ĐỀ CƯƠNG CƠ SỞ VĂN HÓA VIỆT NAM
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
27.
28.
29.
30.
Những đặc trưng của nghệ thuật thanh sắc và hình khối.(50)
Ý nghĩa của lễ hội trong đời sống văn hóa Việt Nam.(54)
Nêu mối quan hệ giữa tự nhiên và văn hoá; đặc điểm của môi trường tự nhiên Việt Nam.(58)
Cấu trúc và mối quan hệ gia đình – xóm làng – quốc gia Việt Nam.(62)
Những phẩm chất nổi trội trong tính cách người Việt.(66)
Cách thức tổ chức và đặc trưng thể chế làng xã ở Việt Nam.(68)
Những đặc trưng của văn hóa đô thị Việt Nam.(72)
Vùng văn hóa và các vùng văn hóa ở Việt Nam. (73)
Quá trình, nội dung, đặc điểm cơ bản của tiếp xúc với văn hoá, văn minh (Đông Nam Á; Ấn Độ;
Trung Hoa; Phương Tây; Tiếp xúc giao lưu văn hoá trong giai đoạn mới).(75)
Các giai đoạn trong quá trình tương tác với văn hóa trong khu vực Đông Nam Á. (83)
Các giai đoạn và kết quả trong quá trình tương tác với văn hóa Ấn Độ.(83)
Các giai đoạn và kết quả trong quá trình tương tác với văn hóa Trung Hoa. (91)
Các giai đoạn và kết quả trong quá trình tương tác với văn hóa phương Tây.(94)
Thế nào là một nền Văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc?(97)
Những biểu hiện bản sắc Văn hóa tinh thần của Văn hóa Việt Nam?(99)
Những biểu hiện bản sắc Văn hóa vật chất của Văn hóa Việt Nam?(110)
1
BÀI LÀM:
1. Văn hóa, văn minh là gì? Giữa văn hóa, văn minh có điểm gì giống và khác nhau?
Văn hóa theo định nghĩa của Hồ Chí Minh năm 1942:
-“ Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ,
chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt
hàng ngày về mặt ăn ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ các sáng tạo và phát minh đó tức là văn
hóa”.
Văn hóa theo định nghĩa cùa UNESCO:
- “Văn hóa là tổng thể nói chung các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra. Văn hóa là
con người
2
-.Các giá trị văn hóa:
+ Theo mục đích có thể chia thành:giá trị vật chất (phục vụ cho nhu cầu vật chất) và giá trị tinh thần
(phục vụ cho nhu cầu tinh thần);
+ Theo ý nghĩa có thể chia thành giá trị sử dụng, giá trị đạo đức và giá trị thẩm mĩ;
+ Theo thời gian có thể phân biệt các giá trị vĩnh cửu và giá trị nhất thời
3 . Đặc trưng thứ ba là tính nhân sinh
- Tính nhân sinh cho phép phân biệt văn hóa như một hiện tượng xã hội (nhân tạo) với các giá trị tự
nhiên (thiên tạo)
- Văn hóa là cái tự nhiên được biến đổi bởi con người. Sự tác động của con người vào tự nhiên có thể
mang tính vật chất hoặc tinh thần.
- Văn hóa thực hiện chức năng giao tiếp. Nếu ngôn ngữ là hình thức của giao tiếp thì văn hóa là nội
dưng của văn hóa.
4 . Văn hóa còn có tính lịch sử
- Lịch sử cho phép phân biệt văn hóa như sản phẩm của một quá trình và được tích luỹ quanhiều thế hệ
với văn minh như sản phẩm cuối cùng, chỉ ra trình độ phát triển của từng giai đoạn.
- Tính lịch sử tạo cho văn hóa một bề dày, một chiều sâu; nó buộc văn hóathường xuyên tự điều chỉnh,
tiến hành phân loại và phân bố lại các giá trị. Tính lịch sử được duy trì bằng truyền thống văn hóa.
- Truyền thống văn hóa tồn tại được nhờ giáo dục. Chức năng giáo dục là chức năng quan trọng của
văn hóa . từ chức năng giáo dục văn hóa có chức năng phái sinh là đảm bảo tính kế tục của lịch sử.
3. Những thành tựu chủ yếu của văn hóa nguyên thủy
-Thời kì đồ đá cũ:
Ở thời kỳ bầy người nguyên thủy, công cụ lao động tiêu biểu là những hòn đá cuội được ghè đẽo qua
loa, hình dáng rất thô kệch, những mảnh tước tách từ hạch đá, những chiếc rìu tay hình bầu dục hoặc
hình hạnh nhân. Kỹ thuật chế tác công cụ rất thô sơ. Năng suất lao động rất thấp kém. Nạn đói thường
xuyên đe dọa.
