Thiết kế hệ thống xử lý nước cấp cụm cấp nước An Lạc 2 quận Bình Tân, thành phố Hồ
Chí Minh, công suất 700m3/ngày
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI LUẬN VĂN
1 Đặt vấn đề
Hiện nay tại thành phố Hồ Chí Minh công suất cấp nước của các công ty cấp nước
thành phố ( Sawaco) là hơn 1,2 triệu m3/ngày với tỉ lệ dân số được cấp nước khoảng 70%
và tập trung chủ yếu ở nội thành. Riêng các quận, huyện ngoại thành hệ thống cấp nước
của thành phố chưa có hoặc có cũng rất hạn chế. Người dân sử dụng nước giếng hoặc
mua nước với giá cao từ những xe chở nước.
Nhu cầu dùng nước là rất cần thiết cho cuộc sống sinh hoạt hằng ngày cũng như vui
chơi giải trí. Nước sạch là một trong những chỉ tiêu để đánh giá đô thị văn minh hiện đại.
Tại phường An Lạc A quận Bình Tân nguồn nước sử dụng cho các hộ dân ở đây
chủ yếu là các giếng đào, giếng khoan với chất lượng nước không đảm bảo vệ sinh,
nhiễm phèn. Khoan giếng không có kế hoạch chủ trương dễ dẫn đến việc gây ô nhiễm
nguồn nước ngầm.
2 Tính cấp thiết của đề tài
Theo chỉ thị 200 TTg ngày 20/04/1994 của thủ tướng chính phủ thì “ đảm bảo nước
sạch, bảo vệ môi trường ở nông thôn là trách nhiệm của mọi ngành, chính quyền các cấp,
mọi tổ chức, mọi công dân. Các ngành, các địa phương phải có trách nhiệm và chỉ đạo cụ
thể đẻ thực hiện được chương trình đã xác định. Đây là vấn đề hết sức cấp bách, phải
được tổ chức hực hiện nghiêm túc và thường xuyên”. Và theo chỉ đạo của UBND trên
thành phố đến năm 2010 phải đảm bảo 90% dân số thành phố phải được sử dụng nước
sạch.
3 Nhiệm vụ luận văn
Luận văn tốt nghiệp được thực hiện nhằm thiết kế, tính toán các công trình xử lý
nước cấp của cụm cấp nước An Lạc 2 – Bình Tân – TP HCM.
Tổng quan về khu dân cư An Lạc và nhu cầu cấp nước.
Lựa chọn nguồn nước và các công nghệ xử lý.
Đề xuất đưa ra quy trình công nghệ xử lý cho phù hợp.
Tính toán kích thước công trình và các thiết bị trong hệ thống.
05/11/2003 của Chính Phủ, từ Thị trấn An Lạc, xã Bình Hưng Hoà, xã Bình Trị Đông và
xã Tân Tạo của huyện Bình Chánh trước đây. Trong những năm gần đây tốc độ đô thi
hoá diễn ra khá nhanh, có phường hầu như không còn đất nông nghiệp. Hiện nay nhiều
mặt kinh tế-xã hội của quận phát triển nhanh theo hướng đô thị.
2.1.1 Vị trí địa lý quận Bình Tân
Diện tích tự nhiên là 5188,02 ha. Phía đông giáp các quận Tân Phú, Quận 6 và Quận
8. Phía tây giáp huyện Bình Chánh mới. Phía nam giáp quận 8 và huyện Bình Chánh mới.
Phía bắc giáp Quận 12 và huyện Hóc Môn.
Phường An Lạc A là trung tâm của quận Bình Tân ( trước đây thuộc thị trấn An Lạc
huyện Bình Chánh).
