ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
---------------------------------
PHẠM THỊ NHUNG
GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC TRONG GIA ĐÌNH THỜI KỲ
HỘI NHẬP QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Hà Nội - 2015
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
---------------------------------
PHẠM THỊ NHUNG
GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC TRONG GIA ĐÌNH THỜI KỲ
HỘI NHẬP QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành: Triết học
Mã số: 60 22 03 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS DƢƠNG VĂN DUYÊN
Hà Nội - 2015
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 3
1. Lý do chọn đề tài ......................................................................................... 3
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu ............................................................... 4
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu ............................................................. 6
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu.............................................................. 6
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu ............................................... 7
6. Đóng góp của luận văn................................................................................ 7
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn ................................................ 7
8. Kết cấu của luận văn ................................................................................... 7
Chƣơng 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC TRONG GIA
ĐÌNH VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ.................................................................... 8
1.1. Đạo đức trong gia đình, giáo dục đạo đức trong gia đình ở Việt Nam ....... 8
1.1.1. Đạo đức trong gia đình Việt Nam ........................................................... 8
1.1.2. Giáo dục đạo đức trong gia đình Việt Nam .......................................... 17
1.1.3. Nội dung và phương pháp giáo dục đạo đức trong gia đình hiện nay 20
1.2. Hội nhập quốc tế và tác động của nó đến đạo đức Việt Nam ............ 30
1.2.1. Hội nhập quốc tế ở Việt Nam ................................................................ 30
1.2.2. Những tác động của hội nhập quốc tế đến đạo đức trong gia đình Việt
Nam ................................................................................................................. 34
Tiểu kết chƣơng 1 .......................................................................................... 46
Chƣơng 2. GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC TRONG GIA ĐÌNH VIỆT NAM THỜI
KỲ HỘI NHẬP QUỐC TẾ - THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP ................. 48
2.1. Thực trạng và nguyên nhân giáo dục đạo đức trong gia đình Việt
Nam thời kỳ hội nhập quốc tế ...................................................................... 48
2.1.1. Thực trạng của giáo dục đạo đức trong gia đình Việt Nam thời kỳ hội
nhập quốc tế hiện nay ..................................................................................... 48
2.1.2. Nguyên nhân của giáo dục đạo đức trong gia đình Việt Nam hiện nay56
1
vào đời sống xã hội. Sự trường tồn của quốc gia, dân tộc phụ thuộc rất nhiều
vào sự tồn tại và phát triển của mỗi gia đình. Gia đình không phải là nơi duy
nhất có vai trò và trách nhiệm trong việc giáo dục trẻ em nhưng nó là môi
trường đầu tiên tạo điều kiện tốt nhất và có vai trò quan trọng quyết định việc
hình thành nhân cách trẻ em.
Cùng với những cơ hội đang thúc đẩy sự tiến bộ của gia đình Việt Nam
thì sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế thị trường, mở cửa và hội nhập quốc tế
với những mặt trái của nó như hiện nay cũng đang đặt ra cho gia đình Việt
Nam trước rất nhiều những thử thách trong việc giáo dục đạo đức. Thực tế
cho thấy, trong quá trình hội nhập quốc tế, thang giá trị đạo đức của con
người có nhiều biến đổi theo cả hai hướng tích cực và tiêu cực. Tại đại hội X,
Đảng ta chỉ rõ: “Tình trạng suy thoái, xuống cấp về đạo đức, lối sống, sự gia
tăng tệ nạn xã hội và tội phạm đáng lo ngại, nhất là trong lớp trẻ” [25, tr. 172
- 173]. Đây là một trong những thách thức lớn đang đặt ra đối với sự nghiệp
giáo dục của nước nhà nói chung và giáo dục đạo đức trong gia đình nói riêng.
Cùng với gia đình, nhà trường và xã hội là môi trường giáo dục quan
trọng đối với sự hình thành phẩm chất đạo đức và nhân cách cho thế hệ trẻ.