-Thời kì đồ đá mới:
bằng màu mỡ của các con sông lớn như song Hồng, sông Mã, song Cả ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ
những cư dân Việt hay Lạc Việt đã xây dựng cho mình một quốc gia, một nền văn minh riêng có tính
bản địa sâu sắc và được mệnh danh là văn minh Văn Lang Âu Lạc.
+Những thành tựu của nền văn minh Văn Lang Âu Lạc thể hiện ở tất cả các mặt hoạt động của người
Việt. Nó cũng thể hiện khá rõ tính bản địa. Dù ở các lĩnh vực khác nhau nhưng vẫn phản ánh khá rõ
tính chất nông nghiệp lúa nước gắn liền với nó là châu thổ của những đồng bằng lớn.
+ Thời gian tồn tại phát triển không dài, từ năm 179 TCN cho đến đầu thế kỷ X, nền văn minh đó
không những chưa có điều kiện nâng cao và hoàn thiện mà còn bị vùi dập, xóa bỏ mạnh mẽ của nền
văn minh phương Bắc. Mặc dù vậy người Việt sau này vẫn luôn tìm cách bảo vệ các di sản của tổ tiên,
xem nền văn minh Văn Lang Âu Lạc là cội nguồn văn hóa dân tộc.
* Các thành tựu chủ yếu của Văn Lang-Âu Lạc
- Về chính trị xã hội:
+ Để duy trì trật tự xã hội, an ninh xóm làng, chống lũ lụt và chống lại các cuộc xâm lấn của các bộ tộc
phía Bắc thì đòi hỏi phải có một tổ chức quản lý. Như vậy Hùng Vương lên ngôi vua đặt nhà nước là
Văn Lang. Đưa bộ lạc Việt sang một thời đại mới. Các đời vua Hùng Vương, đời đời cha truyền con
nối.
+ Bộ máy chính quyền trung ương đơn giản: chia làm 15 bộ, mỗi bộ có nhiều làng bản hay chạ, do
chức vụ bồ chính chông coi. Làng, chạ là những vùng kinh tế độc lập, có sinh hoạt riêng của mình. Già
làng là lớp người giữ vai trò quan trọng trong Làng, Chạ.
+ Quản lý đất nước theo tục lên cổ truyền “dân không nói dối”, “buộc nốt dây mà làm chính sự”
- Về kinh tế:
+ Nông nghiệp lúa nước phát triển. Trên cơ sở đó nghề luyện kim cũng phát triển để tạo công cụ lao
động.
+ Lịch nông nghiệp hình thành. Ngành luyện kim phát triển đến trình độ cao. Người đời sau biết tăng
lượng chì để tăng độ mềm. Theo đó công cự sắt ra đời.
+ Nuôi tằm, kéo tơ, dệt lụa thể hiện trình độ phát triển của người Việt.Yêu cầu về trang phục.
- Về sinh hoạt và trang phục:
+ Nhà ở phần lớn là mái cọ hay rơm rạ, có cầu thang ở cửa. tường bằng tre, nứa. trong nhà có chỗ giữ
thóc lúa, dưới sàn là chỗ nuôi trâu, bò, lợn, gà…
4
+Trong di chỉ khảo cổ cho thấy một bộ sưu tập các lưỡi cày bằng đồng phong phú, vào giữa và cuối
thờ kỳ Đông Sơn đã xuất hiện khá nhiều đồ sắt và đồ đồng đã chuyển sang các loại vật dụng trang trí
và tinh xảo hơn.
+Lưỡi cày và di cốt trâu, bò nuôi chứng minh một trình độ luân canh định cư của cư dân Đông Sơn
dẫn đến có một lượng thặng dư về thực phẩm.
-Công nghệ luyện kim và sự hoàn hảo về công nghệ đúc đồng
Thuật luyện kim phát triển khi ở Việt Nam có những mỏ vàng, đồng, chì, bạc… nhỏ, nằm lộ thiên
thuận lợi cho khai thác để phát triển.
+Đến giai đoạn văn hóa Đông Sơn, giai đoạn cực thịnh của thời đại Hùng Vương thì thấy trong thành
phần hợp kim đồng, tỷ lệ đồng và thiếc giảm xuống và tỷ lệ chì tăng lên. Việc sáng tạo ra loại hợp kim
mới này không phải là ngẫu nhiên mà là xuất phát từ những yêu cầu về kinh tế và kỹ thuật của cả một
thời kỳ lịch sử. Trong các giai đoạn trước Đông Sơn hợp kim đồng chủ yếu dùng để chế tạo các đồ
nghề, đòi hỏi có tính năng kỹ thuật sắc bén, bền chắc. Đến giai đoạn Đông Sơn, đồng chuyển mạnh
5
vào lĩnh vực đồ dùng hằng ngày; các loại thạp, thố, trống đồng đòi hỏi sản xuất nhiều. Những đồ vật
này lại cần phải trang trí đẹp, phức tạp và như vậy cần hợp kim có tính năng dễ đúc để dễ dàng tạo nên
các chi tiết tinh xảo sắc nét trong khi đúc. Vì vậy mà người Việt cổ sử dụng hợp kim đồng - thiếc - chì.
