MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
1
NỘI DUNG
1
1. Hãy nhận xét việc công ty B xử lý kỷ luật đối với K 1
trong hai lần nói trên.
2. Những tổ chức, cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết4
vụ tranh chấp lao động giữa công ty B và K?
3. Vụ việc trên cần phải được giải quyết như thế nào
7
về mặt nội dung?
4. Giả sử ngày 10/5/2009 K khởi kiện công ty B ra tòa 8
vì cho rằng mình bị sa thải trái pháp luật. Theo bạn, tòa án
nhân dân có thụ lý hay không? Tại sao?
KẾT LUẬN
10
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
11
PHỤ LỤC - Một số quan điểm cá nhân của các thành viên12
nhóm 3 – N01 – TL1.
ĐỀ BÀI 01:
Anh K vào làm việc tại công ty TNHH B theo HĐLĐ không xác định
thời hạn từ ngày 05/03/2007. Tháng 01/2008 anh K được bầu làm chủ tịch
BCH Công đoàn công ty. Tháng 4/2008 anh K nhân danh BCH Công đoàn
kêu gọi người lao động đình công phản đối chính sách tiền lương của công
dung?
4. Giả sử ngày 10/5/2009 K khởi kiện công ty B ra tòa vì cho rằng
mình bị sa thải trái pháp luật. Theo bạn, tòa án nhân dân có thụ lý hay
không? Tại sao?
3
LỜI MỞ ĐẦU
Hiện nay, với sự phát triển ngày càng nhanh chóng của nền kinh tế và
xu hướng toàn cầu hóa, các mối quan hệ lao đọng ngày càng mở rộng và đa
dạng. Tuy nhiên không phải lúc nào các mối quan hệ đó cũng diễn ra êm
đẹp đặc biệt cả NLĐ và NSDLĐ đều muốn tối đa quyền và lợi ích của
mình. Khi đó, tranh chấp lao động nảy sinh mà sự thiệt thòi thường là ở
những NLĐ. Để cân bằng lợi ích của NLĐ cũng như NSDLĐ lao động nói
chung và bảo vệ lợi ích chính đáng của NLĐ trước quyền thế của NSDLĐ
nói riêng, BLLĐ được ra đời. Bộ luật có những quy định cụ thể đối với
từng trường hợp xảy ra tranh chấp lao động và có những biện pháp nhất
định để xử phạt những người không chấp hành theo quy định đó. Tình
huống dưới đây là một ví dụ điển hình.
NỘI DUNG
5. Hãy nhận xét việc công ty B xử lý kỷ luật đối với K trong hai lần nói
trên.
Công ty B xử lý kỷ luật đối với anh K hai lần là cách chức chủ tịch
Công đoàn với lý do là anh K lãnh đạo cuộc đình công và sa thải anh K với
lý do tự ý bỏ việc. Trong cả hai lần trên, việc công ty B xử lý kỉ luật đối với
anh K là hoàn toàn trái với các quy định của pháp luật lao động hiện hành.
Cụ thể như sau:
Lần kỉ luật thứ nhất: Giám đốc công ty B đã áp dụng hình
thức kỉ luật là cách chức chủ tịch Công đoàn đối với K với lí do là anh K
công (không phân biệt đình công đúng pháp luật hay trái pháp luật).
- Hơn nữa, xem xét vấn đề ở góc độ đơn giản, công đoàn là tổ chức
đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của NLĐ. Trường
hợp này, anh K nhân danh BCH công đoàn kêu gọi NLĐ phản đối chính
sách tiền lương và nhận được sự đồng tình của đại đa số NLĐ cũng có
5
nghĩa là anh K nhân danh BCH công đoàn bảo vệ lợi ích của NLĐ trong
việc hưởng mức lương xứng đáng. Việc bảo vệ NLĐ là quyền và nghĩa vụ
của công đoàn mà bị NSDLĐ coi đó là lý do để cách chức thì lúc này công
đoàn đã không còn bảo vệ được NLĐ nữa.
