Nghiên cứu tình hình quản lý bệnh nhân tăng huyết áp tại khoa khám bệnh viện đa khoa tỉnh bình định năm 2007-2008 - Pdf 18

1
ĐẶT VẤN ĐỀ

Tăng huyết áp (THA) là một bệnh lý mạn tính, tăng dần và nguy hiểm. Đây
là một bệnh phổ biến, thường gặp xu hướng tăng nhanh, từ lâu đã trở thành mối
quan tâm hàng đầu của y học thế giới, bệnh thường gặp ở các nước phát triển cũng
như các nước đang phát triển . Tổ chức Y tế thế giới ước tính tỷ lệ tăng huyết áp
trên thế giới năm 2000 là 26,4% (một tỷ người mắc) sẽ tăng lên 29,2% (1,5 tỷ người
mắc) vào năm 2025 [2] và 7,1 triệu người chết hàng năm do tăng huyết áp gây ra.
Tại Việt Nam những năm 1960 tỷ lệ tăng huyết áp mới chỉ 1%, năm 1976 là 1,9%,
người trưởng thành ở Miền Bắc nhưng đến năm 2001-2002 là 16,32% [29]. Riêng
khu vực nội thành Hà Nội năm 2002 là 23,2% [2], thành phố Hồ Chí Minh năm
2004 là 21,89% [ 40].
Bệnh tăng huyết áp tiến triển âm thầm, hủy hoại cơ thể từ từ và liên tục,
bệnh gây chết người đột ngột hoặc từ từ thông qua tổn thương các cơ quan đích như
tim, não, thận, mắt, động mạch ngoại vi [8] và rút ngắn tuổi thọ từ 10 năm đến 20
năm nếu không được điều trị. Các thử nghiệm lâm sàng lớn đều chứng minh 2 biện
pháp điều trị dùng thuốc và thay đổi lối sống sẽ cải thiện ngoạn mục tình trạng bệnh
ở người tăng huyết áp. Tăng huyết áp vô căn chiếm tỷ lệ 92-94% [94] và tăng huyết
áp là bệnh lý mạn tính nên việc chữa trị gần như là suốt đời, trừ tỷ lệ còn lại là tăng
huyết áp thứ phát sau khi triệt căn được nguyên nhân sinh bệnh không phải điều trị.
Trên thực tế giữa nhận thức và xử lý của cộng đồng về tăng huyết áp còn
chưa tốt, theo nghiên cứu của Trần Đỗ Trinh năm 1992 trên 1.716 người tăng huyết
áp thì có 67,5% là không biết bệnh, 15% biết bệnh nhưng không điều trị, 13,5%
điều trị nhưng thất thường không đúng cách, chỉ có 4% là điều trị đúng. Nghiên cứu
của Phạm Gia Khải và cộng sự năm 2002 cho biết trong 818 người được phát hiện
tăng huyết áp có điều trị tăng huyết áp là 27,09%, không điều trị tăng huyết áp là
72,9% [26] và huyết áp được khống chế là 19,1% [29]. Qua các nghiên cứu về bệnh

3
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN, TÌNH HÌNH KINH TẾ XÃ HỘI TỈNH
BÌNH ĐỊNH VÀ KHÁI QUÁT VỀ BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH
BÌNH ĐỊNH
Bình Định là một tỉnh Duyên Hải Miền Trung diện tích 6.027km
2
với dân số
hơn 1,5 triệu người. Cùng với sự phát triển của cả nước tỉnh Bình Định đã có nhiều
bước phát triển về kinh tế, xã hội, đời sống nhân dân đã tăng lên rõ rệt, thu nhập
bình quân đầu người năm sau cao hơn năm trước, người dân đã có ý thức quan tâm
đến việc chăm sóc và bảo vệ sức khỏe của mình. Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Định
là bệnh viện hạng I với quy mô 800 giường bệnh và 1.076 cán bộ viên chức, 27
khoa và 6 phòng chức năng, có đầy đủ các trang thiết bị y tế hiện đại đảm bảo việc
phục vụ cho nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân trong tỉnh.
Khoa khám Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Định hàng ngày khám từ 1.500 đến
2.000 bệnh nhân, trong số bệnh nhân đến khám thì THA là bệnh hay gặp nhất trong
các bệnh mạn tính.
1.2. TÌNH HÌNH TĂNG HUYẾT ÁP TRÊN THẾ GIỚI, TRONG NƢỚC VÀ