+Mặt khác, hợp kim mới với 3 thành phần chính có nhiệt độ nóng chảy thấp hơn, do đó giảm bớt
những khó khăn trong việc nấu và đúc, và như vậy, người Việt cổ lúc đó đã bước đầu biết đến mối
quan hệ giữa thành phần và tính chất của hợp kim, mà thuật ngữ khoa học kỹ thuật luyện kim hiện đại
gọi là điểm nóng chảy thấp.
+Ta còn thấy ở các giai đoạn Đông Sơn thành phần kim loại còn thay đổi theo chức năng của đồ nghề.
VD:
-Mũi tên đồng ở Cổ Loa có: đồng: 95%, chì: 3,4-4,2%, kẽm: 1-1,1%. Tỉ lệ này đảm bảo độ cứng lớn
nhất
-Lưỡi giáo Thiệu Dương có: đồng: 73,3%, thiếc: 13,21%, chì:5,95% để đảm bảo cho vũ khí vừa dẻo
vừa bền.
+ ở thời kỳ Đông Sơn công cụ lao động phục vụ cho nông nghiệp và thủ công nghiệp phát triển. Cuối
+ Người Việt có tập tục ăn trầu, nhuộm răng đen và sống hài hòa với thiên nhiên.
Ở đây ta cũng nhắc đến vài nét chính của nghệ thuật chôn cất người chết. Mộ thuyền là một cách
chôn cất khá độc đáo của người Việt cổ thuộc văn hóa Đông Sơn. Các nhà khảo cổ đã phát hiện khi
nắp quan tài bật mở, người ta thấy tất cả bùn đất tích tụ từ thiên niên kỷ I TCNphủ kín hiện vật. Khi
lớp bùn được gạt ra, nhóm khai quật nhìn thấy người chết đặt nằm ngửa, thân bó vải, hai tay để xuôi,
chân duỗi thẳng.
-Kỹ thuật quân sự và nghệ thuật chiến tranh:
+Vũ khí: Đông Sơn rất phổ biến, đa dạng về loại hình, độc đáo về hình dáng và phong phú về số
lượng. Các nhà khảo cổ học tìm thấy sự độc đáo về mũi tên như Mũi tên Cổ Loa, mũi tên ba cạnh. Mũi
tên ba cạnh có sức sát thương lớn.
+Thành quách: chuyển từ vùng trung du về đồng bằng. Việc định cư tại đồng bằng chứng tỏ một bước
tiến lớn trong các lãnh vực xã hội, kinh tế trong giao tiếp, trao đổi con người dễ dàng đi lại bằng
đường bộ hay bằng đường thủy; trong nông nghiệp có bước tiến đáng kể về kỹ thuật trồng lúa nước,
mức độ dân cư cũng đông đúc hơn. Thể hiện sự phát triển về chiều rộng của Văn hóa Đông Sơn.
-Xã hội ngày càng phát triển, phân hóa phức tạp.Có sự phân hóa giàu nghèo.
6. Những thành tựu chủ yếu của Chăm Pa
-Người Champa: có gốc người da đen, mắt sâu, tóc quăn, mũi hếch. Y phục: dùng mảnh vải quấn
quanh người từ phải sang trái, mùa đông mặc áo dài. Những người quý tộc hoặc vua thường đi giày
da. Bối tóc, phụ nữ bối thành h́ình cái bầu; xâu lỗ tai, đeo hoa tai bằng kim loại.Người Chăm Pa sử
dụng ngôn ngữ malayo-polynesian. Ngoài ra còn có 2 tộc người cùng chủng tộc với người ChamPa là
Djarai, Rado. Theo như truyền thuyết, trong lịch sử vương quốc Chăm Pa các mối xung đột thường
được giải quyết để duy trì sự thống nhất của đất nước thông qua hôn nhân. Bên cạnh người Chăm, chủ
nhân vương quốc Chăm Pa xưa cũng có cả các tộc người thiểu số gốc và Mon-khme và ở phía Bắc
Chăm Pa cũng có cả người Việt.
* Những thành tựu chủ yếu của người Chăm Pa:
- Kinh tế: Ban đầu đã có một số giả thuyết cho rằng người Chăm nên kinh tế của Chăm Pa dựa trên sự
cướp bóc bằng đường biển là chủ yếu giống như Srivijaya. Mặc dù trong thế kỷ XVIII-XIX đã có
không ít tù nhân được mua về ở Chăm Pa. Sau này các nhà khoa học đã tìm ra rằng cư dân Chăm Pa là
những thương nhân rất giỏi, nhờ vào địa hình có rừng và biển nên trong thời kỳ này Chăm Pa đã có
một mặt hàng xuất khẩu nổi tiếng là cây Trầm.Trong thời kỳ này, người ta đã biết lấy bông ra dệt vãi
giáo đk du nhập vào VN từ đầu thời Bắc thuộc dưới 1 phương thức giao lưu văn hóa cưỡng chế. Đến
thời Lý – Trần, nó đã trở thành 1 nhu cầu tư tưởng thiết yếu cho vc xây dựng 1 thiết chế quân chủ tập
quyền. Do vậy, các nhà vua sùng phật thời Lý – Trần vẫn cần đến 1 sự bổ trợ của Nho giáo.