Song vai trò của các thiết chế xã hội ngày nay chỉ có thể được phát huy một
cách có hiệu quả khi lấy giáo dục đạo đức trong gia đình làm cơ sở. Nhiều gia
đình tỏ ra lúng túng, thậm chí bất lực trong việc giáo dục đạo đức cho con cái
dẫn đến phó mặc việc này cho nhà trường và xã hội. Do đó việc định hướng
giá trị văn hóa và hình thành các chuẩn mực đạo đức là yêu cầu cấp bách cho
trẻ hiện nay. Quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa và hội nhập quốc tế ở Việt
Nam đang đặt ra những yêu cầu bức thiết với sự nghiệp giáo dục nói chung và
3
giáo dục đạo đức trong gia đình nói riêng nhằm góp phần tạo ra một thế hệ trẻ
Việt Nam phát triển toàn diện, vừa có đức vừa có tài. Không có những đảm
Trong cuốn “Thực trạng và những vấn đề đặt ra đối với gia đình Việt
Nam hiện nay: Phân tích các tài liệu nghiên cứu và điều tra về gia đình Việt
Nam được tiến hành 15 năm gần đây (1990 - 2004)” [72] của tác giả Lê
Ngọc Văn chủ biên đã phân tích tổng hợp về thực trạng gia đình Việt Nam,
dự báo những xu hướng biến đổi của gia đình Việt Nam trong một tương lai gần.
Trong cuốn “Việt Nam phong tục” (1915) của Phan Kế Bính, cuốn
“Việt Nam văn hóa sử cương” (1938) của Đào Duy Anh, thông qua những
khảo cứu mang dấu ấn dân tộc học, hai công trình nghiên cứu này đã ghi
chép và miêu tả các quan hệ vợ - chồng, cha - con, việc giáo dục con trong
gia đình Việt Nam truyền thống và những xu hướng biến đổi của nó trước
ảnh hưởng của văn hóa Tây Âu.
“Vai trò của gia đình trong việc giáo dục thế hệ trẻ ở nước ta hiện
nay” (Luận án Tiến sĩ Triết học) của Nghiêm Sĩ Liêm đã đề cập đến việc
giáo dục cho trẻ một cách toàn diện và đặc biệt chú ý việc giáo dục cho trẻ
ngay từ khi mới lọt lòng, khẳng định tính hiệu quả của hình thức giáo dục
bằng tình thương chứ không phải bằng roi vọt.
Cuốn “Nho giáo và gia đình” (1995) của Vũ Khiêu đã cung cấp một
khối lượng tri thức rất sâu, rộng về văn hóa gia đình, những tác động, ảnh
hưởng đậm nét của Nho giáo trong giáo dục gia đình, những mặt tích cực và
tiêu cực của Nho giáo đối với việc củng cố gia đình, hình thành nhân cách
trong gia đình và xã hội.
“Khoa học giáo dục con em trong gia đình” năm 1979 do Đức Minh
chủ biên đề cập đến một số quan điểm giáo dục trẻ em và những phương
pháp giáo dục trẻ em trong gia đình.
“Những vấn đề cấp bách trong giáo dục con ở lứa tuổi thiếu niên
trong gia đình thành phố hiện nay” (2001) do Nguyễn Thanh Bình chủ biên
đề cập rất nhiều đến việc giáo dục đạo đức cho con cái trong các gia đình nói
chung và gia đình thành phố nói riêng.
5
6
dục của ông bà cha mẹ với con cái, không nghiên cứu giáo dục đạo đức chung
trong gia đình.
- Phạm vi nghiên cứu
Giới hạn về không gian: hộ gia đình đang sinh sống ở Việt Nam.
Giới hạn về thời gian: từ những năm đổi mới 1986 đến nay.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận: Dựa trên những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, về giáo dục đạo đức trong gia đình và hội nhập quốc tế.
- Phương pháp nghiên cứu: Sử dụng các phương pháp luận của chủ
nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử như: phân tích, tổng
hợp, khái quát, lịch sử - cụ thể…
6. Đóng góp của luận văn
Luận văn làm rõ những yêu cầu đạo đức trong gia đình thời kỳ hội nhập
quốc tế, phân tích thực trạng công tác giáo dục đạo đức trong gia đình ở Việt
Nam hiện nay. Từ đó luận văn đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu quả của
công tác giáo dục đạo đức trong gia đình thời kỳ hội nhập quốc tế hiện nay.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Ý nghĩa lý luận: Làm rõ giáo dục đạo đức trong gia đình và những yêu
cầu của giáo dục đạo đức trong gia đình thời kỳ hội nhập quốc tế ở Việt Nam
hiện nay.
- Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn có thể trở thành tài liệu tham khảo cho
học sinh, sinh viên, các bậc làm cha mẹ, các thành viên trong gia đình cũng
như những người quan tâm tới lĩnh vực đạo đức trong gia đình với hội nhập
quốc tế hiện nay.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gia đình trong sự phát triển của xã hội loài người.
Theo quan niệm của chủ nghĩa Mác - Lênin: Gia đình là một hình thức
cộng đồng xã hội đặc biệt, được hình thành, duy trì và củng cố chủ yếu trên
8
cơ sở hôn nhân và huyết thống. Yếu tố huyết thống và tình cảm là đặc trưng
bản chất nhất của gia đình
Kế thừa lý luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất
coi trọng vai trò, vị thế của gia đình. Người nói “Nhiều gia đình cộng lại mới
thành xã hội, gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt.
Hạt nhân của xã hội là gia đình” [51, tr. 523].
Kế thừa tư tưởng Hồ Chí Minh về gia đình, Đảng ta đã xác định một
trong những yếu tố quan trọng nhất quy định sự phát triển bền vững của xã
hội là gia đình. Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, Đảng ta khẳng định
chủ trương: Phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt
Nam thích ứng với những đòi hỏi của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, thật sự là tổ ấm của
mỗi con người, là tế bào lành mạnh của xã hội, là môi trường quan trọng hình
thành nuôi dưỡng và giáo dục nhân cách con người, bảo tồn và phát huy
truyền thống tốt đẹp, tạo nguồn lực phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc.
Quan niệm về gia đình căn cứ vào thực tiễn của hôn nhân và gia đình ở
nước ta hiện nay: Theo tác giả Đặng Cảnh Khanh và Lê Thị Quý thì “Gia đình là
một thiết chế xã hội đặc thù và liên kết con người lại với nhau nhằm thực hiện
việc duy trì nòi giống, chăm sóc và giáo dục con cái. Các mối quan hệ gia đình
được gọi là quan hệ họ hàng. Đó là những liên kết ít nhất cũng là hai người dựa
trên quan hệ huyết thống, hôn nhân và việc nhận con nuôi” [37, tr.54].
Theo giáo sư Lê Thi: “Khái niệm gia đình được dùng để chỉ một nhóm
đình như sau: Gia đình là một hình thức tổ chức cơ bản trong đời sống cộng
đồng của con người, được hình thành, tồn tại và phát triển trên cơ sở của quan
hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dưỡng và giáo dục,…
Từ các cách hiểu trên, có thể đề cập đến gia đình với các đặc điểm sau:
Gia đình là một thiết chế xã hội được hình thành trước hết trên cơ sở
của quan hệ hôn nhân, nó nổi bật trên quan hệ đặc trưng có tính chất là quan
10
hệ huyết thống. Nó chỉ phát triển tốt đẹp dựa trên cơ sở của tình yêu và hôn
nhân chính đáng, hợp pháp. Trong gia đình còn có quan hệ nuôi dưỡng là loại
quan hệ giữa chủ thể và đối tượng được nuôi dưỡng.
- Khái niệm đạo đức
Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội phản ánh tồn tại xã hội. Nó là sự
phản ánh những quan hệ xã hội hiện thực được hình thành trên cơ sở kinh tế.
Khi được hình thành, đạo đức có tính độc lập tương đối và có tác động trở lại
tồn tại xã hội.
Theo Chủ nghĩa Mác - Lênin, đạo đức sinh ra trước hết là từ nhu cầu
phối hợp hành động trong lao động sản xuất, trong đấu tranh xã hội, trong
phân phối sản phẩm để con người tồn tại và phát triển. Cùng với sự phát triển
của sản xuất, các quan hệ xã hội, hệ thống các quan hệ đạo đức, ý thức đạo
đức, hành vi đạo đức cũng theo đó mà ngày càng phát triển, ngày càng nâng
cao, phong phú, đa dạng và ngày càng phức tạp.
Đạo đức là sản phẩm tổng hợp của các yếu tố khách quan và chủ quan,
là sản phẩm của hoạt động thực tiễn và nhận thức của con người. Trong hiện
thực, hành vi đạo đức của con người chỉ diễn ra trong các chủ thể đạo đức.