GVHD: TS Đặng Viết Hùng
SVTH: Huỳnh Minh Trí
MSSV: 90704545
3
Thiết kế hệ thống xử lý nước cấp cụm cấp nước An Lạc 2 quận Bình Tân, thành phố Hồ
Chí Minh, công suất 700m3/ngày
Hình 2.1 bản đồ phường An Lạc A
2.1.2 Địa hình, thổ nhưỡng địa chất công trình
- Địa hình quận Bình Tân thấp dần theo hướng Đông Bắc- Tây Nam, được chia làm hai
vùng:
Vùng 1: Vùng cao dạng địa hình bào mòn sinh tụ, cao độ từ 3-4m, độ dốc 0-4m
tập trung ở phường Bình Trị Đông, phường Bình Hưng Hoà.
Vùng 2: Vùng thấp dạng địa hình tích tụ bao gồm: phường Tân Tạo và phường An
Lạc.
- Về thổ nhưỡng quận Bình Tân có 03 loại chính:
Quy mô tăng trưởng theo nhóm ngành. Khu vực nông nghiệp, thuỷ sản có quy mô
rất nhỏ trên địa bàn quận năm 2003. Nguyên nhân chính của sự sụt giảm trong họat động
sản xuất nông nghiệp, thuỷ sản là do tốc độ đô thị hoá ngày càng mạnh trên địa bàn quận
những năm gần đây khiến quỹ đất giành cho hoạt động sản xuất nông nghiệp ngày càng
giảm.
Khu vực công nghiệp- tiểu thủ công nghiệp-xây dựng là động lực tăng trưởng
chính của kinh tế trên địa bàn quận.
Khu vực thương mại-dịch vụ (TM-DV) gồm các ngành thương nghiệp, khách sạn
nhà hàng, tài chính tín dụng, vận tải kho bãi, bưu chính viễn thông, kinh doanh bất
động sản, khoa học công nghệ, công tác đảng, đoàn thể, quản lý nhà nước…
Nhìn chung, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn quận Bình Tân theo hướng
ngày càng tăng tỷ trọng của khu vực CN-TTCN-XD và giảm dần tỷ trọng của khu vực
nông nghiệp, thuỷ sản. Khu vực thương mại dịch vụ có tỷ trọng tương đối ổn định. Sự
chuyển dịch cơ cấu theo hướng công nghiệp-thương mại, dịch vụ-nông nghiệp này là
đúng hướng và phù hợp với xu thế công nghiệp hoá- hiện đại hoá và quá trình hiện đại
hoá nhanh của một quận đô thị mới.
hình 2.2 khu công nghiệp Pouyuen
- Khu công nghiệp do thành phố quản lý:
Trên địa bàn quận Bình Tân hiện có hai khu công nghiệp do Ban quản lý các khu
công nghiệp Thành Phố quản lý là khu công ngiệp Tân Tạo và khu công nghiệp Vĩnh Lộc
(Văn phòng BQL đặt tại phường Bình Hưng Hoà). Riêng khu công nghiệp giày da
GVHD: TS Đặng Viết Hùng
SVTH: Huỳnh Minh Trí
MSSV: 90704545
5
dân. Với tình trạng như trên, việc thiết kế hệ thống xử lý nước cấp trạm An Lạc 2 rất cần
thiết , nhằm cải thiện khả năng cấp nước sạch cho người dân khu vực này.
2.5 Lựa chọn nguồn nước
2.5.1 Tổng quan về nước ngầm
GVHD: TS Đặng Viết Hùng
SVTH: Huỳnh Minh Trí
MSSV: 90704545
6
Thiết kế hệ thống xử lý nước cấp cụm cấp nước An Lạc 2 quận Bình Tân, thành phố Hồ
Chí Minh, công suất 700m3/ngày
Việt Nam là quốc gia có nguồn nước ngầm khá phong phú về trữ lượng và khá
tốt về chất lượng. Nước ngầm tồn tại trong các lỗ hổng và các khe nứt của đất đá,
được tạo thành trong giai đoạn trầm tích đất đá hoặc do sự thẩm thấu, thấm của
nguồn nước mặt, nước mưa… nước ngầm có thể tồn tại cách mặt đất vài mét, vài
chục mét, hay hàng trăm mét.