Trung Quốc [60]
27,2%
129.824.000
Canađa [60]
20%

Liên Xô [45]
10 -12%

Cu Ba [45], [82]
44%

Tây Ban Nha [9]
30%

Indonesia [9]
15 - 20%

Malaysia [9]
22,2%

Pháp [9]
41%

CHLB Đức [9]
17%

Ấn Độ [9]
23,7%


giảm từ 36,3% xuống còn 20,4% [84].
1.2.4. Tỷ lệ nhận biết, điều trị và huyết áp đƣợc kiểm soát

Bảng 1.2: Tỷ lệ nhận biết, điều trị và huyết áp được kiểm soát ở người lớn
tuổi từ 18-74 [44], [60]

Tỷ lệ nhận biết, điều trị và huyết áp được kiểm soát
ở người lớn tuổi từ 18-74 (NHANES)

Tỷ lệ %
1976- 1980
1988- 1991
1991– 1994
1999- 2000
Nhận biết
51%
73%
68%
70%
Có điều trị
31%
55%
63,6%
59%
Kiểm soát được
HA<140/90mmHg
10%
29%
27,4%
34%


8%

Sự hiểu biết về THA của người Việt Nam [2]:
Trần Đỗ Trinh và cộng sự 1992 điều tra cộng đồng từ 15 tuổi trở lên, trong số
1.716 người bị THA thì 67,5% không biết bệnh, 15% biết bệnh nhưng không điều
trị, 13,5% điều trị nhưng thất thường và không đúng cách, chỉ có 4% điều trị đúng.
Nguyễn Minh Tâm, Nguyễn Thị Trúc khảo sát 1.582 người từ 18 tuổi trở lên
tại tỉnh Tiền Giang năm 2001 cho thấy 16,1% chưa từng được đo huyết áp, 58,7%
có đo huyết áp nhưng không nhớ con số huyết áp của mình, 10,3% biết con số huyết
áp của mình nhưng không kiểm tra thường xuyên và chỉ 14,9% có ý thức kiểm tra
huyết áp định kỳ chủ yếu là ở những người bị THA, 63% không biết một biện pháp
phòng ngừa THA, 48% biết mình bị THA, 13,9% có điều trị thường xuyên và kiểm
soát được huyết áp 0%.
Phạm Gia Khải và cộng sự điều tra 7.610 người từ 16 tuổi trở lên tại Hà Nội
năm 1999, tỷ lệ nhận biết bệnh và ý thức điều trị của người bệnh còn rất thấp, có
80,8% ngừng thuốc, năm 2002 Phạm Gia Khải và cộng sự tiếp tục khảo sát 5.012
người từ 25 tuổi trở lên ở 4 tỉnh Miền Bắc Việt Nam (Nghệ An, Hà Nội, Thái Bình
và Thái Nguyên) và kết quả là 23% hiểu đúng các yếu tố nguy cơ của bệnh THA.
7
Viên Văn Đoan và Đồng Văn Thành [17] tại Hà Nội nghiên cứu trên 300
người bệnh THA từ 25 tuổi trở lên điều trị ngoại trú cho thấy 47,6% người bệnh
không biết mình bị THA và chỉ có 9,5% hiểu biết về bệnh và điều trị đúng. Hai tác
giả bình luận “Đa số bệnh nhân của chúng ta nhận thức về bệnh còn chưa cao, nên
ngay cả khi được phát hiện bệnh, mặc dù đã được hướng dẫn, song do nhiều yếu tố
khách quan và chủ quan của người bệnh và cả y tế cơ sở , do vậy họ không điều trị
đúng, không liên tục và không tái khám. Chính vì vậy mà hậu quả của bệnh gây ra