Như vậy, việc Giám đốc công ty B kỉ luật cách chức K với lý do K
lãnh đạo cuộc đình công là hoàn toàn sai.
Lần kỉ luật thứ hai: Giám đốc công ty B ký quyết định số 90/QĐ sa
thải K vì lý do tự ý bỏ việc vì lý do không chính đáng.
Giám đốc công ty B triệu tập xem xét việc kỉ luật đối với K tại trụ sở
của công ty với sự tham gia của Giám đốc, trưởng Phòng Nhân sự, toàn bộ
thành viên còn lại của BCH Công đoàn công ty, Tổ trưởng tổ sản xuất nơi
K làm việc và bản thân K. Như vậy là đầy đủ thành phần của một cuộc họp
kỷ luật nên về mặt hình thức thì cuộc họp kỷ luật trên là đúng luật. Trong
quá trình diễn ra cuộc họp, K đã tự ý bỏ về giữa chừng, nghĩa là K đã tự
tước đi quyền lợi của mình trong cuộc họp đó, các thành viên tham gia
cuộc họp sẽ vẫn tiếp tục xét kỷ luật bình thường đối với K và kết quả xét kỷ
luật đối với K sẽ có giá trị hiệu lực pháp lý.
Tuy nhiên, để xác định việc Giám đốc công ty B ký quyết định số
90/QĐ sa thải K vì lý do tự ý bỏ việc vì lý do không chính đáng là hợp
pháp hay bất hợp pháp, cần chú ý những điểm sau:
- Một là, quyết định sa thải K vì lí do tự ý bỏ việc không có lí do
chính đáng đã nhận được sự tán thành của đa số những người dự họp và
chấp lao động giữa công ty B và K?
Thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động được quy định tại BLLĐ
năm 1994 (Sửa đổi, bổ sung 2002, 2006, 2007); Bộ luật tố tụng dân sự
2004; Nghị định của Chính phủ số 133/2007/NĐ – CP ngày 8/8/2007 quy
định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của
BLLĐ về tranh chấp lao động; Thông tư của Bộ lao động và thương binh
xã hội số 22/2007/TT – BLĐTB&XH ngày 23/10/2007 hướng dẫn về tổ
7
chức và hoạt động của hội đồng hoà giải cơ sở và hoà giải viên lao động;
Thông tư của Bộ lao động và thương binh xã hộ số 23/2007/TTBLĐTB&XH ngày 23/10/2007 hướng dẫn về tổ chức và hoạt động của Hội
đồng trọng tài lao động.
Điều 157 BLLĐ định nghĩa về tranh chấp lao động như sau: “
Tranh chấp lao động là những tranh chấp về quyền và lợi ích phát sinh
trong quan hệ lao động giữa người lao động, tập thể lao động với người sử
dụng lao động. Tranh chấp lao động bao gồm tranh chấp lao động cá nhân
giữa người lao động với người sử dụng lao động và tranh chấp lao động
tập thể giữa tập thể người lao động với người sử dụng lao động”. Áp dụng
vào tình huống đề bài ta thấy:
- Về số lượng người lao động tham gia vào vụ tranh chấp: Khi nhận
quyết định sa thải, K đã viết đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp. Tranh chấp
này là tranh chấp giữa anh K - NLĐ cụ thể với NSDLĐ - công ty B.
- Về mục đích: anh K đòi quyền lợi cho chính bản thân mình. Anh K
cho rằng việc công ty sa thải anh là trái với quy định của pháp luật quyền
lợi của anh bị xâm phạm, do đó anh viết đơn yêu cầu cơ quan có thẩm
quyền giải quyết tranh chấp. Mục đích ở đây là hướng về quyền lợi cụ thể
của riêng mình anh K chứ không phải của tập thể NLĐ.
Dựa vào định nghĩa và những phân tích ở trên, có thể khẳng định
tranh chấp lao động giữa anh K và công ty B là tranh chấp lao động cá
của Chính phủ.
