Bài tập học kỳ luật dân sự - Pdf 34

Bài tập học kỳ Luật Dân sự

A. LỜI NÓI ĐẦU
Mỗi người sống trong xã hội đều có những quyền cơ bản, một
trong số đó là quyền nhân thân hay chính là “nhân quyền”. Theo qui
định của pháp luật, quyền nhân thân là quyền dân sự, gắn liền với mỗi
cá nhân và không thể chuyển giao cho người khác, cụ thể như là danh
dự, nhân phẩm, uy tín ... Kinh tế - xã hội ngày càng phát triển, công
nghệ thông tin cũng đã len lỏi sâu rộng vào cuộc sống của con người
mang lại cho chúng ta một cuộc sống đầy đủ hơn, tiếp cận thông tin tốt
hơn, đó là những mặt tốt của vấn đề. Tuy thế, trong xã hội hiện đại này,
tên họ, hình ảnh, nhân phẩm, danh dự của nhiều công dân rất dễ bị bêu
rếu, xúc phạm trên mạng Internet, trên báo chí với nhiều động cơ, mục
đích khác nhau, điều đó khiến cho những người bị xúc phạm đó gặp
không ít khó khăn trong cuộc sống.
Để bảo vệ quyền nhân thân, danh dự, nhân phẩm, uy tín của công
dân, Nhà nước ta đã đưa ra nhiều phương thức khác nhau. Trong số đó
đã được cụ thể hóa trong luật pháp như Trách nhiệm bồi thường thiệt
hại do xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác tại Điều
611 – Bộ luật Dân sự 2005.
B. NỘI DUNG
I. Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín
- Danh dự đối với cá nhân là sự đánh giá của xã hội đối với một
cá nhân về các mặt đạo đức, phẩm chất chính trị và năng lực của người
đó. Danh dự của một con người được hình thành từ những hành động
và cách cư xử của người đó, từ công lao và thành tích mà người đó có
được.
1

Đoàn Thị Thu Hiền - 341219


2

Đoàn Thị Thu Hiền - 341219


Bài tập học kỳ Luật Dân sự

“Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp
luật bảo hộ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm.
Không ai bị bắt, nếu không có quyết định của Toà án nhân dân,
quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường
hợp phạm tội quả tang. Việc bắt và giam giữ người phải đúng pháp
luật.
Nghiêm cấm mọi hình thức truy bức, nhục hình, xúc phạm danh
dự, nhân phẩm của công dân”.
(Điều 71 Hiến pháp 1992).
“Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản
án kết
tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật.
Người bị bắt, bị giam giữ, bị truy tố, xét xử trái pháp luật có
quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất và phục hồi danh dự.
Người làm trái pháp luật trong việc bắt, giam giữ, truy tố, xét xử gây
thiệt hại cho người khác phải bị xử
lý nghiêm minh”.
(Điều 72 Hiến pháp 1992).
“Công dân có quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở.
Không ai được tự ý vào chỗ ở của người khác nếu người đó
không đồng ý, trừ trường hợp được pháp luật cho phép.
Thư tín, điện thoại, điện tín của công dân được bảo đảm an toàn
và bí mật.

- Trong Bộ luật Dân sự năm 2005 : Quyền được bảo vệ danh dự
nhân phẩm, uy tín được quy định tại các Điều 31- Quyền của cá nhân
đối với hình ảnh; Điều 37- Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy
tín; Điều 38 –
Quyền bí mật đời tư.
Vì thế nên khi danh dự, nhân phẩm, uy tín của một người bị xâm
phạm, họ sẽ có các quyền được quy định tại Điều 25 :
« Khi quyền nhân thân của cá nhân bị xâm phạm thì người đó có
4