- Khái niệm đạo đức gia đình
Đạo đức gia đình là những giá trị, những chuẩn mực quy định trách
nhiệm, nghĩa vụ đạo đức của các thành viên trong gia đình để điều chỉnh hành
đại. Đang trong bước chuyển quá độ, nên gia đình Việt Nam hiện cùng tồn tại
nhiều giá trị khác nhau, cả những giá trị văn hóa gia đình truyền thống và cả
những giá trị văn hóa gia đình hiện đại. Đạo đức là cốt lõi của đời sống gia
đình truyền thống, nó thấm nhuần mọi mối quan hệ trong gia đình, tạo nên nề
nếp, tôn ti trật tự, sự êm ấm của gia đình. Đó là tình nghĩa vợ chồng sâu nặng,
lòng thủy chung son sắt; tình thương yêu của cha mẹ với con cái, sự hy sinh
vô bờ bến của các bậc sinh thành; sự hiếu thảo, tinh thần trách nhiệm và nghĩa
vụ của con cháu đối với ông bà, cha mẹ, đó là tình thương yêu đùm bọc, gắn
bó keo sơn, giúp đỡ nhau vô tư giữa anh chị em ruột thịt; tương thân tương ái
trong anh em họ hàng. Giáo dục gia đình là nhân tố căn bản tạo dựng giá trị
12
văn hóa cho mỗi con người từ nhỏ. Nó diễn ra trong suốt cuộc đời mỗi người
và góp phần tạo nên phẩm chất hiếu học quý báu. Giáo dục gia đình là
phương thức giáo dục tổng hợp với nhiều nội dung, phương pháp, nhiều chủ
thể, nhiều khung cảnh và cách tiếp cận khác nhau, nhưng chỉ hướng tới mục
đích duy nhất là giáo dục làm người. Nó đóng vai trò quan trọng nhất trong
việc hình thành nhân cách gốc của mỗi người. Nó tạo lập cho mỗi con người
những cơ sở căn bản của đạo đức, tình thương, trách nhiệm, nghị lực, kỹ năng
sống và ý chí vươn lên.
Giá trị tâm lý, tình cảm của gia đình. Gia đình là tổ ấm, ở đó con người
nhận được sự quan tâm chăm sóc, chở che, nâng đỡ, từ khi sinh ra đến khi từ
giã cõi đời, nơi con người hoàn toàn yên tâm nghỉ ngơi phục hồi sức khỏe và
tinh thần. Gia đình vốn là một cộng đồng xã hội, vì vậy, tình cảm, ý thức cộng
đồng được hình thành một cách tự nhiên đối với mỗi người. Từ tình cảm, ý
thức với cộng đồng gia đình, con người hòa nhập vào cộng đồng làng, nước.
Tình cảm cộng đồng là sự quan tâm đùm bọc, tương thân tương ái, giúp đỡ
nhau. Ý thức cộng đồng là thực hiện trách nhiệm và nghĩa vụ đối với mọi
trẻ em; Luật Bình đẳng giới, Luật Phòng, chống bạo lực trong gia đình.
Từ những đặc trưng của gia đình Việt Nam ta có thể rút ra đặc trưng
của đạo đức gia đình Việt Nam như sau:
Một là, đạo đức gia đình Việt Nam đang có những biến động to lớn do
những biến động dữ dội của xã hội. Hiện nay, nước ta đang thực hiện tiến
trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế trong xu
hướng toàn cầu hóa. Sự giao lưu mở cửa hội nhập đã đem đến cho gia đình
Việt Nam nhiều cơ hội. Gia đình Việt Nam có điều kiện phát triển kinh tế,
giao lưu hội nhập với các nền văn hóa tiên tiến, văn minh của các nước. Song,
bên cạnh những mặt tích cực đó, mặt trái của cơ chế thị trường cũng nảy sinh
nhiều vấn đề tác động đến đời sống gia đình Việt Nam, làm cho gia đình Việt
Nam đang đứng trước những thử thách, sóng gió. Cuộc sống của xã hội hiện
đại với sự phát triển mạnh mẽ của các thành phần kinh tế đã tác động đến đời
sống gia đình, ở một góc độ nào đó đã phá vỡ nề nếp gia phong, đạo đức của
14
gia đình truyền thống Việt Nam. Tình trạng ly hôn, ly thân, sống chung như
vợ chồng không đăng ký kết hôn, quan hệ tình dục trước hôn nhân và việc
nạo phá thai trong giới trẻ gia tăng, để lại những hậu quả nặng nề về nhiều
mặt đối với gia đình và xã hội. Xu hướng hôn nhân với người nước ngoài
ngày càng nhiều và sau hôn nhân nhiều phụ nữ di cư theo chồng sinh sống ở
nước ngoài cũng đặt ra mối quan tâm lo lắng của toàn xã hội. Các giá trị văn
hóa gia đình truyền thống tốt đẹp của người Việt Nam đang có biểu hiện
xuống cấp, mai một. Nhiều tệ nạn xã hội như ma túy, cờ bạc, rượu chè, mại
dâm, HIV/AIDS đã và đang xâm nhập vào các gia đình. Mâu thuẫn xung đột
giữa các thế hệ về phép ứng xử, lối sống và vấn đề chăm sóc người cao tuổi
đang đặt ra những thách thức mới. Tình trạng bạo lực trong gia đình có chiều
hướng ngày càng gia tăng mạnh mẽ đến mức báo động.
