SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
BỒI DƯỠNG HỌC SINH GIỎI LỚP 4 + 5
_____________________________
A/ PHẦN MỞ ĐẦU:
I/ LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Trong năm học 2012 – 2013, bản thân tôi được giao nhiệm vụ bồi dưỡng học sinh giỏi
môn Tiếng Việt lớp 4 + 5, tôi luôn luôn trăn trở đi sâu tìm hiểu nội dung chương trình Tiếng
Việt lớp 4 + 5 đại trà và nâng cao, tìm phương pháp tối ưu để giảng dạy có hiệu quả. Và bản
thân tôi nhận thấy mục tiêu của việc bồi dưỡng học sinh giỏi tiếng Việt là bồi dưỡng lẽ sống,
tâm hồn, khả năng tư duy và năng lực ngôn ngữ, cảm thụ văn chương cho học sinh, góp phần
hình thành nhân cách con người Việt Nam hiện đại.
Để đạt được những mục tiêu đó, việc bồi dưỡng học sinh giỏi môn tiếng Việt, đặt ra cho
tôi những nhiệm vụ sau:
1.Phát hiện những học sinh có khả năng trở thành học sinh giỏi Tiếng Việt.
2. Bồi dưỡng hứng thú Tiếng Việt cho học sinh.
3. Bồi dưỡng vốn sống cho học sinh.
4. Bồi dưỡng kiến thức, kĩ năng Tiếng Việt cho học sinh.Chính vì thế tôi quyết định chọn đề
tài nghiên cứu “Bồi dưỡng học sinh giỏi môn Tiếng Việt cho học sinh lớp 4 + 5.
Trong quá trình thực hiện đề tài này, tôi gặp phải những thuận lợi, khó khăn sau:
1. Thuận lợi:
Trước hết, đó là sự quan tâm chỉ đạo sâu sát của lãnh đạo nhà trường:
- Tạo mọi điều kiện có thể để công việc bồi dưỡng học sinh giỏi có chất lượng như thời gian,
tài liệu...
- Bản thân Hiệu trưởng trực tiếp tham gia kiểm tra, đánh giá, chỉ đạo chương trình.
- Nhà trường có những biện pháp động viên, khuyến khích học sinh và giáo viên bồi dưỡng,
tạo động lực thúc đẩy công việc có hiệu quả tốt.
- Học sinh chăm ngoan, hiếu học.
2. Khó khăn:
D\Sangkienkinhnghiemboiduonghocsinhgioi-Chiêu.doc
b/ Phương pháp tổng kết kinh nghiệm.
c/ Phương pháp nghiên cứu tài liệu. Nghiên cứu sách, báo, giáo trình có liên quan đến
công tác bồi dưỡng HS giỏi. Nghiên cứu chất lượng HS giỏi những năm trước. Nghiên cứu
công tác chỉ đạo của nhà trường đối với công tác bồi dưỡng HS giỏi.
d/ Phương pháp điều tra, phỏng vấn: Điều tra, phỏng vấn thu thập thông tin về số liệu,
chất lượng học sinh giỏi các năm trước ở chuyên môn nhà trường, GVCN.
IV/THỜI GIAN NGHIÊN CỨU:
D\Sangkienkinhnghiemboiduonghocsinhgioi-Chiêu.doc
2
Thời gian bắt đầu: Tháng 10 năm 2012
Thời gian hoàn thành: Tháng 5 năm 2013
B/ PHẦN NỘI DUNG:
I/ CƠ SỞ LÍ LUẬN:
Các kết quả thực tế cho thấy số học sinh được xem là có năng lực nhận thức, tư duy,
vốn sống... nổi trội hơn các em khác chiếm từ 5-10% tổng số học sinh. Các tài năng xuất hiện
từ rất sớm. Vì vậy trên thế giới, người ta luôn quan tâm đến việc phát hiện và bồi dưỡng nhân
tài ngay từ những năm tháng trẻ còn nhỏ tuổi. Ở nước ta, từ nhiều năm nay vấn đề này cũng
được quan tâm.
Đồng thời với việc thực hiện nhiệm vụ phát hiện và bồi dưỡng nhân tài cho đất nước, tổ
chức thi học sinh giỏi môn Tiếng Việt còn có tác dụng thúc đẩy phong trào thi đua dạy tốt, học
tốt, việc bồi dưỡng học sinh giỏi có tác dụng tích cực trở lại đối với giáo viên. Để có thể bồi
dưỡng học sinh giỏi, người giáo viên luôn phải học hỏi, tự bồi dưỡng kiến thức để nâng cao
trình độ chuyên môn và năng lực sư phạm cũng như phải bồi dưỡng lòng yêu nghề, tinh thần
tận tâm với công việc.