Đoàn Thị Thu Hiền - 341219


Bài tập học kỳ Luật Dân sự

quyền:
1. Tự mình cải chính;
2. Yêu cầu người vi phạm hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm
quyền buộc người vi phạm chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi, cải chính
công khai;
3. Yêu cầu người vi phạm hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm
quyền buộc người vi phạm bồi thường thiệt hại. »
Điều 611 Bộ luật Dân sự năm 2005 đã cụ thể hóa điều đó :
« Người xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác
phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một
khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh
chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả
thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa không quá mười
tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định. »
Qua những dẫn chứng trên, đã khẳng định một điều là : mỗi

lại tình trạng trước khi xảy ra thiệt hại, chỉ cần có thiệt hại xảy ra kể cả
thiệt hại không nghiêm trọng thì người gây thiệt hại vẫn phải có trách
nhiệm bồi thường. Thiệt hại hiểu theo nghĩa thông thường còn là sự bị
mất hoặc bị giảm bớt những lợi ích vật chất hay tinh thần của một
người do sự kiện gây thiệt hại của người khác, nó còn bao gồm cả
những chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại…tất
cả những thiệt hại này được xác định bằng giá trị một khoản tiền cụ
thể. Thiệt hại là tiền đề quan trọng có tính bắt buộc để xác định trách
nhiệm bồi thường thiệt hại vì vậy điều kiện đầu tiên khi đánh giá thiệt
hại để làm cơ sở quy trách nhiệm bồi thường đó là: phải xác định được
thiệt hại khách quan chứ không phải là những thiệt hại theo suy diễn
chủ quan của những người làm luật và áp dụng pháp luật bởi thiệt hại
thường bao gồm cả hai loại trực tiếp và gián tiếp. Nhất là những thiệt
hại do xâm phạm danh dự, uy tín, nhân phẩm là những thiệt hại về các
quyền nhân thân rất khó xác định những tổn thất thực tế thành tiền một
6

Đoàn Thị Thu Hiền - 341219


Bài tập học kỳ Luật Dân sự

cách chính xác tuyệt đối. Giống như cách xác định trách nhiệm bồi
thường thiệt hại nói chung, những thiệt hại do xâm phạm đến các
quyền nhân thân được xác định bao gồm: “trách nhiệm bồi thường về
vật chất và trách nhiệm bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần” (Điều
307 BLDS).
Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm uy tín bị xâm hại bao gồm chi
phí hợp lý để ngăn chặn, khắc phục thiệt hại, thu nhập thực tế bị mất,
bị giảm sút do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm hại.

đều bị coi là hành vi trái pháp luật.
Mà như ta đã biết Quyền được bảo vệ về tính mạng, sức khỏe,
danh dự, uy tín, tài sản là một quyền tuyệt đối của mọi công dân, tổ
chức. Mọi người đều phải tôn trọng những quyền đó của chủ thể khác,
không được thực hiện bất cứ hành vi nào “xâm phạm” đến các quyền
tuyệt đối đó.
Hành vi gây thiệt hại thông thường thể hiện dưới dạng hành
động. Chủ thể đã thực hiện hành vi mà đáng ra không được thực hiện
các hành vi đó. Trên thực tế, nếu xét về hậu quả hành vi thì không phải
bao giờ hành vi gây thiệt hại cũng bị coi là hành vi trái pháp luật. Hành
vi gây thiệt hại có thể là hành vi hợp pháp nếu người thực hiện hành vi
đó theo nghĩa vụ mà pháp luật hoặc nghề nghiệp buộc họ phải thực
hiện hành vi đó, hay đo là những hành vi phù hợp với phạm vi mà luật
cho phép. Ví dụ như gây thiệt hại trong các trường hợp phòng vệ chính
đáng, tình thế cấp thiết hay sự kiện bất ngờ.
3. Quan hệ nhân quả giữa thiệt hại và hành vi trái pháp luật.
Quan hệ nhân quả là mối quan hệ khách quan của bản thân các sự
vật, tất cả các hiện tượng đều được gây nên bởi những nguyên nhân
nhất định. Khi xem xét mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp
luật với thiệt hại xảy ra, cần thiết phải phân biệt nguyên nhân với
những điều kiện nhất định. Những điều kiện này là những hiện tượng
cần thiết cho một biến cố nào đó xảy ra, nhưng bản thân chúng không