Thời Lý Nho giáo đk nhà nc chấp nhận nhưng vẫn giữ 1 vị trí khá khiêm tốn. Qua thời Trần, Nho
giáo và Nho học có phần khởi sắc hơn. Các vua Trần cố gắng dung hòa Phật – Nho trog đường lối trị
nc. Cuối thời Trần, quá trình Nho giáo hóa đời sống chính trị - xã hội đã diễn ra 1 cak quanh co, phức
tạp. Ở làng xã quá trình ấy lại càng mờ nhạt hơn. Họ vẫn sống theo những phong tục cổ truyền, chưa
bị ràng buộc bởi những wuy phạm Nho giáo.
• Trong khuôn khổ những cải cak của mình nhằm xây dựng 1 nhà nc trung ương tập quyền mạnh, Hồ
Quý Ly đã đẩy mạnh quá trình Nho giáo hóa xã hội Đại Việt như cho dịch và chú giải các Kinh thư,
Kinh thi, mở trường Nho học ở các địa phương và tổ chức thi Hương. Tuy nhiên đây là 1 thứ Nho giáo
thực dụng, ko giáo điều và có phần sáng tạo độc lập, dung hợp vs những tư tưởng Pháp gia nhằm nâng
cao hiệu quả công vc trị nc.
- Giáo dục khoa cử
• Đầu thời Lý, nền giáo dục ĐV có thể chủ yếu là Phật học. Cũng như Nho giáo, giáo dục khoa cử Nho
học ngày càng phát triển. Năm 1070, Văn Miếu đk thành lập. Thời Lý – Trần, Nho học phát triển từ
trên xuống dưới nhưng còn khá hạn chế.
• Giáo dục Nho học đã có nhiều tiến bộ ở thời Trần, Quốc Tử Giám vs những tên gọi ms đã đk củng cố
và mở ra đối tượng học tập.
• Cùng vs giáo dục, khoa cử ở ĐV đã có từ thời Lý. Năm 1075 mở khóa thi Minh kinh bác sĩ Nho học
đầu tiên. Tuy nhiên, Nho học và khoa cử thời Lý vẫn chưa ổn định. Các kỳ thi Thái học sinh đời Trần
đk tổ chức quy củ và thường xuyên hơn, 7 năm 1 kỳ. Quy trình và nội dung khoa cử đời Trần lúc đầu
gồm 4 kỳ, lần lượt là các bài thi: ám tả cổ văn, kinh nghĩa và thơ phú, chiếu chế biểu và đối sak. Năm
8
•
•
đem khắc in.
Dòng thơ văn yêu nc dân tộc cũng đã giữ 1 vị trí rất quan trọng trong thơ văn Lý – Trần. Nó phản ảnh
tinh thần bất khuất, anh dũng chống giặc, lòng trung quân ái quốc cũng như lòng tự hào dân tộc qua
những cuộc kháng chiến chống ngoại xâm. Tinh thần dân tộc cũng đã đk thể hiện trog các bộ quốc sử.
Nổi tiếng là bộ Đại Việt sử ký của Lê Văn Hưu, đk coi là bộ chính sử đầu tiên của VN.
Một thành tựu quan trọng của văn học Lý – Trần là phổ biến chữ Nôm vừa mag tính dân tộc vừa mag
tính dân gian, cải biến và Việt hóa chữ Hán. Thời Lý, người ta có thể tìm thấy 1 số dấu vết chữ Nôm
trên 1 số chuông đồng và văn bia. Chữ Nôm cũng đk phổ biến trog dân gian như 1 số câu vè châm
biếm cuộc hôn nhân giữa Huyền Trân công chúa và vua Champa Chế Mân.
Kiến trúc điêu khắc
Nhìn chug kiến trúc thời Lý mag tính hoành tráng, quy mô; kiến trúc thời Trần mang tính thực
dụng, khỏe khoắn. Tinh thần Phật giáo đã thấm đượm trog các công trình này.
Thành Thăng Long là công trình kiến trúc lớn thời Lý – Trần. Thời Lý có các điện Càn Nguyên (sau
đổi thành Thiên An), Tập Hiền, Giảng Võ, các cung Long Thụy, Thủy Hỏa, lầu Chính Dương coi giờ
giấc, điện Long Trì đặt chuông thinh nguyện ngoài thềm. Thời Trần có các cung điện Quan Triều,
Thánh Từ, Thiên An, Tập Hiền, Diên Hồng... 1 số cung điện đk xây dựng = gỗ, sơn son thiếp vàng đã
bị hủy hoại qua chiến tranh.