II/ CƠ SỞ THỰC TIỄN:
1/ Khảo sát tình hình:
nhiều tính từ, từ láy, từ tượng hình, từ tượng thanh, sử dụng những câu có nhiều thành phần
phụ như định ngữ, bỗ ngữ, câu văn sáng sủa, rõ ý, bộc lộ được sự đánh giá, tình cảm của mình
với hiện thực được nói tới.
Vậy, cần đặt vấn đề phải phát hiện những học sinh có khả năng giỏi Tiếng việt từ lúc
nào? Nên tổ chức bồi dưỡng học sinh giỏi từ lớp nào? Trên thực tế, có nhiều trường khi chuẩn
bị thi học sinh giỏi mới tập trung một số buổi để ôn luyện, nhiều trường bồi dưỡng từ lớp 4.
Có thể nói việc bồi dưỡng học sinh giỏi càng bắt đầu sớm bao nhiêu càng có hiệu quả
bấy nhiêu.Ở lớp 1, nhiệm vụ chính của các em là nhanh chóng chiếm lĩnh công cụ chữ viết,
đọc thông - viết thạo, ở trường có điều kiện chỉ nên bồi dưỡng học sinh giỏi từ lớp 2.
Để phát hiện những học sinh có năng lực Tiếng Việt, cần có sự điều tra các phép đo
nhằm khảo sát, tìm hiểu hứng thú, tìm hiểu thông qua phụ huynh, phỏng vấn trực tiếp các em,
theo dõi, nắm tình hình học tập của trẻ.
2/ Bồi dưỡng hứng thú học tập:
Bồi dưỡng hứng thú học tập rất quan trọng. Không có con đường nào khác là giúp các
em thấy được vẻ đẹp và khả năng kì diệu của Tiếng Việt – văn học, từng giờ, từng phút trong
giờ Tiếng Việt, người giáo viên đều hướng đến hình thành và duy trì hứng thú cho học sinh.Ví
dụ cách giới thiệu bài: Chúng ta đã được học rất nhiều bài về mẹ, “Bao tháng bao năm mẹ bế
con trên đôi tay mềm mại ấy” “ mẹ là ngọn gió của con suốt đời” “ Bình yên nhất là đôi bàn
tay mẹ, những ngón tay gầy gầy xương xương”... Hôm nay, chúng ta lại được học một bài có
tựa đề về “ Mẹ” của nhà thơ Bằng Việt, các em hãy cùng đọc xem bài “Mẹ” này có gì khác với
những bài về mẹ mà các em đã học.
Cả những bài về từ ngữ hay ngữ pháp khô khan cũng đều gây được hứng thú nếu giáo
viên nắm được bản chất vấn đề và biết dùng phương pháp nêu vấn đề.
Hứng thú Tiếng Việt – văn chương còn được tạo ra bằng cách kể cho các em nghe về
cuộc đời riêng của các nhà văn, nhà thơ nổi tiếng, tổ chức nói chuyện thơ văn, ngoại khóa
Tiếng việt...
D\Sangkienkinhnghiemboiduonghocsinhgioi-Chiêu.doc
4
đặc biệt: từ ghép ngẫu hợp.
Các từ 2 tiếng có sự giống nhau nào đó về âm như chôm chôm, thằn lằn, ba ba, ngày
ngày, gật gật...đều được xem là từ láy.
Các kiểu từ như ồn ào, ầm ĩ, ọc ạch, ỏn ẻn... đều được xem là từ láy và được giải thích
nó giống nhau ở chỗ cùng vắng khuyết phụ âm đầu.
D\Sangkienkinhnghiemboiduonghocsinhgioi-Chiêu.doc
5
Những từ như cong queo, cuống quýt, king coong... cũng là từ láy có phụ âm đầu viết
dưới dạng thức các con chữ khác nhau.
Về phân biệt từ ghép tổng hợp và từ ghép phân loại; Từ ghép tổng hợp: Giữa các tiếng
có quan hệ đẳng lập, mang tính tổng hợp, khái quát. Từ ghép phân loại: Có yếu tố cụ thể hóa,
cá thể hóa nghĩa cho yếu tố kia.
Lưu ý, một số từ tùy từng ngữ cảnh mà xếp, khi là từ ghép tổng hợp, khi là từ ghép phân
loại. Ví dụ: từ “sáng trong” trong câu: “Một tấm lòng sáng trong như ngọc” là từ ghép tổng
hợp. Có thể đổi thành “trong sáng”.
Nhưng trong câu “Nhớ mua bóng đèn sáng trong đừng mua bóng đèn sáng đục” thì
“sáng trong” ở đây là từ ghép phân loại.