Sau khi anh K và công ty B không tự thương lượng được thì Hội đồng
hòa giải lao động cơ sở hoặc Hòa giải viên lao động sẽ là cơ quan trước
tiên có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động này. Cơ quan này đưa ra
9
phương án giải quyết cho hai bên trên tinh thần tạo điều kiện để hai bên có
thể thương lượng lại để đi đến hòa giải.. Trường hợp hòa giải không thành
hoặc hết thời hạn 3 ngày làm việc mà Hội đồng hòa giải lao động cơ sở
hoặc hòa giải viên lao động thì anh K có quyền yêu cầu tòa án nhân dân
giải quyết. Nếu ở đây hai bên thương lượng được với nhau thì cơ quan này
phải công nhận sự thương lượng này.
Trường hợp 2: Toà án nhân dân là cơ quan có thẩm quyền giải quyết
tranh chấp lao động của công ty B và K trong thời hạn quy định sau khi
Hội đồng hòa giải lao động cơ sở hoặc Hòa giải viên lao động không giải
quyết được tranh chấp này.
Điều này được quy định tại Điều 166 BLLĐ: “Toà án nhân dân có
thẩm quyền giải quyết các tranh chấp lao động cá nhân mà hội đồng hoà
giải cơ sở hoặc hoà giải viên lao động hoà giải không thành hoặc không
giải quyết trong thời hạn quy định tại khoản 1 điều 165 của Bộ luật này.
Toà án nhân dân giải quyết các tranh chấp lao động cá nhân sau đây
mà không bắt buộc phải qua hoà giải tại cơ sở: Tranh chấp về xử lý kỉ luật
lao động theo hình thức sa thải hoặc về trường hợp bị chấm dứt hợp đồng
lao động…”
Sau khi cơ quan hòa giải không thành, Tòa án nhân dân sẽ là cơ quan
có thẩm quyền giải quyết tranh chấp lao động trên. Điều này cũng có nghĩa
nếu anh K và công ty B thương lượng được với nhau khi thẩm quyền giải
quyết tranh chấp thuộc về khi Hội đồng hòa giải lao động cơ sở hoặc Hòa
giải viên lao động. Khi đó, Tòa án sẽ là phải đưa ra phán quyết để giải
quyết vụ tranh chấp lao động giữa công ty B và K.
7. Vụ việc trên cần phải được giải quyết như thế nào về mặt nội dung?
Như đã phân tích tại phần 1, việc anh K nhân danh BCH Công đoàn
kêu gọi NLĐ đình công phản đối chính sách tiền lương của công ty là hợp.
Giám đốc công ti ra quyết định cách chức BCH Công đoàn đối với K là sai.
Mặc dù K bị cách chức là không hợp lí, nhưng thời gian lúc này mới chỉ là
3 ngày sau khi gửi yêu sách đến Giám đốc công ty B nên K không có
11
quyền tổ chức cho NLĐ nghỉ việc. Tại cuộc họp kỷ luật K, K đã tự ý bỏ về,
và theo ý kiến của những người dự họp thì Giám đốc công ty B đã ký quyết
định sa thải K. Mấu chốt của vụ việc nằm ở chỗ Giám đốc công ty B ra
quyết định cách chức K và đây là một quyết định không hợp pháp.
Vụ việc trên cần phải được giải quyết như thế nào về mặt nội dung
như sau:
Trước hết, anh K và công ty B sẽ tham gia thương lượng với nhau về
một số vấn đề có liên quan đến quyền và lợi ích của hai bên.