8

Đoàn Thị Thu Hiền - 341219


Bài tập học kỳ Luật Dân sự




Bài tập học kỳ Luật Dân sự

4. Có lỗi của người gây thiệt hại.
Lỗi là một trong bốn yếu tố để xác định trách nhiệm bồi thường
thiệt hại ngoài hợp đồng nói chung và trách nhiệm bồi thường thiệt hại
do xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác nói riêng.
Chúng ta bắt buộc phải xem xét đến yếu tố này, bởi lẽ, trên thực tế đã
chứng minh có những trường hợp xảy ra, lỗi hoàn toàn thuộc về người
chịu thiệt hại. Ví dụ như, có những ca sĩ, diễn viên, tự mình đã tạo ra
scandan với những hình thức khác nhau để mong muốn mình được mọi
người quan tâm, để ý đến. Vô tình hay cố ý, những hành vi này đã xâm
phạm đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của chính họ. Lỗi trong những
trường hợp này thuộc về chính bản thân những người có danh dự, nhân
phẩm, uy tín bị xâm phạm. Lúc này, trách nhiệm gây ra thiệt hại không
thể quy cho ai khác được.
Theo quy định tại Điều 308 Bộ luật Dân sự thì : Người không
thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ dân sự thì phải chịu
trách nhiệm dân sự khi có lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý, trừ trường hợp có
thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.
Như vậy khi lỗi là của người gây ra thiệt hại thì người gây thiệt
hại phải chịu trách nhiệm dân sự khi họ có lỗi. Xét về hình thức lỗi là
thái độ tâm lý của người có hành vi gây ra thiệt hại, lỗi được thể hiện
dưới hai dạng hình thức là lỗi cố ý hay lỗi vô ý.
- Cố ý gây thiệt hại là trường hợp một người nhận thức rõ hành vi
của mình sẽ gây thiệt hại cho người khác mà vẫn thực hiện và mong
muốn hoặc tuy không mong muốn, nhưng để mặc cho thiệt hại xảy ra.
Trong trường hợp này, cho dù người gây thiệt hại có mong muốn hay
không mong muốn hành vi của mình sẽ gây thiệt hại cho người khác

do lỗi của người bị thiệt hại thì người gây thiệt hại không phải bồi
thường. Việc trách nhiệm hỗn hợp lỗi căn cứ vào mức độ lỗi của mỗi
bên có tính thuyết phục, bởi tính hợp lý của cách xác định đó.
Lỗi là một trong bốn điều kiện làm phát sinh trách nhiệm bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói riêng và trách nhiệm dân sự nói
11

Đoàn Thị Thu Hiền - 341219


Bài tập học kỳ Luật Dân sự

chung. Nhưng lỗi trong trách nhiệm dân sự có những trường hợp là lỗi
suy đoán. Bởi hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật nên người
thực hiện hành vi đó bị suy đoán là có lỗi. Người bị thiệt hại trong
nhiều trường hợp không thể chứng minh được, nếu buộc họ chứng
minh sẽ bất lợi cho họ. Vì vậy, Bộ luật Dân sự đã quy định nghĩa vụ
chứng minh về lỗi thuộc về người gây thiệt hại như là một sự bổ sung
nghĩa vụ của người đó.
Con người phải chịu trách nhiệm khi họ có lỗi, có khả năng nhận
thức và làm chủ được hành vi của mình. Bởi vậy, những người không
có khả năng nhận thức và làm chủ được hành vi của mình thì được coi
là không có lỗi trong việc thực hiện các hành vi đó. Những người chưa
có năng lực hành vi, bị mất năng lực hành vi, không thể nhận thức, làm
chủ được hành vi của họ, thì họ không phải chịu trách nhiệm. Trong
trường hợp trên cha mẹ, người giám hộ, trường học, bệnh viện là
những người theo quy định của pháp luật phải quản lý, chăm sóc, giáo
dục…được suy đoán là đã có lỗi khi không thực hiện các nghĩa vụ nêu
trên và họ phải chịu trách nhiệm do lỗi của họ.
Trong trách nhiệm dân sự do gây thiệt hại vấn đề hình thức lỗi,

thiệt hại cũng đều phải tuân thủ nghiêm chỉnh là đầy đủ bốn yếu tố
trên. Nếu thiếu một trong bốn yếu tố này thì có nghĩa là việc xác định
trách nhiệm bồi thường thiệt hại chưa được xem xét một cách khách
quan, toàn diện.
Khi hành vi của một chủ thể được xác định đầy đủ bốn yếu tố
như trên thì có nghĩa là họ sẽ có trách nhiệm phải bồi thường thiệt hại
do xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác. Vậy,
câu hỏi đặt ra là Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do xâm
phạm danh dự, nhân phẩm của người khác và bồi thường như thế nào
và nồi thường bao nhiêu được đề cập đến trong phần III này.

