Một số tình huống về định tội danh trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự - Pdf 34

LỜI MỞ ĐẦU
Định tội danh là một vấn đề rất quan trọng trong quá trình giải quyết
các vụ án hình sự, là tiền đề cho việc phân hóa trách nhiệm hình sự và cá
thể hoá hình phạt một cách công minh, chính xác. Tuy nhiên, việc định
tội danh chính xác thật không dễ dàng. Trên thực tiễn xung quanh một vụ
án có rất nhiều quan điểm về việc xác định tội danh của người phạm tội
đặc biệt là đối với những vụ án mà hành vi phạm tội của người phạm tội
không thể hiện các yếu tố cấu thành tội phạm một cách đặc trưng, rõ ràng.
Trường hợp phạm tội của A thông qua tình huống số 5 là một minh
chứng rõ nét. Xung quanh hành vi của A, có hai quan điểm như sau: 1.
Hành vi của A cấu thành tội công nhiên chiếm đoạt tài sản; 2. Hành vi
của A cấu thành tội chiếm giữ trái phép tài sản. Vậy, ý kiến nào mới là ý
kiến đúng. Cùng khẳng định qua bài viết dưới đây.
GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG
Trong tình huống đưa ra không đề cập đến vấn đề độ tuổi cũng như
năng lực chịu TNHS của K, vì thế có thể mặc nhiên hiểu là K có đầy đủ
các điều kiện để trở thành chủ thể thường của tội phạm. Như vậy, với dấu
hiệu chủ thể này thì K hoàn toàn có thể trở thành chủ thể của tội công
nhiên chiếm đoạt tài sản hay tội chiếm giữ trái phép tài sản được nếu thực
hiện hành vi thỏa mãn các dấu hiệu khác của một trong hai loại tội này.
1. Về ý kiến thứ nhất: Hành vi của K cấu thành tội công nhiên
chiếm đoạt tài sản.
Để khẳng định hành vi của K có cấu thành tội công nhiên chiếm đoạt
tài sản hay không thì cần thiết phải xem xét hành vi của K có thỏa mãn
cấu thành tội phạm của tội công nhiên chiếm đoạt tài sản không?
1


- Về khách thể của tội phạm.
Mặc dù tội công nhiên chiếm đoạt tài sản được quy định trong chương
các tội phạm xâm phạm sở hữu, nhưng khác với tội cướp tài sản tội, bắt

động không thỏa mãn đối tượng tác động của tội công nhiên chiếm đoạt
tài sản.
Trong tình huống, ngoài số tiền 4.500.000 đồng còn đề cập đến việc K
có hành vi chiếm giữ một số giấy tờ trong cặp của ông A. Vấn đề đặt ra là
số giấy tờ này có được coi là đối tượng của tội phạm trong do Luật hình
sự điều chỉnh hay không? Và liệu có được định giá để xác định mức thiệt
hại do hành vi của K gây ra? Các tình tiết trong tình huống không nói đến
dấu hiệu cụ thể của loại giấy tờ này, vì vậy không thể khẳng định được
bản chất của loại giấy tờ này cũng như việc loại giấy tờ này có thuộc đối
tượng được định giá hay không. Từ đó có thể xác định tài sản A chiếm
giữ không bao gồm cả loại giấy tờ này. Thực tiễn xét xử cho thấy nhiều
trường hợp người bị hại còn bị mất các giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu
tài sản như: giấy chứng nhận đăng ký xe máy, xe ô tô, giấy chứng nhận
quyền sở hữu về nhà ở, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,…nhưng các
loại giấy tờ này dù có đem bán, đem trao đổi với giá trị lớn nhưng không
thể coi nó là tài sản2.
Như vậy, đối tượng mà hành vi của A tác động không thỏa mãn đối
tượng tác động của tội công nhiên chiếm đoạt tài sản.
- Về mặt khách quan của tội phạm.
+ Xét hành vi khách quan:
Đối với tội công nhiên chiếm đoạt tài sản: Do đặc điểm riêng của tội
công nhiên chiếm đoạt tài sản nên người phạm tội chỉ có một hành vi
khách quan duy nhất là “chiếm đoạt”, nhưng chiếm đoạt bằng bằng hình
2

Bình luận khoa học Bộ luật hình sự, phần các tội phạm – tập 2.