- Nhóm nguy cơ B: Tăng huyết áp không có bệnh tim mạch lâm sàng, không
tổn thương cơ quan đích nhưng có lớn hơn một yếu tố nguy cơ nêu trên mà không
phải tiểu đường .
- Nhóm nguy cơ C: gồm tăng huyết áp có biểu hiện tim mạch trên lâm sàng
hoặc tổn thương cơ quan đích [48].
* Các yếu tố nguy cơ đó là:
1.3.1. Béo phì

Béo phì là yếu tố nguy cơ THA [66], [69], béo phì song song với THA [73].
Thừa cân và béo phì có tỷ lệ mắc bệnh càng ngày càng gia tăng trên thế giới.
Ở Mỹ và một số nước khác, thừa cân và béo phì gia tăng đáng kể trong 20 năm qua.
Theo nghiên cứu gần đây nhất của Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa bệnh cho
thấy tăng cân lên đến 60% và hậu quả của béo phì là THA, rối lọan lipid máu, rối
lọan chuyển hóa, bệnh mạch vành…
- Béo phì thừa cân đang là vấn đề sức khỏe toàn cầu. Tại Mỹ với tỷ lệ người
dư thừa cân nặng chiếm khoảng 15% dân chúng và là nguyên nhân của 20-30%
trường hợp THA. BMI liên quan THA [72], BMI > 25 có tương quan chặt chẽ với
THA. Nghiên cứu của Gupta R tỷ lệ vòng bụng, vòng mông liên quan đến THA
[71], vòng thắt lưng >85cm ở nữ và >98cm ở nam cũng có nguy cơ THA. Người bị
hội chứng chuyển hoá có nguy cơ THA cao gấp 3,86 lần người bình thường [4].
Bệnh nhân THA hội chứng chuyển hoá chiếm 38,2% [37]. Bệnh nhân THA sẽ có
rối loạn lipid máu [92], trong số các bệnh nhân rối loạn lipid máu thì THA nguyên
phát chiếm tỷ lệ 49,21% [14]. Ngày nay, đối với sự phát triển của xã hội trên mọi
lĩnh vực đời, sống, năng lượng cung cấp ở nhóm thừa cân đều vượt quá nhu cầu của
cơ thể , nền kinh tế không ngừng được nâng cao nên những bệnh lý liên quan đến sự
thừa năng lượng cần được quan tâm nhiều hơn.

9
Theo Elisa và cộng sự ghi nhận sự gia tăng huyết áp tâm thu ở bệnh nhân đái
tháo đường type 2 thật sự là một yếu tố nguy cơ đặc biệt đối với biến chứng tim
mạch nhất là có thời gian phát bệnh kéo dài và rối lọan lipid máu. Theo R. Turrer
nếu kiểm soát huyết áp chặt chẽ ở bệnh nhân đái tháo đường type II sẽ giảm đáng
kể các nguy cơ tử vong .
Theo Taffet và cộng sự (1992) ghi nhận suy tim do nhồi máu cơ tim chiếm
65%, do THA chiếm 63%, đái tháo đường chiếm 11%. Dó đó sự kết hợp giữa 2
bệnh cảnh THA và đái tháo đường sẽ làm tăng tần suất suy tim.
Theo nghiên cứu của Cohort (1994) ghi nhận tỷ lệ suy tim ở bệnh nhân đái
tháo đường có THA là 68,1% [52].
1.3.3. Hút thuốc lá
- Thuốc lá: Hút thuốc lá cũng làm tăng nguy cơ THA, số lượng thuốc hút càng
nhiều thì nguy cơ THA càng cao vì trong thuốc lá có hàng ngàn chất hoá học khác
nhau, có các chất gây nghiện như Nicotine, hắc ín, các hỗn hợp chất màu nâu như
Benzen, Benzopyren, các chất độc dạng khí như CO, Amoniac, Hydrogen …[54].
Đặc biệt hoạt chất Nicotine có khả năng làm co mạch và kích thích tăng tiết
Catecholamine, carbonoxyt và các chất khác sẽ làm tổn thương nội mạc thành
mạch. Thực nghiệm của Maslova năm 1958 trên súc vật thấy Nicotine trong thuốc
lá làm THA.
Nghiên cứu công nhân viên của nhà máy thuốc lá, nơi tiếp cận khói bụi thuốc lá
hàng ngày thì thấy tỷ lệ THA cao hơn rõ rệt. Tuy nhiên cho tới hiện nay các tác giả
chưa thống nhất cơ chế hút thuốc là làm THA như thế nào, nhưng đa số đều cho rằng
đối với những người đã THA thì hút thuốc lá làm tăng tỷ lệ này lên đáng kể [48].
Hút thuốc lá, mặc dù không phải là nguyên nhân chính gây THA, nhưng là
một yếu tố rất thuận lợi có hại đến sức khỏe và tính mạng của mọi người, không chỉ
ở người trực tiếp sử dụng mà còn ảnh hưởng đến những người xung quanh (gián
tiếp). Nguy cơ bệnh lý mạch vành ở những người THA hút thuốc lá cao hơn những