13

Đoàn Thị Thu Hiền - 341219


Bài tập học kỳ Luật Dân sự

III. Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại và nguyên tắc
tính mức bồi thường thiệt hại do xâm phạm danh dự, nhân phẩm
cá nhân.
1. Năng lực chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
Khi do hành vi của một chủ thể này đã xâm phạm đến danh dự,
nhân phẩm, uy tín của người khác mà thiệt hại đối với người bị xâm
phạm đã xảy ra và yếu tố lỗi thuộc về người gây ra hành vi xâm phạm
thì đương nhiên người gây ra hành vi ấy hay gọi là người gây thiệt hại
đương nhiên phải bồi thường. Người gây ra thiệt hại có thể là bất cứ
chủ thể nào: cá nhân, pháp nhân, cơ quan nhà nước…Nhưng việc bồi
thường thiệt hại phải do người có “khả năng” bồi thường và chính họ
phải tham gia vào quan hệ nghĩa vụ, mặc dù hành vi gây ra thiệt hại có

lấy tài sản của con để bồi thường. Đối với những người từ 15 đến dưới
18 tuổi thì lấy tài sản của con để bồi thường cha mẹ chịu trách nhiệm
bổ
sung phần còn thiếu.
- Những người dưới 15 tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự
gây ra thiệt hại trong thời gian ở trường học, bệnh viện quản lý thì
trường học, bệnh viện phải bồi thường. Nếu các tổ chức nêu trên mà
không có lỗi thì cha mẹ, người giám hộ phải bồi thường.
- Người giám hộ đương nhiên, giám hộ được cử đối với những
người phải có giám hộ theo quy định tại khoản 2 Điều 58 BLDS được
dùng tài sản của người được giám hộ để bồi thường. Người giám hộ có
nghĩa vụ bổ sung. Tuy nhiên nếu họ chứng minh được rằng họ không
có lỗi trong việc giám hộ thì họ không phải lấy tài sản của mình để bồi
thường. Trong trường hợp này sẽ không có người bồi thường thiệt hại
bởi những người được giám hộ không có khả năng về năng lực hành vi
để bồi thường, nếu họ có tài sản có thể dùng tài sản của họ để bồi
thường.
2. Nguyên tắc tính mức bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân
phẩm của cá nhân bị xâm hại.
15

Đoàn Thị Thu Hiền - 341219


Bài tập học kỳ Luật Dân sự

a. Phải bồi thường toàn bộ và kịp thời các thiệt hại vật chất đã xảy ra
và bù đắp một phần những tổn thất tinh thần bằng một lượng giá trị
vật chất nhất định.
Đây là nguyên tắc chung bao trùm và là một nguyên tắc công

~ Chi phí thu hồi của một ấn phẩm hay đăng lời cải
chính trên các phương tiện thông tin đại chúng để khôi phục lại danh
dự, nhân phẩm… .
Điều 611 quy định phải bồi thường chi phí hợp lý, thế nhưng khái
niệm “chi phí hợp lý” ở đây chỉ mang tính chỉ mang tính định tính,
không phải là yếu tố định lượng. Việc xác định thế nào là chi phí cho
từng vụ án là thuộc trách nhiệm của Thẩm phán giải quyết của vụ án
bởi lẽ mỗi vụ án có đặc thù riêng, không vụ nào giống vụ nào, cho nên
thiệt hại cụ thể của từng vụ án là hoàn toàn khác nhau. Vì vậy, xem xét
đánh giá chi phí nào là chi phí hợp lý phải đặt trong bối cảnh không
gian, thời gian và diễn biến cụ thể của từng vụ án. Ví dụ chi phí cho đi
lại để thu hồi một ấn phẩm, hay giá trị số thuốc theo đơn phải mua ở
nước ngoài…không thể cao hơn mức giá trung bình ở địa phương tại
thời điểm đó. Mức giá trung bình được coi là mức giá hợp lý. Nếu
người bị thiệt hại đưa ra mức giá cao hơn rất nhiều so với lần mức giá
trung bình ở địa phương là không hợp lý. Nếu các chi phí không liên
quan trực tiếp đến hành vi gây thiệt hại về danh dự, nhân phẩm thì
cũng không được coi là những chi phí hợp lý của vụ án.
+ Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút phải là những
khoản thu nhập có thực không được suy đoán. Trước khi có hành vi
gây thiệt hại họ vẫn có thu nhập bình thường, ổn định nhưng từ khi có
hành vi xâm phạm đến quan hệ nhân thân này thì khoản thu nhập đó
không còn, hoặc bị giảm sút so với trước. Vì vậy khoản thu nhập bị
mất chính là khoản thu nhập không thu được của người bị hại. Khoản
thu nhập bị mất đó có thể là:
~ Thu nhập bị mất trong thời gian nạn nhân nằm viện
(ví dụ như để điều trị tâm lý do chịu ảnh hưởng từ việc danh dự, nhân
17