Thành nhà Hồ là công trình kiến trúc đồ sộ và độc đáo = đá, diện tik khá rộng, ngoài thành có lũy đất
trồng tre gai, sát thành có hào nc sâu bảo vệ. Trog thành còn có 1 số di vật như các viên gạch đắp hoa,
rồng đá, sấu đá.
Cùng vs thành quak, thời Lý – Trần còn có các khu lăng mộ và phủ đệ. Nhà Lý có khu sơn lăng ở Đình
Bảng (Bắc Ninh), nhà Trần có khu lăng mộ ở Long Hưng (Thái Bình) và An Sinh (Đông Triều) vs
nhiều tượng đá khắc họa hình ng và muông thú.
Chùa tháp là kiến trúc Phật giáo đặc biệt thời Lý – Trần. 1 số ngôi chùa có kiến trúc độc đáo, quy mô
lớn. Chùa Diên Hựu ở Thăng Long mô phỏng hình ảnh 1 đóa hoa sen mọc trên hồ nc. Chùa Phật Tích,
Long Đội và quần thể chùa Yên Tử đều đk xây dựng trên núi cao, cảnh trí kỳ vĩ.
Điêu khắc và đúc tạo hình thời Lý – Trần có cá loại tượng, chuông, vạc, các bức phù điêu. Các bức
phù điêu đời Lý – Trần phần lớn đều chạm khắc các hình tượng Phật giáo, hình tượng các tiên nữ múa
hát, các hình tượng rồng uốn khúc.
Mỹ thuật, nghệ thuật
- Tư tưởng tôn giáo: Nho giáo đã nhanh chóng chiếm 1 ưu thế trog đời sống tư tưởng so vs các tôn giáo
khác. Nho giáo thời Lê chịu ảnh hưởng sâu sắc của Nho giáo đời Tống. Phật giáo, Đạo giáo bị lấn át,
nhất là Phật giáo bị mất vị trí ưu thế của mình ở thời Lý, Trần. Chính sak độc tôn Nho giáo của nhà Lê
gặp ko ít sự phản kháng trog dân gian.
- Tổ chức đời sống XH phải ghi nhận ở thời này là luật Hồng Đức. Bộ luật này đk thi hành đến cuối thế
kỉ XVIII, về sau có bổ sug thêm 1 số điều, tổng cộng là 721 điều, chia làm 6 quyển, 16 chương. Bộ
luật này thật ra bao gồm cả luật hình sự, luật hôn nhân và gia đình, luật dân sự và tố tụng. Tất cả đều
đk trình bày dưới dạng QPPL.
- Văn học chữ Nôm vẫn ko ngừng phát triển. Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi vs 254 bài thơ là thơ chữ
Nôm cổ nhất hiện còn. Ngoải ra, còn khá nhiều tác giả thể hiện đk lòng tự hào dân tộc, khí phak anh
hùng. Về phương diện khoa học cũng có những tác giả tiêu biểu nhủ Lương Thế Vinh vs Đại thành
toán pháp, Vũ Hữu vs Lập thành toán pháp...
- Nghệ thuật: 1 số loại hình ca múa nhạc vẫn tiếp tục phát triển. Tuồng chèo là 2 thê loại sân khấu đã đạt
đến sự ổn định về mặt nghệ thuật.
- Kiến trúc điêu khắc: Hình tượng con rồng thời Lê đã chuyển hóa khác vs con rồng thời Lý – Trần, Con
rồng thời Lê đầu to, khỏe, có sừng và lông gáy tua tủa, có chân 5 móng quặp vào, trở thành biểu tượng
cho quyền uy của phog kiến.
8. Trong thời kỳ Bắc thuộc, nhân dân ta đã dùng những biện pháp gì để chống chính sách
đồng hóa của các triều đại phong kiến Trung Quốc?
10
-
-
•
sáng tạo của dân tộc Việt.
Văn hóa sản xuất: Trog quá trình tiếp xúc vs văn hóa Hán, dưới áp lực của cưỡng bức hoặc cũng có thể
là tự nguyện ng Việt cổ thấy hay, thấy có lợi thì làm theo
Trog nông nghiệp: công cụ = sắt, kỹ thuật dùng trâu bò làm sức kéo ngày càng phổ biến, nhờ đó diện
tik đất trồng trọt ngày càng mở rộng, các công trình thủy lợi có điều kiện phát triển. Nhân dân ta còn
biết bón phân để tăng độ phì nhiêu cho đất. Trải qua quá trình lâu đời từ 1 nền nông nghiệp thâm canh,
tổ tiên ta đã phát triển trồng 2 muà lúa từ rất sớm.