Trong các nguyên nhân gây THA trước hết người ta thường kể đến lượng muối
ăn . Bình thường một người khỏe mạnh chỉ cần 4g muối/ ngày, song thói quen ăn
các món ăn tương đối mặn sẽ có cảm giác ngon miệng hơn nên lượng muối trong
khẩu phần ăn hàng ngày thường hơn nhu cầu của cơ thể, có thể là 10g hoặc hơn kết
quả là vượt quá khả năng điều chỉnh của các hormon và thận, dẫn đến ứ Natri (Na
+
),
cơ thể giữ muối nhiều hơn và làm tăng lưu lượng máu tuần hoàn lâu dài sẽ dẫn đến
12
tăng cung lượng tim và làm THA. Ăn mặn còn gây ứ đọng Ion Natri (Na
+
), làm tăng
độ thấm của Calci (Ca
+
) qua màng tế bào, dẫn đến làm tăng khả năng co thắt các
tiểu động mạch và làm THA. Ăn mặn với người THA càng nhiều bất lợi hơn.
Các công trình nghiên cứu cho thấy tác dụng rõ rệt của chế độ ăn giảm muối
trong việc làm hạ huyết áp. Theo W.N Berkinhager và P.W Lơewn (1985) cứ ăn
giảm 1g muối sẽ làm huyết áp giảm được 1mmHg. Theo Phan Thị Kim và cộng sự
ở Viện Dinh dưỡng (1988) với chế độ ăn giảm muối 4-6g muối / ngày sau 01 tháng
huyết áp đối đa của người bệnh giảm trung bình 30mmHg, huyết áp tối thiểu giảm
trung bình 20mmHg.
- Ăn mặn: lượng muối ăn (NaCl) trong khẩu phần ăn hàng ngày có liên quan tỷ
lệ thuận giữa lượng muối ăn và mức huyết áp, ăn mặn kéo dài thì nguy cơ THA
nhiều hơn. Với việc tiêu thụ muối quá nhiều còn dẫn đến một số bất lợi khác:
- Các thử nghiệm cho thấy rằng ăn muối nhiều Natri (trên 14g/ ngày) sẽ gây
THA; trong khi ăn ít muối <1g ngày gây giảm huyết áp động mạch. Hạn chế ăn