- Anh K có thể đưa ra căn cứ chứng tỏ rằng quyết định cách chức và
quyết định sa thải của công ty B là không hợp pháp vì lý do mà công ty đưa
ra trong hai lần xử lý kỷ luật là sai. Đồng thời, anh K có thể yêu cầu phía
công ty B một số vấn đề như là nhận anh trở lại làm việc, hoặc bồi thường
các khoản theo quy định của sa thải trái pháp luật, hoặc công khai xin lỗi
anh, hoặc có thể yêu cầu các khoản bồi thường khác theo quy định của
pháp luật,…
- Về phía công ty B, cho rằng mình không sai nên có thể thương
lượng là chỉ bồi thường một phần, hoặc không bồi thường những khoản mà
anh K đòi, hoặc đòi anh K bồi thường cho mình để giải quyết hậu quả của
việc nhiều NLĐ đình công theo quy định của pháp luật,…
Các bên thương lượng với nhau, nếu không đạt được sự nhất trí thì sẽ
Như vậy: Về mặt nội dung vụ việc trên cần phải được giải quyết trên
tinh thần tôn trọng sự thương giữa hai bên NLĐ, NSDLĐ và bảo vệ quyền
và lợi ích chính đáng của NLĐ – anh K.
8. Giả sử ngày 10/5/2009 K khởi kiện công ty B ra tòa vì cho rằng mình
bị sa thải trái pháp luật. Theo bạn, tòa án nhân dân có thụ lý hay
không? Tại sao?
13
Khoản 1 Điều 31 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành
chính 1996 đã sửa đổi quy định: “Toà án trả lại đơn khởi kiện trong
những trường hợp sau đây:
a) Người khởi kiện không có quyền khởi kiện;
b) Thời hiệu khởi kiện đã hết mà không có lý do chính đáng;
c) Không đủ điều kiện khởi kiện vụ án hành chính quy định tại Điều
2 của Pháp lệnh này;
d) Sự việc đã được giải quyết bằng bản án hoặc quyết định đã có
hiệu lực pháp luật của Toà án;
đ) Sự việc không thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án.”
Áp dụng quy định này vào tình huống đề bài, ta nhận thấy:
- Về người khởi kiện: Anh K có quyền khởi kiện công ty B vì như
phân tích trên, quyết định sa thải của công ty B đối với anh K là chưa đúng
căn cứ pháp lý.
- Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Tranh chấp lao động giữa
anh K và công ty B là tranh chấp cá nhân nhằm đảm bảo lợi ích của anh K.
Thẩm quyền giải quyết tranh chấp cá nhân thuộc về Hội đồng hoà giải cơ
sở hoặc hoà giải viên lao động và Toà án nhân dân. Giả thiết đề bài, anh K
khởi kiện B ra toà vì cho rằng mình bị sa thải trái pháp luật mà căn cứ điểm
a khoản 2 Điều 166 BLLĐ: “ Toà án nhân dân giải quyết những tranh
luật thì bên cạnh việc tuân thủ các quy định về hình thức kỷ luật (trình tự
tiến hành, thành phần tham gia cuộc họp kỷ luật,…) thì còn phải đặc biệt
quan tâm đến lý do xử lý kỷ luật. Đối với việc giải quyết tranh chấp sau khi
xử lý kỷ luật, pháp luật trao quyền giải quyết tranh chấp lao động cá nhân
15
cho Hội đồng hòa giải lao động cơ sở hoặc Hòa giải viên lao động và Toà
án nhân dân trên tinh thần tôn trọng sự thương lượng giữa NLĐ với
NSDLĐ và bảo vệ những lợi ích chính đáng cho NLĐ. Có thể nói rằng,
những quy định đang ngày càng hoàn thiện và có ý nghĩa thực tiễn.
16
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
Giáo trình luật lao động Việt Nam, Trường Đại học Luật Hà
Nội,
Nxb.CAND, Hà Nội, 2009.
2.
Giáo trình luật lao động Việt Nam, Khoa Luật, Trường Đại học
Mở Hà Nội, Nxb Giáo Dục Việt Nam, 2009.
3.
17
PHỤ LỤC
Một số quan điểm cá nhân của các thành viên nhóm 3 – N01 –
TL1
1. Hãy nhận xét việc công ty B xử lý kỷ luật đối với K trong hai lần
nói trên.