Đoàn Thị Thu Hiền - 341219

dự, nhân phẩm, uy tín của người khác còn gây ra những thiệt hại tinh
18

Đoàn Thị Thu Hiền - 341219


Bài tập học kỳ Luật Dân sự

thần. Khoản tiền bù đắp về tinh thần không phải là đại lượng để xác
định những thiệt hại về tinh thần mà người bị thiệt hại hoặc người thân
thích của họ bị tổn thất bởi lẽ những tổn thất về tinh thần không thể
cân, đong, đo, đếm, xác định được một cách chính xác hoặc tương đối
chính xác như thiệt hại về vật chất; mức độ tổn thất về tinh thần nhiều
hay ít cũng không phụ thuộc vào tính chất nguy hiểm của hành vi xâm
phạm; cũng không phụ thuộc vào hình thức lỗi của người xâm phạm,
mà nó hoàn toàn phụ thuộc vào mức độ đau thương, buồn phiền, mất
mát về tình cảm, giảm sút hoặc mất uy tín, bị xa lánh, bị hiểu lầm của
người bị thiệt hại hoặc người thân thích của người bị thiệt hại... . Muốn
hạn chế, khắc phục những thiệt hại về tinh thần phải dùng nhiều biện
pháp như chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi, cải chính công khai…
Tuy vậy, biện pháp buộc người gây thiệt hại về tinh thần phải bồi
thường bằng một số tiền nhất định có tác dụng an ủi, động viên là dịu
bớt nỗi đau của họ, góp phần giảm bớt những thiệt hại tinh thần mà họ
phải gành chịu.
- Những tổn thất tinh thần có thể gồm:
+ Sự đau đớn thể xác hoặc mất tự do
~ Đau đớn về thể xác có thể xảy ra khi nạn nhân đang
bị thủ phạm dùng bạo lực tấn công (hiếp dâm, ngược đãi, làm nhục…)
~ Những cơn đau do bệnh tật tạo ra (thủ phạm hiếp
dâm..có thể truyền bệnh cho nạn nhân)

Trong trường hợp nhiều người cùng có hành vi gây thiệt hại về
danh dự,
nhân phẩm cho một hoặc một số người thì họ cũng chịu trách nhiệm
liên đới bồi thường toàn bộ thiệt hại. Trách nhiệm bồi thường của từng
người gây thiệt hại được xác định trên cơ sở lỗi của họ. Trong trường
hợp không xác định được lỗi của mỗi người thì họ phải chịu trách
nhiệm bồi thường bằng nhau cho toàn bộ thiệt hại.
b. Người gây thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường hoặc không
phải bồi thường trong các trường hợp đặc biệt.
20

Đoàn Thị Thu Hiền - 341219


Bài tập học kỳ Luật Dân sự

* Giảm mức bồi thường.
- Theo quy định tại khoản 2 Điều 605 “Người gây thiệt hại có thể
được giảm mức bồi thường, nếu do lỗi vô ý mà gây thiệt hại quá lớn so
với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của mình”. Dưới góc độ lý
thuyết thì các hành vi vi phạm pháp luật do lỗi cố ý là thể hiện sự
chống đối xã hội cao hơn các hành vi do lỗi vô ý. Do đó nguyên tắc
này không đặt vấn đề giảm bồi thường do lỗi cố ý, mà chỉ xem xét
giảm bồi thường trong trường hợp người gây thiệt hại do lỗi vô ý. Đây
là nguyên tắc cụ thể bổ sung cho nguyên tắc trên nhằm vừa đảm bảo
tính khả thi của các quyết định buộc bồi thường, vừa căn cứ và mức độ
lỗi để đảm bảo tính hợp lý khi buộc bồi thường. Tuy nhiên quy định
này mới chỉ định tính chứ chưa định lượng tức là không quy định cụ
thể việc giảm mức bồi thường bao nhiêu, cho nên việc quyết định giảm
mức bồi thường trong từng vụ cụ thể phải căn cứ vào điều kiện, hoàn