do biến động về hormon. Ngày càng có nhiều hiểu biết về các yếu tố nguy cơ bệnh
ở phụ nữ mãn kinh có liên quan mật thiết với chứng béo phì và rối lọan lipid máu.
Béo phì gây nên nhiều nguy cơ bệnh tật như: bệnh tim mạch, rối lọan lipid máu.
1.3.8. Microalbumin - niệu
Sự vận chuyển albumin xuyên qua màng vi cầu thận tùy thuộc một số yếu tố:
điện tích và kích thước của phân tử, trạng thái màng và huyết động học riêng của
thận. Thanh thải xuất của albumin (được định nghĩa là tỷ lệ thanh thải albumin trên
độ lọc) bình thường rất thấp (<0,1%) vì có điện tích âm và kích thước phân tử tương
đối lớn của albumin. Tuy vậy sự bài tiết albumin có thể thay đổi trong mọi tình
huống sinh lý và bệnh lý bao gồm THA và đái tháo đường. Trong THA điều kiện
huyết động học đặc biệt có thể dẫn đến tăng thất thoát albumin qua màng. Ví dụ,
bệnh nhân THA có lưu lượng máu thận thấp và tăng kháng lực mạch máu thận, với
tốc độ được giữ nguyên, gợi ý một sự gia tăng phân suất lọc. Điều này có thể do sự
dẫn truyền huyết áp toàn thân không bị cản trở trong vi cầu thận, hoặc do tăng co
mạch sau vi cầu (của tiểu động mạch đi).
1.4 TỔN THƢƠNG CƠ QUAN ĐÍCH
THA là bệnh diễn biến thầm lặng, vô cùng nguy hiểm và dai dẳng nhất, mỗi
năm gây chết 7,1 triệu người tương đương 4,5% gánh nặng bệnh tật toàn cầu, THA
14
tác hại cơ thể thông qua 2 cơ chế là tổn thương do chính huyết áp gây ra và thông
qua thúc đẩy bệnh lý xơ vữa động mạch xuất hiện sớm và nhanh ảnh hưởng trên
nhiều cơ quan đích nhất là tim, não, thận, mắt [8]. Tỷ lệ tổn thương cơ quan đích ở
bệnh nhân THA cao hơn nhóm bệnh nhân không THA , “THA là kẻ thù của trái tim
và khối óc của bạn và của tôi”.
1.4.1. Tim
Phì đại tâm thất trái một trong những biểu hiện sớm nhất của THA lên hệ tim
mạch là dày thất trái, nhất là ở những bệnh nhân THA không được điều trị một cách

tiểu nơi gió lùa… bệnh nhân đột ngột té ngã, hôn mê sâu, thở phì phò, liệt nửa
người trong những trường hợp này tử vong rất cao. Tiên lượng của chảy máu não do
THA thường nặng, phụ thuộc vào lượng máu chảy, vị trí não bị tổn thương. Nếu
máu chảy tràn ngập não thất thì thường hôn mê, trụy tim mạch, suy hô hấp và rất dễ
tử vong.
1.4.3. Thận
Bệnh thận cấp gây tiểu máu, tăng urê máu.
Bệnh thận mạn creatinin huyết thanh > 1,5 mg/dl, protein niệu tăng.
1.4.4. Bệnh mạch máu
Giãn do phình, xơ vữa động mạch, đau khập khễnh cách hồi.
1.4.5. Bệnh lý võng mạc
Cấp: Phù gai thị, xuất huyết.
Mạn: Xuất tiết, xuất huyết, bắt chéo động mạch, mù [11].
1.5. TIẾN TRIẾN CỦA BỆNH THA [15], [47], [55]
Bệnh THA thường đi theo suốt cuộc đời còn lại kể từ khi mắc bệnh và ở giai
đoạn này bệnh thường tiến triển kéo dài trong nhiều năm nếu không được điều trị
trong một thời gian dài, bệnh không có triệu chứng lâm sàng, bệnh nhân phát hiện
tăng huyết áp dựa vào chỉ số huyết áp tình cờ khi đi khám một bệnh lý nào đó hoặc
đi khám sức khỏe định kỳ mới phát hiện bệnh, ở giai đoạn này rất có ý nghĩa trong
việc điều trị và dự phòng tăng huyết áp, có thể tạm thời ổn định hoặc tăng dần, có
khi chỉ tăng tạm thời nhưng rồi sẽ tăng vĩnh viễn. Nếu được điều trị và theo dõi tốt
thì HA sẽ được điều chỉnh để trở lại bình thường hay làm chậm sự diễn tiến xấu của
bệnh, hạn chế bớt những biến chứng.
Theo Tổ chức Y tế thế giới THA có 3 giai đoạn, giai đoạn I bệnh nhân không
có dấu hiệu khách quan về tổn thương thực thể, giai đoạn II với các tổn thương ở cơ
16
quan đích, nếu được điều trị tốt bệnh có thể phục hồi nhưng không hoàn toàn. Sang