Trog thủ công nghiệp: nhân dân ta vốn nổi tiếng khéo tay, thành thạo trog lĩnh vực thủ công nghiệp từ
lâu đời. Vì vậy, khi giao lưu dã có thêm bước tiến đáng kể và nhiều ngành ms ra đời do học hỏi nc
ngoài: kỹ thuật rèn sắt, nghề gốm phát triển. Từ chỗ tiếp thu kỹ thuật làm giấy của TQ, nhân dân ta đã
chế tác những loại giấy tốt, chất lượng có phần hơn giấy sản xuất ở mền nội địa TQ. Bên cạnh đó,
nghề dệt và nghề đan lát là nghệ phụ quan trọng và phổ biến của nhân dân ta.
Văn hóa sinh hoạt: biểu hiện rõ trog văn hóa sinh hoạt của dân tộc ta là sự bảo tồn tiếng ns của dân
tộc, tiếng mẹ đẻ và xây dựng hệ thống ngôn ngữ văn học vs thành quả mà tổ tiên ta làm đk thật là kỳ
diệu. Nhân dân ta đã tiếp thu ảnh hưởng của Hán ngữ độc đáo và sáng tạo, đã Việt hóa những từ ngữ
ấy = cak dùng, cak đọc, tạo thành lớp từ sau này gọi là Hán – Việt. Qua thời bắc thuộc, nhân dân ta đã
chấp nhận văn tự hán, lắp rắp chữ hán để tọa nên chữ Nôm. Nhiều tục lệ cổ truyền khác vẫn đk giữ gìn
11
•
•
như tục cạo tóc hay búi tóc, xăm mình, chôn cất ng chết trog quan tài hình thuyền hay thân cây khoét
rỗng, tục nhuộm răng, ăn trầu cau...
Đời sống vật chất của ng dân Việt thể hiện lối sống của cư dân nông nghiệp trồng lúa nc trên 1 địa
hình sông nc của vùng nhiệt đới gió mùa. Bên cạnh kinh tế nương rẫy là sự phát triển của nông nghiệp
lúa nc, nghề chăn nuôi, nghề gốm, nghề luyện kim từ thấp đến cao, trog đó nghề trồng lúa nc đóng vai
trò chủ đạo. Nguồn lương thực chính là gạo, chủ yếu là gạo nếp. Về nhả ở, nơi cư trú chủ yếu là nhà
mối mâu thuẫn trog XH đồng thời chứng tỏ bản lĩnh của mình: ko tiếp thu những thứ của kẻ thù trong
tư thế bị áp bức , bị áp đặt khi giành được quyền tự chủ nhưng giáo lý nhà phật vẫn tỏ ra hữu dụng
trog việc bình ổn các mối quan hệ XH đồng thời là 1 sự thừa nhận vai trò quan trọng của phật giáo
trog việc giành lại độc lập cho nc nhà.
Về văn tự: chất chất liệu tạo tác văn, thơ, chúng ta sử dụng chữ Hán. Các nhà nho đọc sử, truyện,
Chiến quốc sách, học từ thơ ngũ kinh và sáng tác văn thơ trực tiếp = chữ hán .
Về quan niệm văn học, mỹ học: Tiếp nhận quan niệm những cái hay cái đẹp, tiếp nhận nhiều quan
niệm về văn học của truyền thống Trung Hoa như quan niệm văn dĩ tải đạo,thi sĩ ngôn chí , các quan
niệm về văn, quan niệm đề cao chữ tâm. Sự tiếp nhận văn học Trung Hoa của các thi nhân Việt là sự
tiếp nhận có chọn lọc, chỉ lựa chọn những gì phù hợp với điều kiện lịch sử, cần thiết với cuộc sống của
mình, giàu truyền thống văn hoá.Sự tiếp thu chọn lọc này diễn ra trong mọi thàng tố của hệ thống văn
học. Chúng ta nỗ lực tiếp thu văn hoá, văn học Hán. Ở đây, ng Việt đã thức nhận rõ ràng tính ưu việt
12
-
•
•
•
của văn hoá, văn học Hán đối với sự phát triển, xây dựng 1 đất nước tự chủ và khả năng bù đắp những
tinh hoa của nguời Hán. Trog quá trình tìm kiếm những khả năng bù đắp những thiếu hụt của dân tộc
từ bên ngoài, ng Việt đã chấp nhận văn hoá, văn học Hán trên tinh thần tiếp thu có chọn lọc để củng cố
xây dựng văn hoá, văn học của mình, thế nhưng những thành tựu văn hoá, văn học từ bên ngoài như
thế cộng đồng dân tộc Việt cũng ko thụ động sử dụng những thành tựu văn hoá ấy mà luôn ý thức rõ
ràng những gì mình tiếp nhận đk và nỗ lực cải biến, sáng tạo thêm, nỗ lực việt hoá của dân tộc. Trước
tiên là phải nói đến chữ Hán làm hệ thống văn tự chính viết = chữ Hán, sử dụng chữ Hán làm văn, làm
Đầu xuất hiện cặp sừng, đôi tai và những chi tiết mới. Rồng có vòi hình lá, vươn lên trên nhưng ko
uốn nhiều khúc, miệng rồng há to. Thân rồng to mập, khoẻ chắc, khúc nới ra uốn lượn đều đặn hình
sin thu dần về đuôi. Nổi rõ phong cách với những hình khối, đường nét mập khỏe, tinh lọc giản dị,
vững chãi mà không nặng nề, không tĩnh của cốt cách truyền thống.