- Bạn Đậu Quốc Dũng: Không cần thiết phải xác định việc đình
công là hợp pháp hay bất hợp pháp mà chỉ cần xem xét lý do công ty đưa ra
để xử lý kỷ luật đối với anh K. Cụ thể là: Lần 1 với lý do lãnh đạo NLĐ
đình công sai vì vi phạm Điều 174đ BLLĐ; Lần 2 với lý do tự ý bỏ việc
không có lý do chính đáng sai vì anh K chỉ nghỉ việc trong lúc đình
công chứ không phải tyuwj ý bỏ việc.
- Bạn Vy Tiến Hoàng: Việc cách chức và sa thải anh K là vi phạm
quy định tại Điều 174đ BLLĐ. Và càng không thể sa thải anh K vì lí do anh
K bỏ về giữa chừng được, bởi lẽ anh K bỏ về giữa chừng mà công ty vẫn sa
thải anh K là trái pháp luật về hình thức. Hơn nữa, việc công ty xử lý sa
thải anh K còn vi phạm cả về nguyên tắc xử lý kỷ luật đó là “Mỗi hành vi
vi phạm chỉ bị xử lí ở 1 hình thức kỉ luật.”. Việc xử lí kỉ luật anh K hai lần
như trên là vi phạm nguyên tắc này bởi lẽ việc anh K bỏ về giữa chừng
không đáng bị sa thải do đó có thể nói công ty đã sai quy tắc này khi xử lí
kỉ luật anh K hai lần.
- Bạn Nguyễn Phúc Ngọc: “Anh K nhân danh BCH Công đoàn kêu
gọi người lao động đình công phản đối chính sách tiền lương của công ty.
Đại bộ phận NLĐ hưởng ứng lời kêu gọi của anh K và họ đã viết một bản
yêu sách tới Giám đốc kèm theo tuyên bố nếu trong thời gian 3 ngày giám
đốc không có quyết sách thỏa đáng về tiền lương cho người lao động trong
18
công là bất hợp pháp). Việc công ty xử lý kỷ luật lúc này là vi phạm Điều
174đ BLLĐ. Tuy nhiên, nếu giả sử anh A không phải là chủ tịch Công
đoàn mà là trưởng bộ phận nào đấy mà kêu gọi NLĐ đình công (với lý do
chính đáng) thì có bị xử lý kỷ luật hay không?
2. Những tổ chức, cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết vụ tranh chấp lao
động
giữa công ty B và K?
- Bạn Nguyễn Thị Thu Uyên: Căn cứ điều 165 BLLĐ thì thẩm quyền giải
quyết vụ tranh chấp lao động giữa công ty B và K thuộc về Hội đồng hòa
giải lao động cơ sở hoặc Hòa giải viên lao động và Toà án nhân dân. Cái
này chỉ cần liệt kê ra là xong.
- Bạn Nguyễn Thị Thanh Hương: Phải phân tích kỹ hơn về thẩm quyền
của từng cơ quan nữa. Hội đồng hòa giải lao động cơ sở hoặc Hòa giải viên
lao động chỉ đưa ra những phương án nhằm hòa giải tranh chấp giữa anh A
và công ty B và ghi nhận sự thương lượng của hai bên (nếu có). Trường
hợp tranh chấp không điều hòa được thì chuyển lên Tòa án nhân dân xét xử
và chỉ trong một trường hợp, tòa án mới trực tiếp giải quyết vụ việc mà
không cần thông qua cơ quan hòa giải.
3. Vụ việc trên cần phải được giải quyết như thế nào về mặt nội dung?
- Bạn Trần Cường: Mấu chốt của vấn đề là ở chỗ công ty B xử lý kỷ luật
đối với anh K trong cả hai lần là sai. Nội dung giải quyết là tự hòa giải
Hội đồng hòa giải lao động cơ sở hoặc Hòa giải viên lao động Tòa án
nhân dân.
20
- Bạn Quàng Văn Cuộc: Áp dụng Điều 165 BLLĐ và Nghị định số