1.6.1. Luyện tập thể dục đều đặn với cƣờng độ trung bình
Người bị THA nên tập thể dục, thể thao, nó làm cho người ta ăn khoẻ, ngủ
ngon, thở được nhiều oxy và tinh thần luôn sảng khoái. Hoạt động thể lực là nhân tố
quan trọng để sống lâu. Khoa học đã chứng minh rằng người THA không phải
kiêng thể dục thể thao mà còn phải tập luyện đều đặn hơn. Những hoạt động thể lực
tác dụng làm cho động mạch mềm mại, đàn hồi dẻo dai hơn, làm cho các tĩnh mạch
đưa máu về tim nhanh chóng và đều đặn hơn, đẩy máu nhiều hơn đến các cơ quan
quan trọng như não, phổi, thận, gan và các cơ bắp. Nhưng người THA nên chú ý
những điểm sau đây:
- Tập vừa sức mình, vừa sức chịu đựng của hệ tim mạch nghĩa là khi thấy mệt,
khó thở hoặc đau ngực thì nên ngừng, không được thi đấu vì khi tham gia vào cuộc
tranh tài khó lòng tự kiềm chế và phải cố gắng hết mình ngay cả khi đã mệt.
- Nhưng cũng không nên tập quá ít, quá nhẹ, thì lợi ích không nhiều.
- Mỗi buổi tập nên bắt đầu từ từ, ví dụ: trước khi xuống nước bơi nên làm một
vài cử động chân tay trên bờ đã. Khi tập xong cũng không nên ngồi nghỉ ngay mà
nên đi ít bước hoặc chạy chầm chậm trước khi dừng hẳn. Khởi động từ từ và kết
thúc cũng từ từ là điều quan trọng để bảo đảm hiệu quả và an toàn cho cơ thể.
- Phải tập đều đặn nếu ngày nào cũng tập là tốt nhất, nếu không cũng phải tập
ít nhất mỗi tuần 3 lần, mỗi lần khoảng 30-40 phút, tốt hơn so với tập nặng và bất
thường.
- Ngày nay các nhà khoa học còn thấy rằng vận động thân thể trong sinh hoạt
hàng ngày như lên thang gác, đi bộ, đứng lên rót nước hoặc đi lại vươn vai, tự làm
các việc vặt trong nhà cũng rất tốt cho sức khoẻ.
- Nên có bạn bè cùng tập, vừa vui, vừa động viên nhau vừa theo dõi để tập vừa
sức. Các câu lạc bộ sức khoẻ ngoài trời là một hoạt động thể lực bổ ích [20].
1.6.1.1. Đi bộ
Là cách tập nhẹ nhưng đảm bảo an toàn, muốn đạt lợi ích thực sự cho tim

1.6.1.3. Phương pháp chạy: là cách tập luyện rất tốt cho người tăng huyết áp cũng
như cho mọi người. Mỗi buổi tập nên bắt đầu chạy chậm sau đó nhanh dần lên và
khi thấy mệt thì chạy chậm dần lại trước khi ngừng hẳn.
- Những buổi tập đầu tiên nên chạy những quãng đường ngắn vài trăm mét
hoặc người yếu thì vài chục mét cũng được, nhưng sau đó sẽ tăng dần lên đến vài
Km. Người cao huyết áp nhẹ nếu luyện tập tốt có thể chạy thong thả 10 Km hoặc
19
hơn nữa. Nên theo dõi mạch xem có quá mức không, nếu thấy mệt cũng nên nghỉ,
tuyệt đối không nên chạy thi dù quãng đường ngắn.
- Phương pháp tập trên xe đạp lực kế: Rất phù hợp cho những bệnh nhân tuổi
<45, tăng huyết áp độ I (140/90-160/95mmHg) với khả năng huyết áp cần trở về
trung gian mà không phải dùng thuốc [20].
1.6.1.4. Đi xe đạp
Đi xe đạp hàng ngày giảm huyết áp tốt hơn đi bộ.
Các nhà tim mạch hàng đầu thế giới khẳng định rằng đi xe đạp tập luyện rèn
luyện sức bền là một trong những phương pháp chữa bệnh hữu hiệu, cơ sở sinh lý
của rèn luyện sức bền ở bệnh nhân tăng huyết áp là điều hoà lượng cholesterol
máu, kìm hãm xơ vữa động mạch, làm tính đàn hồi của các mạch máu trong các cơ
hoạt động và giảm sức cản của máu ngoại biên kết quả là huyết áp giảm nhưng cần
phải nhớ rằng phải qua 2-3 tháng tập luyện thường xuyên huyết áp mới giảm nên
người bệnh cần phải có tính kiên trì khi tập luyện. Chú ý tránh đường phố nhiều xe
cộ [20].
1.6.1.5. Bơi
Là một môn thể thao thích hợp với người THA. Chỉ cần tránh 3 điều, một là
không được thi đấu vì phải gắng sức khi đã mệt, hai là không được lặn vì nín hơi
lâu có thể hại cho người tăng huyết áp, ba là trời rét không nên bơi trong nước lạnh,
sợ co mạch làm huyết áp tăng. Cũng như đối với chạy cũng cần khởi động từ từ và