giúp chúng ta bảo tồn và phát huy sức mạnh nội sinh của dân tộc, vừa làm
chúng phong phú hơn nhờ sức mạnh ngoại sinh; đào tạo nên một lớp người
mới có đủ khả năng và bản lĩnh thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước.
Từ những năm đầu cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: Trong
di sản văn hóa truyền thống có những giá trị cơ bản, đặc sắc, độc đáo. Nhưng
nó là nền văn hóa xây dựng trên cơ sở nền văn minh nông nghiệp nên cũng có
nhiều điểm hạn chế, thiếu hụt. Do đó, phải “nâng cao trình độ khoa học kỹ
thuật”, phải xây dựng “đời sống mới”, “nền văn hóa mới” và “con người
mới”. Người viết tác phẩm Đời sống mới để hướng dẫn, giáo dục lối sống mới
cho mọi tầng lớp nhân dân.
Trong quan điểm về kế thừa và đổi mới, Người luôn tự khẳng định tư
duy độc lập, tự chủ, sáng tạo, luôn có ý thức “gạn đục khơi trong”, “đãi cát
tìm vàng”, tìm “hạt nhân hợp lý” để phát triển, đổi mới chúng cho phù hợp
với thực tiễn dân tộc Việt Nam và xu thế thời đại. Người chỉ rõ: “Đời sống
mới không phải cái gì cũng bỏ hết, không phải cái gì cũng làm mới. Cái gì cũ
mà xấu thì phải bỏ… Cái gì cũ mà không xấu, nhưng phiền phức thì phải sửa
đổi cho hợp lý… Cái gì cũ mà tốt thì phải phát triển thêm… Cái gì mới mà
hay thì ta phải làm” [49, tr94 – 95].
16
1.1.2. Giáo dục đạo đức trong gia đình Việt Nam
- Khái niệm giáo dục
Có rất nhiều ngành khoa học nghiên cứu về giáo dục, do đó cũng sẽ có
rất nhiều quan điểm khác nhau về giáo dục. Tuy nhiên, để nắm được cốt lõi
cái nghĩa của giáo dục, chúng ta nên tìm hiểu và để ý đến gốc rễ của từ “giáo
dục”. Từ “giáo dục” theo nghĩa gốc trong tiếng La Tinh là “educere” có nghĩa
là “lôi ra”, “đưa ra khỏi”. Vào thời đại La Mã còn đời sống thôn dã và tiếng
La Tinh là ngôn ngữ của dân chăn cừu thì “educere” chỉ có nghĩa rất đơn sơ là
đích của những người lớn trong gia đình và toàn bộ nếp sống của gia đình tới
con cái [73, tr. 233]. Giáo dục gia đình bao gồm nhiều nội dung khác nhau,
trong đó nội dung giáo dục đạo đức được coi là nội dung cơ bản của giáo dục
gia đình. Giáo dục đạo đức trong gia đình là sự tác động có hệ thống, có mục
đích của những người lớn trong gia đình nhằm chuyển hóa những nguyên tắc,
chuẩn mức đạo đức xã hội thành những phẩm chất đạo đức nhân cách cho con
cái, hình thành ở chúng thái độ đúng đắn trong giao tiếp, ý thức tự giác, tự
nguyện thực hiện các chuẩn mực đạo đức của xã hội, thói quen chấp hành các
quy định của pháp luật. Như vậy, giáo dục đạo đức trong gia đình là hoạt
động giáo dục diễn ra trong phạm vi gia đình nhưng khác với các thiết chế
giáo dục khác, nó dựa trên quan hệ thuyết thống, tình cảm thiêng liêng và có
chú ý đến tính cá biệt của từng đối tượng giáo dục. Giáo dục đạo đức trong
gia đình góp phần hiện thực hóa mục tiêu giáo dục chung của toàn xã hội đó
là giáo dục trẻ em trở thành con ngoan – trò giỏi, giáo dục các thành viên
trong gia đình trở thành những người công dân tốt cho xã hội.