3



chủ sở hữu được vì tại thời điểm K thực hiện hành vi chiếm giữ, A không
hề biết và chứng kiến chính vì vậy, hành vi này không có tính chất công
khai giống như hành vi của tội công nhiên chiếm đoạt tài sản. Hơn nữa,
việc K có được tài sản không hề sử dụng bất cứ một thủ đoạn nào, mà
việc có được tài sản là ngẫu nhiên trong khi đó hành vi khách quan của tội
công nhiên chiếm đoạt tài sản chỉ có thể thực hiện được dựa trên thủ đoạn
sơ hở của người quản lý tài sản hoặc lợi dụng hoàn cảnh khách quan khác.
+ Xét hậu quả của hành vi:
Hậu quả của tội công nhiên chiếm đoạt tài sản là thiệt hại về tài sản mà
cụ thể là giá trị tài sản bị chiếm đoạt. Theo quy định tại khoản 1 Điều 137
BLHS, giá trị tài sản bị chiếm đoạt từ 2.000.000 đồng trở lên hoặc nếu tài
sản bị chiếm đoạt dưới 2.000.000 đồng thì phải kèm điều kiện gây hậu
quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt
hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa bị xóa án tích mà còn vi
phạm thì mới cấu thành tội công nhiên chiếm đoạt tài sản.
Hành vi của K đã gây ra thiệt hại về tài sản cho A mà cụ thể là số tiền
4.500.000 đồng, thỏa mãn dấu hiệu hậu quả trong tội công nhiên chiếm
đoạt tài sản (tài sản chiếm đoạt từ 2.000.000 đồng trở lên). Tuy nhiên, số
tiền này K có được không phải thông qua hành vi chiếm đoạt.
- Xét lỗi của K đối với hành vi: Trong tình huống, K thực hiện hành
vi chiếm giữ tài sản của A với lỗi cố ý trực tiếp, ban đầu K mở cặp của A
ra vì tò mò nhưng sau khi phát hiện ra số tiền trong cặp của A, K đã nảy
sinh ý định chiếm đoạt, mặc dù hoàn toàn nhận thức được hành vi của
5


mình là sai trái nhưng K vẫn cố tình thực hiện đến cùng và mong muốn
cho hậu quả xảy ra.
Tóm lại hành vi của K không cấu thành tội công nhiên chiếm đoạt
tài sản hay nói cách khác: ý kiến “hành vi của K cấu thành tội công

mãn đối tượng tác động của tội chiếm giữ trái phép tài sản.
- Xét mặt chủ quan của tội phạm:
Lỗi của người phạm tội chiếm giữ trái phép tài sản là lỗi cố ý trực tiếp,
người phạm tội biết tài sản đang có không phải là tài sản của mình và biết
mình có nghĩa vụ phải trả lại cho chủ tài sản hoặc phải giao nộp cho cơ
quan công an có trách nhiệm nhưng không thực hiện nghĩa vụ đó vì mong
muốn biến tài sản đó thành tài sản của mình.
Thái độ của người phạm tội là thái độ cố tình (cương quyết, dứt
khoát) không chịu giao nộp hoặc không chịu trả tài sản mặc dù đã được
chủ tài sản hoặc cơ quan có trách nhiệm yêu cầu được nhận lại tài sản đó
theo đúng quy định của pháp luật.
Như đã phân tích ở trên, K thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp.
Trong tình huống có tình tiết “Chủ của chiếc cặp sách là ông A sau đó có
đến hỏi bà H xem có giữ lại chiếc cặp của ông không, nếu có thì cho ông
xin lại và hứa sẽ hậu tạ. Bà H nói rằng hàng quán khách vào nhiều nên
không biết gì về chiếc cặp sách”, có quan điểm cho rằng tình tiết này đã
chứng minh một điều rằng bà H có thái độ cố tình không trả lại tài sản
đồng nghĩa với việc K cũng có thái độ cố tình không trả lại tài sản của A
vì K và bà H thống nhất ý chí với nhau trong trường hợp này mặc dù K
7