Thời Lê: Đầu rồng to, có 2 nhánh sừng nhô cao, mắt lồi, bờm lớn ngược ra sau, mào lửa mất hẳn, thay
vào đó là 1 chiếc mũi to. Lưng rồng nhô hình vây nhọn theo khúc uốn. Cổ rồng nhỏ hơn thân, 1 tay
13
•
•
-
Rồng cầm lấy râu, răng nanh đk kéo dài lên phía trên và uốn xoắn thừng ở gốc. Chân rồng chạm 5
móng sắc nhọn, các hình xoắn trang trí bên thân rồng, kết hợp vs mây đao lửa. Đó là mô túyp trag trí
điển hình mang đặc trưng thời Lê. Hình tượng rồng trag nghiêm, râu bờm và sừng nổi cao dũng mãnh
uy quyền.
Thời Mạc: Thân rồng mập, uốn lượn đều đặn, bờm kéo dài uốn theo xuống nửa lưng, mây đao lửa
điểm xuyết trên thân, sóng cuộn dưới bụng, chân ngắn, lông khuỷu sợi đơn uốn xoắn. Đầu rồng có
sừng hai chạc, hai mắt lồi, mũi sư tử, mồm thú nhô ra phía trước. Các chân rồng thường chạm 4
móng.
Thời Nguyễn: Ở thế kỷ XIX hình tượng con Rồng còn giữ những nét đẹp do kế thừa tinh hoa truyền
thống, có độ uốn lượn đều đặn, chau chuốt, phần lớn là thanh mảnh và tinh tế. Rồng đk thể hiện ở
nhiều tư thế: ẩn mình trog đám mây, ngậm chữ thọ, 2 rồng chầu mặt trời, chầu hoa cúc...Chỏm đầu
thường bẹt, nổi vừa phải. Mắt là hai u tròn, mũi gồ, miệng hé lộ răng nanh nhọn. Sừng 2 chạc cong ra
phía sau. Tóc nhiều chẽ xoè kiểu nan quạt và hơi lượn sóng. Thân rồng chạm vẩy, hàng vây lưng hình
tam giác nhô cao nhọn. Đuôi rồng lượn sóng, chân Rồng có 2 cặp trước và sau, các móng thường chõe
ra. Rồng trong cug vua thường chạm 5 móng. Rồng thành bậc kiến trúc thân mập, khúc uốn thấp.
Đồ gia dụng: gồm bình, hũ, nồi, nắp, bát, cốc, chai và cả bếp lò. Bình gốm có nhiều loại, loại nào cũng
có vòi. Bếp lò là vật dụng quen thuộc và rất cần thiết của cư dân sống ở vùng ven biển và sông rạch,
trên nhà sàn hay ghe xuồng. Bếp lò gốm đã xuất hiện trong các di tik cư trú và cả trog mộ táng từ thời
tiền sử ở lưu vực sông Vàm Cỏ-Đồng Nai và trở thành vật đặc trưng của văn hoa Óc Eo.
- Vật liệu xây dựng và vật trang trí kiến trúc: Gạch là 1 vật liệu xây dựng, các viên gạch đk trag trí = các
hình sư tử, rắn mang bành, động vật 1 sừng và các động vật khác. Còn phù điêu là vật trag trí kiến
trúc. Cả gạch và phù điêu đk làm = đất nung, là những di vật chủ yếu trog các di tik kiến trúc đền tháp
của văn hóa Óc Eo.
3. Điêu khắc
- Tạc tượng: Tượng thờ Bàlamôn và Phật giáo đk tạc = đá và = gỗ, 1 số ít = đồng, đk tìm thấy trog nhiều
di tik và rải rác trên khắp vùng Nam Bộ. Có những pho tượng Phật bằng gỗ khá lớn và độc đáo như
sưu tập tượng gỗ ở di tik Gò Tháp. Những hiện vật này thuộc giai đoạn phát triển rực rỡ nhất của nghệ
thuật điêu khắc văn hóa Óc Eo tương ứng vs thời kì Hinđu giáo và Phật giáo thịnh hành từ thế kỷ V
đến thế kỷ VII. Phong cak điêu khắc vừa phản ánh rõ nguồn gốc ảnh hưởng từ nghệ thuật Ấn Độ vừa
thể hiện xu hướng bản địa hóa. Truyền thống nghệ thuật này còn đk duy trì và phát triển trong giai
đoạn sau, từ thế kỷ VIII trở đi mà ng ta gọi là giai đoạn hậu Óc Eo.