Đối với các hệ thống cấp nước cộng đồng thì nguồn nước ngầm luôn luôn là
nguồn nước được ưa thích. Bởi vì, các nguồn nước mặt thường hay bị ô nhiễm và
lưu lượng khai thác phải phụ thuộc vào sự biến động theo mùa. Nguồn nước ngầm ít chịu
ảnh hưởng bởi các tác động của con người. Chất lượng nước ngầm thường tốt hơn chất
lượng nước mặt nhiều. Trong nước ngầm hầu như không có các hạt keo hay các hạt lơ
lửng, và vi sinh, vi trùng gây bệnh thấp.
Bảng 2.1 Một số đặc điểm khác nhau giữa nước ngầm và nước mặt
Nước ngầm
Nước mặt
Khí CO2 hoà tan
Có nồng độ cao
Rất thấp hoặc bằng 0
Thường không tồn tại
Gần như bão hoà
Khí NH3
Thường có
Có khi nguồn nước bị
nhiễm bẩn
Khí H2S
Thường có
Không có
Thông số
Nhiệt độ
Khí O2 hoà tan
GVHD: TS Đặng Viết Hùng
SVTH: Huỳnh Minh Trí
Các nguồn nước ngầm hầu như không chứa rong tảo, một trong những nguyên nhân
gây ô nhiễm nguồn nước. Thành phần đáng quan tâm trong nước ngầm là các tạp chất
hoà tan do ảnh hưởng của điều kiện địa tầng, thời tiết, nắng mưa, các quá trình phong hoá
và sinh hoá trong khu vực. Ở những vùng có điều kiện phong hoá tốt, có nhiều chất bẩn
và lượng mưa lớn thì chất lượng nước ngầm dễ bị ô nhiễm bởi các chất khoáng hoà tan,
các chất hữu cơ, mùn lâu ngày theo nước mưa thấm vào đất.
Ngoài ra, nước ngầm cũng có thể bị nhiễm bẩn do tác động của con người. Các
chất thải của con người và động vật, các chất thải sinh hoạt, chất thải hoá học, và việc
sử dụng phân bón hoá học… tất cả những loại chất thải đó theo thời gian nó sẽ ngấm vào
nguồn nước, tích tụ dần và làm ô nhiễm nguồn nước ngầm. Đã có không ít nguồn nước
ngầm do tác động của con người đã bị ô nhiễm bởi các hợp chất hữu cơ khó phân huỷ,
các vi khuẩn gây bệnh, nhất là các hoá chất độc hại như các kim loại nặng, dư lượng
thuốc trừ sâu và không loại trừ cả các chất phóng xạ.
Ưu – nhược điểm khi sử dụng nước ngầm
2.5.2 Ưu điểm
- Nước ngầm là tài nguyên thường xuyên, ít chịu ảnh hưởng của các yếu tố khí hậu như
hạn hán.
- Chất lượng nước tương đối ổn định, ít bị biến đổi theo mùa như nước mặt.
- Chủ động hơn trong vấn đề cấp nước cho vùng xa, hẻo lánh. Nhất là trong hoàn cảnh
hiện nay, nước ngầm có thể khai thác ở nhiều công suất khác nhau.
- Để khai thác nước ngầm có thể sử dụng nhiều thiết bị: máy bơm, máy nén khí hoạc bơm
tay. Ngoài ra nước ngầm còn được khai thác tập trung ở các nhà máy xử lý tập trung, các
khu công nghiệp hoặc từng hộ dân. Đây là ưu điểm nổi bậc của nước ngầm trong vấn đề
cấp nước ở nông thôn.
GVHD: TS Đặng Viết Hùng
SVTH: Huỳnh Minh Trí
MSSV: 90704545
8
CHƯƠNG 3: TỔNG QUAN VỀ XỬ LÝ NƯỚC NGẦM
Về nguyên tắc nước chứa hàm lượng tạp chất ở dạng nào lớn hơn giới hạn cho phép phải
được xử lý trước khi đưa vào sử dụng. Ở đây, nguồn nước ngầm bị nhiễm sắt với hàm
lượng cao, các chỉ tiêu khác nằm trong quy chuẩn cho phép. Công nghệ ở đây nói về xử
lý sắt trong nước ngầm.