không biết việc ông A đến xin lại tài sản. Tuy nhiên, nhận định này không
đúng bởi lẽ như đã phân tích ở trên, thái độ cố tình không trả lại tài sản là
từ phía bà H, các tình tiết trong tình huống không hề đề cập đến việc bà H
thông báo với K là chủ sở hữu tài sản (ông A) yêu cầu bà H cho nhận lại
tài sản, hơn nữa K cũng không nhận được yêu cầu trực tiếp của ông A về
việc đòi lại tài sản vì thế không thể khẳng định K có thái độ cố tình không
trả lại tài sản cho ông A. Bên cạnh đó, K cũng không có thái độ cố tình
không giao nộp cho cơ quan có trách nhiệm tài sản mình “bắt được” vì

+ Tài sản có giá trị từ 10.000.000 đồng trở lên.
+ Cổ vật hoặc vật có giá trị lịch sử, văn hoá (không cần xét đến giá trị).
Hậu quả do hành vi của K gây ra không thỏa mãn dấu hiệu hậu quả
trong hành vi phạm tội của tội chiếm giữ trái phép tài sản vì tài sản mà K
bắt được chỉ đơn thuần là “chiếc cặp trong đó có số tiền 4.500.000 đồng”
(không phải cổ vật hoặc vật có giá trị lịch sử, văn hoá), số tiền mà K
chiếm giữ không đủ để cấu thành tội chiếm giữ trái phép tài sản đối với K.
Còn về một số giấy tờ mà K giữ, như đã phân tích ở trên, những loại
giấy tờ không được xét để định giá trong luật hình sự.
Từ các căn cứ trên có thể khẳng định K không phạm tội chiếm giữ trái
phép tài sản hay nói cách khác ý kiến “Hành vi của K cấu thành tội
chiếm giữ trái phép tài sản” là sai.
Mở rộng: Xung quanh hành vi của K, có nhiều ý kiến cho rằng K
phạm tội trộm cắp tài sản theo quy định tại Điều 138 BLHS. Tuy nhiên, ý
kiến này đưa ra không đúng theo quy định của pháp luật bởi lẽ, dấu hiệu
9


của tội trộm cắp tài sản là dấu hiệu hành vi chiếm đoạt cùng với hai dấu
hiệu khác thể hiện tính chất của hành vi chiếm đoạt và tính chất của đối
tượng bị chiếm đoạt đó là dấu hiệu lén lút và dấu hiệu tài sản đang có
chủ. Trong tình huống, K thực hiện hành vi chiếm đoạt hoàn toàn công
khai (có sự chứng kiến của bà H), không hề thể hiện thái độ lén lút như
dấu hiệu trong tội trộm cắp tài sản. Bên cạnh đó, tài sản mà K chiếm đoạt
tại thời điểm bị chiếm đoạt đã thoát ly khỏi sự chiếm hữu của chủ sở hữu
(bị bỏ quên), bản thân K cũng không biết chủ sở hữu của tài sản là ai. Như
vậy, không thể nhận định K phạm tội trộm cắp tài sản được.
Hành vi của K không đủ yếu tố để cấu thành bất kỳ tội danh nào, chính
vì vậy không thể truy cứu trách nhiệm hình sự đối với K trong trường hợp
này. Ông A muốn lấy lại tài sản thì phải thuyết phục K trả lại tài sản cho


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status