xông khói, các món muối tẩm ướp, vì trong quá trình chế biến thường có nhiều
muối. Không ăn da các loại gia súc, gia cầm. Không nên ăn mặn tới 15-20g
NaCl/ngày có thể làm mất hiệu quả hạ huyết áp của thuốc lợi tiểu.
1.6.3. Kiểm soát cân nặng
- Kiêng mỡ: rối loạn lipid huyết là yếu tố nguy cơ độc lập chính của bệnh
mạch vành; do đó chế độ ăn kiêng mỡ quan trọng ở bệnh nhân THA. Trong nghiên
cứu ngẫu nhiên có kiểm soát, chế độ ăn có thay đổi toàn bộ mỡ và tỷ lệ mỡ bão hoà
và không bão hoà ảnh hưởng ít đến huyết áp. Lượng lớn axit béo omega-3 có thể hạ
thấp huyết áp; tuy nhiên một số bệnh nhân có cảm giác khó chịu ở bụng. Khi thấy
mình có nguy cơ thừa cân, béo phì thì cần hạn chế ăn uống, kiêng đồng thời thịt mỡ,
bánh ngọt và tinh bột . Mỗi chúng ta cần tránh mắc bệnh hội chứng chuyển hóa vì
khi có hội chứng chuyển hóa nguy cơ THA cao gấp 3,6 lần người bình thường .
21
Phải luôn kiểm soát được chỉ số khối cơ thể (BMI) chỉ nên có 18,5-22. Giảm
cân nếu có thừa cân bằng cách giảm cung cấp năng lượng bằng các chế độ ăn phù
hợp như ăn thịt nạc bỏ da, ăn các món luộc, hấp không ăn các món chiên, quay, xào,
uống sữa không có chất béo, ăn nhiều rau và trái cây… không ăn thức ăn ngọt, giảm
kích cỡ các bữa ăn, ăn nhiều vào buổi sáng tránh ăn nhiều vào buổi tối.
Giảm các yếu tố bất lợi trong thực phẩm như: rượu, bia, chất béo bão hòa.
Tăng cường các yếu tố thực phẩm bảo vệ các chất chống oxy hóa, chất xơ,
w-3, w6 và những thực phẩm có tính chất an thần lợi tiểu nhẹ: rau cải, cà chua, bầu,
bí, cam, khoai tây, khoai lang, đậu xanh, đậu đen…. Người THA nên thực hiện theo
chế độ ăn của DASH.
Bảng 1.4: Chế độ ăn DASH [44], [60]

Nhóm thức ăn
Số lần

Thịt gia cầm và

2
Chọn phần nạc của thịt đỏ,
gà, cá …
Nguồn cung cấp Protein
và Magie
Quả hạch, hạt
quả đậu
4-5
Quả hạnh, đậu phộng, quả
óc chó, hạt hướng dương,
đậu tây, đậu lăng
Nguồn cung cấp Protein
và Magie