3.1 Làm thoáng khử sắt
Phương pháp khử sắt bằng làm thoáng là làm giàu oxy cho nước, tạo điều kiện để Fe2+
oxy hóa thành Fe3+, sau đó thực hiện quá trình thủy phân để tạo thành hợp chất ít tan
Fe(OH)3 được giữ lại ở bể lắng, một phần ở bể lọc. Làm thoáng có 2 loại: làm thoáng tự
nhiên bằng giàn mưa, làm thoáng cưỡng bức.
Trong nước ngầm, sắt(II) bicacbonat là muối không bền vững, thường phân ly theo dạng
sau: Fe(OH)2= Fe2+ + 2HCO3Nếu trong nước có oxy hòa tan, quá trình oxy hóa diễn ra như sau:
4Fe2+ + O2 + 10H2O = 4Fe(OH)3 + 8H+
Đồng thời xảy ra phản ứng phụ:
H+ + HCO3- = H2O + CO2
Tốc độ phản ứng oxy hóa được biểu thị theo phương trình sau:
v
d Fe2
dt
Trong đó:
Fe2 O2
K (phương trình Just)
H
v: tốc độ oxy hóa
bằng 70% lượng oxy bão hòa. Hàm lượng CO2 sau làm thoáng giảm 75%.
Một số sơ đồ làm thoáng thường gặp:
3.1.1 làm thoáng đơn giản- lọc
Giếng
Giàn mưa
Phun mưa
lên bề mặt
lọc
Bể chứa
Bể chứa
nước
sạch
Bể lọc
nhanh
Chất khử
trùng
Hình 3.1 sơ đồ làm thoáng đơn giản – lọc
Công nghệ này áp dụng khi nguồn nước có [Fe2+] < 10 mg/l, độ oxy hóa= 0,15[Fe2+]x5
mg/l O2 , NH4+ < 1mg/l, H2S < 0,5 mg/l, pH làm thoáng đạt 6,8, hệ thống này khử được
30-35% CO2 trong nước.
Ưu điểm:
+ Có thể áp dụng bất kỳ công suất nào.
+ Công trình đơn giản, hiệu quả xử lý hiệu quả cao, ổn định.
+ Cho chu kỳ lọc lọc dài do tổn thất áp lực của vật liệu tăng chậm.
3.1.2 Làm thoáng tự nhiên – lắng tiếp xúc – lọc
GVHD: TS Đặng Viết Hùng
25mg/l, độ kiềm < 2mg/l, H2S< 0,2 mg/l, NH4+ < 1mg/l
Ưu điểm:
+ Có thể dùng với bất kỳ công suất nào
+ Công trình gọn, dễ vận hành, ổn định.
3.1.3 Làm thoáng cưỡng bức – lắng – lọc trong
Quạt
gió
Bể
lắng
tiếp
xúc
Bể lọc
nhanh
Hình 3.3 sơ đồ làm thoáng cưỡng bức, lắng tiếp xúc, lọc
Bể chứa
nước
sạch
Chất khử
trùng
Công nghệ này thường áp dụng cho trường hợp nước ngầm có đặc tính sau: pH thấp ( dao
động trong khoảng rộng, Fe < 6 mg/l, Mn < 1mg/l, CO2 dao động trong khoảng rộng.
Ưu điểm:
+ có thể giải phóng 85- 90% lượng CO2 hòa tan, lượng oxy hòa tan lấy bằng 70% lượng
bông cặn tiếp xúc với nhau, lực ma sát tăng lên làm hạn chế tốc độ lắng của đám bông
cặn nên được gọi là lắng hạn chế. Tốc độ lắng của đám bông cặn phụ thuộc vào tính chất
và nồng độ của hạt cặn.
3.2.2 Các loại bể lắng
Bể lắng ngang là bể lắng có dòng chảy ngang cặn rơi thẳng đứng: bề mặt là hình chữ nhật
hoặc hình tròn thường dùng để lắng cặn thô hoặc cặn keo tụ.