4.2 Làm giàu vốn từ hay luyện kĩ năng nắm nghĩa từ và sử dụng từ cho HS:
Dạng 1: Yêu cầu HS giải nghĩa từ ngữ hay thành ngữ . Ví dụ: Em hiểu thành ngữ “Gió
chiều nào che chiều ấy” là thế nào? Lao động trí óc là gì?
Dạng 2: Cho những từ có cùng yếu tố cấu tạo: Ví dụ phân biệt nghĩa của mẹ đẻ, mẹ
nuôi, mẹ kế, mẹ ghẻ...
Dạng 3: Yêu cầu HS kể ra các từ theo chủ đề:
Dạng 4: Yêu cầu phân loại từ theo nhóm nghĩa và đặt tên cho nhóm.
Dạng 5: Dạng đề sửa lỗi dùng từ sai;
Dạng 6: Đặt câu, viết đoạn văn với từ cho sẵn
Dạng 7: Điền từ vào chỗ trống.Và nhiều dạng khác nữa, giáo viên phải nắm chắc, cho
Hoạt động của giáo viên chỉ có tác động bổ trợ cho cảm xúc thẩm mỹ nảy sinh. cần tôn
trọng suy nghĩ, cảm xúc thực, ngây thơ của trẻ và nâng chúng lên ở chất lượng cao hơn. Đồng
thời giáo viên phải trang bị cho các em một số kiến thức về văn học như hình ảnh, chi tiết, kết
cấu tác phẩm, các đặc trưng ngôn ngữ nghệ thuật, một số biện pháp tu từ...
Một trong những biện pháp có hiệu quả nữa là giúp HS đọc diễn cảm có sáng tạo, nó
giúp HS nâng cao khả năng cảm xúc thẩm mỹ và kích thích các em khám phá ra cái hay, cái
đẹp của văn chương.
Để giúp HS cảm thụ được tác phẩm, giáo viên cần có hệ thống câu hỏi, bài tập liên
tưởng, tưởng tượng, đó là những câu hỏi về ý nghĩa của tác phẩm giúp HS hiểu mục đích thông
báo của văn bản, đánh giá nhân vật, thái độ, tình cảm, tư tưởng của tác giả, đánh giá giá trị
nghệ thuật những từ ngữ hình ảnh câu từ gây ấn tượng.
6/ Bồi dưỡng làm văn:
Làm văn là nơi thử thách ở HS các kĩ năng Tiếng Việt: vốn sống, vốn văn học, năng lực
cảm thụ văn học một cách tổng hợp.
Học sinh phải thể hiện cảm xúc suy nghĩ bằng ngôn ngữ nói và viết, từ đó rèn cách
nghĩ, cách cảm nhận chân thật, sáng tạo, luyện cách diễn tả chính xác, sinh động, hồn nhiên
tiến tới có nét riêng độc đáo.
Thứ nhất: để luyện tập kĩ năng viết văn của HS cần có những bài viết tốt, giáo viên biết
lựa chọn đề, biết tự ra đề, đề bài gần gũi, thân thiết, quen thuộc với các em nhưng không lặp
lại, gò bó, nhàm chán.
D\Sangkienkinhnghiemboiduonghocsinhgioi-Chiêu.doc
7
Thứ 2: giáo viên cần rèn luyện cho HS kĩ năng tìm hiểu phân tích đề, quan sát tìm ý,
những kĩ năng diễn đạt, viết đoạn và hoàn thiện bài viết.
Trong khâu luyện làm văn, khâu đánh giá, sửa chữa rất quan trọng. Giáo viên cần chấm
chữa bài cho từng em thật kĩ lưỡng, trả bài giúp HS thấy được những ưu khuyết điểm của bài
viết của mình, tự rút ra kinh nghiệm và sửa chữa. Nên tạo không khí trao đổi, tranh luận khi
9/ Luôn phối hợp với gia đình để tạo điều kiện tốt nhất cho các em tham gia học tập.
II/ Ý KIẾN ĐỀ XUẤT:
1/ Đối với nhà trường: Nên tổ chức bồi dưỡng học sinh giỏi ngay từ lớp 2,3.
2/ Chú trọng hơn khi khảo sát lựa chọn học sinh vào lớp bồi dưỡng.
3/ Chuyên môn nhà trường nên tổ chức một số buổi ngoại khóa Tiếng Việt, báo cáo
kinh nghiệm học tập bộ môn.
4/ Có nhiều giải pháp tốt để nâng cao chất lượng đại trà thì mới tạo nền tảng vững chắc
cho công tác bồi dưỡng học sinh giỏi.
Phong Thạnh Tây A, ngày tháng năm 2012
DUYỆT CỦA BGH
Người thực hiện
Đặng Văn Chiêu
D\Sangkienkinhnghiemboiduonghocsinhgioi-Chiêu.doc
9