.
Nghiên cứu thực trạng nhận thức của bệnh nhân tăng huyết áp điều trị
ngoại trú tại Bệnh viện Bạch Mai, của tác giả Đồng Văn Thành và cộng sự
với cỡ mẫu 1.500 bệnh nhân kết quả: Hầu hết các bệnh nhân không biết về
bệnh tăng huyết áp cũng như không biết mình bị bệnh tăng huyết áp (68,4%).
Chỉ có 31,6% biết mình bị bệnh. Số bệnh nhân không điều trị hoặc điều trị
không đúng chiếm trên 80%. Chỉ có 12,6% số bệnh nhân điều trị liên tục,
nhưng không rõ tỷ lệ kiểm soát được huyết áp mục tiêu. Đa số bệnh nhân có thời
gian tăng huyết áp từ 1 đến 5 năm chiếm 57,8%, có tới 21,6% số bệnh nhân
không rõ mình bị tăng huyết áp từ khi nào [16].
Một nghiên cứu khác đánh giá kết quả sau 5 năm quản lý điều trị ngoại
trú bệnh nhân tăng huyết áp tại Khoa Khám bệnh Bệnh viện Bạch Mai, với


24

thời gian theo dõi trung bình 32 tháng trên 2.350 bệnh nhân, kết quả 73,4% số
bệnh nhân được quản lý, theo dõi và điều trị đúng, vẫn còn 26,6% số bệnh
nhân chưa quản lý tốt. Trong số 625 bệnh nhân chưa quản lý tốt có tới 71,1%
do chưa nhận thức được về bệnh tăng huyết áp, còn lại là những nguyên nhân
khách quan như điều kiện kinh tế khó khăn, thủ tục chuyển Bảo hiểm y tế,
chuyển điều trị ở cơ sở khác… [15].
Theo Nguyễn Lân Việt, ở nước ta hiện nay vẫn chưa có hệ thống quản
lý và dự phòng đối với bệnh tăng huyết áp, các hoạt động y tế hiện mới tập
trung cho công tác điều trị bệnh tại bệnh viện. Chưa có mô hình dự phòng, ghi
nhận và quản lý bệnh tăng huyết áp tại cộng đồng, công tác tuyên truyền bệnh
tại cộng đồng chưa sâu rộng, các hoạt động điều tra dịch tễ, đào tạo cán bộ
cho công tác phòng chống tăng huyết áp tại cơ sở còn hạn chế, ngân sách đầu

thấy cần thiết nghiên cứu đề tài này, nhằm đánh giá thực trạng và có biện
pháp nâng cao chất lượng quản lý điều trị tăng huyết áp. Nếu đề tài thành
công có thể áp dụng mô hình cho các cơ sở y tế khác hoặc rộng hơn có thể áp
dụng quản lý bệnh nhân tăng huyết áp tại cộng đồng. Mặt khác đối với Bệnh
viện Ninh Bình, từ năm 2008 chúng tôi đã quản lý bệnh nhân tiểu đường đến nay
có khoảng 2000 bệnh nhân, nếu quản lý thành công bệnh nhân tăng huyết áp, tiến
tới chúng tôi sẽ tiến hành quản lý các bệnh nhân bị bệnh mãn tính khác.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status