Bể lắng đứng: nước đi từ dưới lên, cặn rơi từ trên xuống, bề mặt thường là hình vuông
hoặc hình tròn
Bể lắng trong có lớp cặn lơ lững: nước đi từ dưới lên qua lớp cặn lơ lững được hình thành
trong quá trình lắng, cặn dính bám vào lớp cặn, nước trong thu trên bề mặt, cặn thừa đưa
GVHD: TS Đặng Viết Hùng
SVTH: Huỳnh Minh Trí
MSSV: 90704545
13
Thiết kế hệ thống xử lý nước cấp cụm cấp nước An Lạc 2 quận Bình Tân, thành phố Hồ
Chí Minh, công suất 700m3/ngày
sang ngăn nén cặn từng thời kỳ sẽ được xả ra ngoài. Bể lắng trong có lớp cặn lơ lững
dùng để lắng cặn có khả năng keo tụ.
Bể lắng tiếp xúc( bể lắng Lamella): cũng giống như bể lắng thường, gồm 3 vùng
Vùng phân phới nước
Vùng lắng
Vùng tập trung và chứa cặn
3.3 Lọc
Lọc là quá trình làm sạch nước bằng cách cho nước đi qua các lớp vật liệu lọc nhằm giữ
lại trên bề mặt hoặc giữa các khe hở của lớp vật liệu lọc, các hạt cặn lơ lững và 1 phần vi
sinh được giữ lại. Kết quả là nước sau lọc đạt tiêu chuẩn về cả vật lý lẫn sinh học
Bể lọc 2 hay nhiều lớp vật liệu lọc
Chia theo cấu tạo của vật liệu lọc:
+ Bể lọc có vật liệu lọc ở dạng hạt: cát, than
+ Bể lọc có vật liệu lọc ở dạng lưới: lưới kim loại
+ Bể lọc dàng màng: nước lọc đi qua màng được tạo thành trên bề mặt lưới đỡ hay lớp
vật liệu rỗng.
3.4 Khử trùng
Khử trùng là một khâu quan trọng , bắt buộc và là khâu cuối cùng trong xử lý nước ăn
uống và sinh hoạt. Đây là một quá trình nhằm tiêu diệt, làm mất khả năng haotj động của
các vi sinh vật gây bệnh.
Hiện nay có nhiều phương pháp khử trùng như sau:
+ Khử trùng bằng các tia vật lý
+ Khử trùng bằng các chất oxy hóa mạnh: chlorine, chloramines, chlorine dioxide, ozon, ..
+ Khử trùng bằng siêu âm
+ Khử trùng bằng phương pháp nhiệt
Hiên nay, ở nước ta thường khử trùng bằng các chất oxy hóa mạnh, chủ yếu là chlorine
Cơ chế khử trùng: có 3 cơ chế khử trùng chính trong nước cấp
+ Phá hủy hoặc làm suy giảm cấu trúc tế bào
+Làm cản trở quá trình trao đổi chất và năng lượng.
+ Làm cản trở quá trình sinh tổng hợp và phát triển.
Quá trình khử trùng chính là sự kết hợp của 3 cơ chế này, tùy thuộc vào tác nhân khử
trùng và dạng vi sinh vật trong nước. Trong xử lý nước cấp, khả năng oxy hóa các tế bào
GVHD: TS Đặng Viết Hùng
SVTH: Huỳnh Minh Trí
MSSV: 90704545
15
sạch
bòn
lọc áp
lực
chlorine
Hình 3.4 sơ đồ công nghệ xử lý nước ngầm tại nhà máy Tam Bình 2
Đặc trưng nguồn nước: pH : 5,5 ; Fe
lọc áp lực. Các hạt cặn còn lại sẽ được giữ tại đâynhờ các lớp vật liệu lọc. Nước được đưa
vào bể chứa, trong khi clo được châm vào theo đường ống. Nước được bơm lên đài nước
và đưa vào mạng lưới.