Như vậy có thể hiểu một cách khái quát về giáo dục đạo đức trong gia
đình là hoạt động có mục đích bằng những biện pháp phù hợp của các thành
viên trong gia đình nhằm chuyển hóa những nguyên tắc, những chuẩn mực,
những giá trị đạo đức trong xã hội thành những phẩm chất đạo đức của các
thành viên trong gia đình để họ tự giác thực hiện nhằm xây dựng gia đình
thực sự trở thành tế bào của xã hội.
18
Như vậy, giáo dục đạo đức trong gia đình là quá trình giáo dục của các
thành viên trong gia đình tới những thành viên khác để chuyển hóa những yêu
cầu, chuẩn mực đạo đức của xã hội thành các phẩm chất của các thành viên
trong gia đình. Khi nói tới giáo dục đạo đức trong gia đình, người ta thường
nghĩ đó là sự dạy dỗ những đạo lý trong cuộc đời, những trách nhiệm và
giáo dục đạo đức trong gia đình. Thực hiện vai trò này, nhà nước phải xây
dựng hệ thống pháp luật để quản lý đời sống đạo đức trong gia đình: như luật
hôn nhân, luật bảo vệ bà mẹ và trẻ em, luật phòng chống bạo lực gia đình…
Các tổ chức chính trị - xã hội là những nơi tập hợp quần chúng nhân dân, vừa
là nơi bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân, vừa là nơi tuyên truyền phổ
biến quan điểm, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước tới nhân dân,
vừa là nơi truyền đạt kinh nghiệm, phổ biến những kiến thức cần thiết đến
mọi người, đồng thời là nơi thu thập ý kiến của quần chúng nhân dân tới
Đảng và Nhà nước. Các tổ chức quần chúng là nơi thuận lợi nhất cho việc phổ
biến những kiến thức, những kinh nghiệm giáo dục con cái của các cha mẹ,
xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc.
Giáo dục đạo đức trong gia đình Việt Nam hiện nay vừa mang tính
truyền thống vừa mang tính hiện đại. Trước đây, trong gia đình truyền thống,
giáo dục gia đình mang nặng tính độc quyền, gia trưởng. Ngày nay, giáo dục
đạo đức trong gia đình tiếp thu tinh thần bình đẳng, dân chủ, bao dung, vị tha…
Nội dung giáo dục đạo đức trong gia đình không chỉ bao gồm những
chuẩn mực đạo đức gia đình, xã hội trong phạm vi quốc gia mà còn xuất hiện
những chuẩn mực mang tính quốc tế. Như vậy, phương pháp giáo dục trong
gia đình cũng cần có nhiều đổi mới, dân chủ và bình đẳng hơn.
1.1.3. Nội dung và phương pháp giáo dục đạo đức trong gia đình hiện nay
1.1.3.1. Nội dung giáo dục đạo đức trong gia đình Việt Nam hiện nay
Giáo dục đạo đức cho con cái là giáo dục các giá trị đạo đức, các chuẩn
mực ứng xử cần thiết. Nội dung giáo dục đạo đức cho con cái trong gia đình
truyền thống chủ yếu tập trung vào giá trị đạo đức như: lòng hiếu thảo, tình
yêu thương, lễ phép, kính trọng đối với người trên, tôn sư trọng đạo, trung
20
thực, thẳng thắn,…Ngày nay, trong gia đình Việt Nam, nội dung giáo dục đạo