22
Thừa cân khi chỉ số khối cơ thể >27 có tương quan chặt chẽ với THA . Ở bệnh
nhân THA thừa cân thì người bệnh phải có biện pháp giảm cân, giảm cân làm tăng
hiệu quả của thuốc chống THA đang dùng và giảm đáng kể yếu tố nguy cơ tim
mạch cùng lúc như tiểu đường và rối loạn lipid huyết. Do đó, bệnh nhân THA thừa
cân cần có chương trình giảm cân có theo dõi riêng liên quan đến hạn chế calo và
tăng hoạt động thể lực. Thường thì bệnh nhân khó tuân thủ và thiếu nghị lực để thực
hiện nhưng nếu kiên trì thực hiện sẽ giảm nhiều yếu tố nguy cơ tim mạch và có hiệu
quả hơn trong điều trị THA.
1.6.4. Giảm uống rƣợu và tránh uống say
Uống nhiều rượu là yếu tố nguy cơ quan trọng của THA, có thể gây đề kháng

1.7. ĐIỀU TRỊ BỆNH THA

1.7.1. Nguyên tắc điều trị

- Thay đổi lối sống (như đã nêu ở trên).
- Loại trừ các yếu tố nguy cơ.
- Dùng thuốc đơn độc hoặc kết hợp .
1.7.2. Mục tiêu điều trị THA
Bảng 1.5: Mục tiêu điều trị THA [60]
,Các mục tiêu huyết áp được khuyến cáo
Tổ chức
Nhóm bệnh nhân
THA không biến
chứng (mmHg)
+ ĐTĐ hoặc bệnh
thận (mmHg)
+ Suy thận với tiểu
đạm >1g/24h
Hội Thận-Mỹ (2001)

<130/80
<125/75
Hội THA Anh (1999)
<140/85
<140/80
<125/75
Hội THA Châu Âu
(2003)
<140/90
<130/80

1.7.3. Những quy tắc trong điều trị
1.7.3.1. Khi mới phát hiện THA
Khi mới phát hiện THA ở mức nhẹ thì có thể chưa dùng thuốc hạ huyết áp
ngay. Có đề nghị để 04-06 tháng để điều chỉnh lối sống. Sau khi điều chỉnh lối sống
mà không hạ được huyết áp thì dùng biện pháp dùng thuốc.
1.7.3.2. Phương pháp điều trị THA bằng thuốc
Khi điều trị bằng thuốc cần cân nhắc mức độ THA, có hay không có tổn
thương cơ quan đích, có hay không biểu hiện lâm sàng bệnh tim và những yếu tố
liên quan khác, điều trị bằng thuốc từng bước như bậc thang, điều trị như vậy giúp
cho người bệnh không phải dùng quá nhiều thuốc cũng như không phải sử dụng liều
thuốc quá cao, hạn chế tối đa tác dụng phụ của thuốc [11]. Nghiên cứu của Nguyễn
Khánh Toàn trị số huyết áp bằng kỹ thuật đo lưu động 24h cho thấy đỉnh huyết áp
cao trong ngày vào thời điểm 9h và 20h [53] . Yếu tố này giúp người thầy thuốc sử
dụng thuốc huyết áp uống trong ngày trước khi huyết áp lên đỉnh.

25
* Nguyên tắc dùng thuốc: Theo Tổ chức Y tế thế giới [15]:
- Huyết áp nên được hạ thấp dần dần.
- Việc điều trị phải dùng theo tùy từng bệnh nhân, chú ý đến mức độ nặng của
bệnh, mức độ rối lọan huyết động và các quá trình bệnh lý quan trọng khác.
- Các thuốc kê đơn theo kiểu từng bậc bắt đầu từ bậc một thuốc trừ trường hợp
THA nặng.
- Điều trị kết hợp thuốc thích hợp hơn điều trị một thuốc với liều cao bởi vì nó
sử dụng liều lượng thấp hơn của từng thuốc riêng lẻ bởi vậy có thể ít tác dụng phụ
hơn.
- Tránh cho liều lượng không hợp lý của bất kỳ thuốc nào.
- Không nên ngừng điều trị đột ngột hoặc một loại thuốc đột ngột.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status