3.5.3 Sơ đồ công nghệ xử lý nước ngầm tại trạm Quy Đức 2, huyện Bình Chánh,
công suất 480m3/ngày
Giếng
khoan
- bơm
cấp 1
Giàn
mưa
khử
sắt
Bể
lắng
đứng
Bể
chứa
nước
sạch
Bể lọc
áp lực
chlorine
GVHD: TS Đặng Viết Hùng
18
Thiết kế hệ thống xử lý nước cấp cụm cấp nước An Lạc 2 quận Bình Tân, thành phố Hồ
Chí Minh, công suất 700m3/ngày
CHƯƠNG 4: ĐỀ XUẤT CÔNG NGHỆ XỬ LÝ
4.1 Đặc tính nguồn nước được lựa chọn
Theo kết quả điều tra địa chất thủy văn và địa chất công trình miền Nam. Địa chất
chính là trầm tích bở rời Kainozoi vùng thành phố Hồ Chí Minh có 4 phân vị chứa nước
chủ yếu: nước lổ hổng trong trầm tích Holocen, Pleistocen, nước lổ hổng trong trầm tích
sản phẩm Pliocen muộn và Pliocen sớm.
Sau đây là sự mô tả sơ lược phân vị chứa nước dùng để cấp cho nhà máy
Tầng chứa nước lỗ rỗng trong các trầm tích Pliocen trên (N22)
Các trầm tích Pliocen trên phân bố rộng khắp thành phố Hồ Chí Minh, chìm ở độ
sâu 50-60m về phía bắc( Củ Chi, Hóc Môn); 70-100m về phía tây nam ( Bình Chánh) và
sâu hơn nữa 110-150m ở khu vực Nhà Bè qua Cần Giờ. Chiều dày trầm tích cũng thay
đổi theo chiều hướng tương tự( phía tây bắc chỉ dày 40-60 m, dần xuống phía nam chiều
dày tăng dần đến 100m). Thành phần đất đá chứa nước là cát nhiều cỡ hạt lẫn sỏi sạn,
phân nhịp tương đối rõ rang: trên cùng là lớp sét, sét bột chứa cacbonat màu sắc loang lổ
có khả năng cách nước tốt, dày 10- 25m. Đây là tầng chứa rất giàu nước và là đối tượng
tìm kiếm thăm dò, khai thác quy mô lớn cho thành phố.
Tầng chứa nước lổ rỗng trong trầm tích Pliocen trên rất phong phú, có khả năng đáp
ứng nhu cầu cung cấp rất lớn cho thành phố. Tầng chứa nước Pliocen dưới là một đối
tượng có triển vọng cung cấp nước có quy mô vừa và lớn. Tuy nhiên từ trước tới nay,
tầng chứa nước này chưa phải là đối tượng điều tra chính, nên các giai đoạn tìm kiếm,
thăm dò trước đây đều ít đầu tư công trình để nghiên cứu chi tiết. Do đó mức độ nghiên
cứu còn sơ lược, chưa đánh giá hết khả năng và triển vọng của tầng chứa nước này.
Một điều có thể khẳng định rằng: nước dưới đất trong trầm tích Pliocen dưới là
nguồn dự trữ rất quan trọng trong tương lai, cần phải đầu tư đích đáng để nghiên cứu chi
tiết hơn. Đặc biệt đối với vùng khai thác các tầng chứa nước bên trên, nước trong tầng
6,0
mg CaCO3/ l
69
350
300
1
pH
2
Độ cứng tổng cộng
3
Clorua Cl-
mg/l
65
4
N-NO2-
PO43-
-
0,05
9
Fe tổng
mg/l
4,0
-
26
10 Kiềm tổng
11
Chất hữu cơ ( tính theo
KMnO4)
-
QCVN 02/2009
BYT
6,0-8,5
4.4 Yêu cầu thiết kế
GVHD: TS Đặng Viết Hùng
SVTH: Huỳnh Minh Trí
MSSV: 90704545
20
Thiết kế hệ thống xử lý nước cấp cụm cấp nước An Lạc 2 quận Bình Tân, thành phố Hồ
Chí Minh, công suất 700m3/ngày
Chất lượng nước đầu ra phải đạt chuẩn nước cấp chi ăn uống và sinh hoạt theo
QCVN 02/2009 BYT.