thiệt hại bồi thường.
- Người gây thiệt hại và người bị thiệt hại thỏa thuận với nhau về
mức bồi thường thấp hơn thiệt hại, thì ngay cả trong trường hợp lỗi cố
ý nhưng có sự thỏa thuận với người bị thiệt hại về mức bồi thường thấp
hơn thiệt hại, nếu thỏa thuận đó không trái pháp luật và đạo đức xã hội,
được Tòa án công nhận thì người gây thiệt hại được miễn giảm phần
bồi thường thiệt hại do mình gây ra.
* Không phải bồi thường.
Theo quy định tại Điều 617 Bộ luật Dân sự thì nếu thiệt hại xảy
ra hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại thì người gây thiệt hại không
phải bồi thường.
Những trường hợp đó xác định như sau :
- Nếu thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại cho
dù lỗi đó là vô ý hay cố ý, mà người gây thiệt hại hoàn toàn không có
lỗi thì người gây thiệt hại không phải bồi thường - Việc gây thiệt hại
trong tình huống bất ngờ.

22

Đoàn Thị Thu Hiền - 341219


Bài tập học kỳ Luật Dân sự

- Người gây thiệt hại có lỗi vô ý và người bị thiệt hại cũng có lỗi
cố ý trong việc gây ra thiệt hại thì người gây thiệt hại không phải bồi
thường. Có nghĩa là trong trường hợp, người bị thiệt hại về danh dự,
nhân phẩm, uy tín cố ý gây ra thiệt hại này, còn người gây thiệt hại vì
lý do nào có (có thể là do chính người bị thiệt hại lợi dụng để thực hiện
mục đích) mà vô ý gây ra thiệt hại.

1. Thực trạng
Những năm gần đây, số lượng những vụ việc xâm phạm quyền
được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín được giải quyết tại cơ quan,
tổ chức có thẩm quyền tăng lên đáng kể, đặc biệt là số vụ việc được
giải quyết theo thủ tục tố tụng tại Toà án. Mặc dù những vụ việc này
chủ yếu được giải quyết tại các thành phố lớn như thành phố Hồ Chí
Minh, Hà nội và phần lớn liên quan đến cá nhân, tổ chức hoạt động văn
học, nghệ thuật, tuy nhiên, điều này cũng chứng tỏ mức độ nhận thức
cao hơn của cá nhân, tổ chức về quyền được bảo vệ danh dự, nhân
phẩm, uy tín và hoạt động giải quyết những vụ việc bồi thường thiệt
hại do xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của Tòa án.
Tuy nhiên, thực tế của việc bồi thường thiệt hại do xâm phạm đến
danh dự, nhân phẩm, uy tín còn khá nhiều bất cập như :
- Cơ quan, tổ chức có thẩm quyền gặp khó khăn trong xác định
hành vi xâm phạm quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín.
- Cơ quan, tổ chức có thẩm quyền gặp khó khăn trong xác định
mức bù đắp tổn thất tinh thần. Thực tế, bên bị xâm phạm quyền được
bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín thường chứng minh tổn thất tinh
thần và yêu cầu được bồi thường nhưng mức bồi thường trong bản án,
quyết định của Toà án lại rất nhỏ so với tổn thất mà bên bị xâm phạm
phải ghánh chịu. Chính vì vậy, bên bị xâm phạm không thấy thoả đáng;
bản án, quyết định của Toà án không mang tính thuyết phục, thậm chí
còn gây khiếu kiện kéo dài.
Trong lĩnh vực bồi thường tổn thất về tinh thần còn một vấn đề
nổi cộm, hết sức bức xúc hiện được rất nhiều người quan tâm đó là
24

Đoàn Thị Thu Hiền - 341219



Đoàn Thị Thu Hiền - 341219



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status