Lưu lượng nước phải đảm bảo cho nhu cầu sử dụng nước của người dân.
Áp lực nước phải mạnh, đảm bảo đủ áp lực cho cho từng hộ dân.
Công nghệ xử lý đơn giản, dễ vận hành, hạn chế thấp nhất các sự cố có thể xảy ra.
Một số lưu ý cần biết đến khi lựa chọn công nghệ
Địa điểm: đặt ở đâu, diện tích như thế nào. Có đủ mặt bằng để xây dựng giàn mưa.
Đặc tính: pH nước thấp, hàm lượng sắt cao, cần châm NaOH để nâng pH,
Dựa trên bảng phân tích chỉ tiêu nước ngầm đầu vào: pH thấp, hàm lượng sắt vừa đề xuất
công nghệ như sau
4.5 Đề xuất công nghệ
Đối với quá trình làm thoáng có thể sử dụng giàn mưa hoặc thùng quạt gió ( tháp
oxy hóa).
Sau khi qua giàn mưa nước được đưa sang bể lắng.
Sau khi ra bể lắng, nước tới bể lọc. Bể lọc làm nhiệm vụ giữ lại tất cả các cặn bã
còn lại sau bể lắng. Đối với hệ thống xử lý nước với công suất lớn người ta thường sử
dụng bể lọc nhanh với tốc độ lọc 8-30 m/h. Ở đây ta có thể sử dụng bể lọc áp lực với tốc
độ 15m/h
Chọn bể chứa dạng hình chữ nhật, nửa chìm nữa nổi. Phía trên có nắp đậy, ống
rửa lọc
Nước sạch
rửa lọc
Bơm định lượng
Bể chứa
nước sạch
Bồn chứa
clo
Trạm bơm
cấp 2
Xả ra cống
thoát nước
Hình 4.1 sơ đồ công nghệ 1
GVHD: TS Đặng Viết Hùng
SVTH: Huỳnh Minh Trí
MSSV: 90704545
22
Thiết kế hệ thống xử lý nước cấp cụm cấp nước An Lạc 2 quận Bình Tân, thành phố Hồ
Chí Minh, công suất 700m3/ngày
Xả ra cống
thoát nước
Hình 4.2 sơ đồ công nghệ 2
GVHD: TS Đặng Viết Hùng
SVTH: Huỳnh Minh Trí
MSSV: 90704545
23
Thiết kế hệ thống xử lý nước cấp cụm cấp nước An Lạc 2 quận Bình Tân, thành phố Hồ
Chí Minh, công suất 700m3/ngày
Phân tích ưu nhược điểm 2 công nghệ
Công nghệ 1:
Ưu điểm:
- giàn mưa khi hoạt động thì việc quản lý tương đối dễ dàng và thuận tiện. Việc
duy tu, bảo dưỡng và vệ sinh định kỳ giàn mưa cũng tương đối đơn giản. Cần tiến
hành vệ sinh thường xuyên do các cặn Fe dễ dàng bám trên các sàn làm bít các lổ
dẫn đến giảm hiệu quả của giàn mưa.
- Bể lắng ngang lắng với hiêu quả cao.
Nhược điểm:
- Chi phí xây dụng dàn mưa tốn kém, tốn nhiều diện tích xây dựng. Hiệu quả làm
thoáng không cao, phải có thời gian phản ứng cần thiết để lắng cặn.
- Bể lắng ngang tốn nhiều diện tích đất. Thanh gạt bùn có thể làm bùn nổi trước
máng thu nước.
- Chi phí cho bể xử lý bùn.
Công nghệ 2
Thùng quạt gió
Bể lắng
đứng
Bồn lọc áp
lực
Nước sau
rửa lọc
Nước sạch
rửa lọc
Bơm định lượng
Bể chứa
nước sạch
Bồn chứa
clo
Trạm bơm
cấp 2
Xả ra cống
thoát nước
Hình 4.2 sơ đồ công nghệ 2