- Chạm trổ: Đáng chú ý là các lá vàng dập nổi hình mặt ng, chạm khắc tạo hình hoa văn trag trí. Cũng
có những con dấu và nhẫn bằng vàng, bạc, hợp kim thiếc, bề mặt khắc hình ng, động vật. Ngoài ra còn
có 1 số bia đá chạm khắc = dạng chữ Phạn cổ thế kỷ V. Giai đoạn phát triển rực rỡ nhất của nghệ thuật
điêu khắc là từ thế kỷ V đến thế kỷ VII. Sự đa dạng về loại hình và hình thức thể hiện xu hướng hiện
thực-bản địa hóa các hình tượng linh thú, thần thoại, tôn giáo (Ấn Độ giáo và Phật giáo) mặc dù chịu
ảnh hưởng nghệ thuật Ấn Độ. Truyền thống nghệ thuật tượng cổ ở Nam Bộ còn đk duy trì và phát triển
trog giai đoạn sau, từ thế kỷ VIII trở đi.
4. Kiến trúc
- Đền tháp: đk xây = gạch đá. Người xưa dùng kỹ thuật xây nền và tường gạch dày đặc, lắp ráp những
phiến đá granit lớn bằng mộng, chốt. Vật liệu xây dựng gồm gỗ, gạch, đá. Gỗ và đá là nguyên vật liệu
cư dân bản địa quen dùng từ thời tiền sử, còn gạch là vật liệu ms do tiếp thu kỹ thuật cuả Ấn Độ đầu
công nguyên. Vật liệu đã có kik thước rất lớn, đk lắp ghép kết nối = kỹ thuật chốt. Đền tháp theo kiểu
Văn hóa Óc Eo có những giao lưu vs văn hóa rộng lớn vs
- Văn hóa Đông Sơn:
• Hoa văn trag trí, khả năng chạm khắc, tạo hình tinh tế hình những ng thổi kèn, các vũ công đầu đội mũ
lông chim trĩ, chim công – 1 loài chim đặc sắc phương Nam nhiệt đới.
• Kỹ thuật luyện kim, đặc biệt là kỹ thuật đúc đồng. Các hiện vật bằng đồng như trống đồng đk đúc 1
cak tinh xảo. Trống có kik thước đa dạng, giữa mặt trống là hình ngôi sao, phần nhiều là ngôi sao 12
cánh, xen giữa các cánh sao là họa tiết lông công hoặc những đường vạch chéo có hình tam giác lồng
vào nhau. Có những hình vẽ thể hiện sinh hoạt của cộng đồng ng Việt cổ như giã gạo, săn bắt, thờ
cúng, trẻ em chơi đùa. Bao quanh các ngôi sao có hình ng, vật, động vật và hoa văn hình học: đường
chấm nhỏ, vành chỉ trơn, hoa văn răng cưa, các chữ của ng Việt cổ.
- Văn hóa Ấn Độ: Văn hóa Óc Eo chịu ảnh hưởng của nền văn hóa Ấn Độ rất đậm nét, thể hiện qua kiến
trúc, tín ngưỡng tôn giáo. Khoa khảo cổ tìm thấy các tượng thuộc Ấn Độ giáo, Phật giáo, đồ trag sức,
hoa văn chạm chim, con dấu, văn tự Ấn Độ. Nghệ thuật Phật giáo và Ấn Độ giáo đến đồng = sông
Cửu Long thông qua giao lưu trao đổi các vật phẩm chủ yếu = đường biển, góp phần làm giàu thêm
văn hóa bản địa và là 1 trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự hình thành, phát triển các trung
tâm tôn giáo – văn hóa – kinh tế - chính trị lớn ở cùng đất này trog những thế kỷ đầu công nguyên.
- Văn hóa thế giới Địa Ttrung Hải và Trung Đông: huy chương La Mã, hoa văn trang trí, hình chạm
chim, tượng đồng, hạt chuỗi La Mã, hình tượng vua Ba Tư
- Văn hóa Trung Hoa: mảnh gương đồng, tượng Phật nhỏ...
11. Những thành tựu chủ yếu của văn hóa thế kỷ X, Thăng Long, Trần, Lê, Nguyễn:
1. Văn hóa thế kỷ X
- Nông nghiệp ngày càng ổn định và phát triển
• Chia ruộng đất cho nông dân
• Khai khẩn đất hoang
• Chú trọng thủy lợi
• Nhà vua quan tâm đến sản xuất, khuyến khik nhân dân làm nông nghiệp
- Thủ công nghiệp
• Các xưởng thủ công nhà nc như xưởng đúc tiền, rèn vũ khí, may mặc, xây dựng cung điện đk thành
lập.
Năm 1075, nhà Lý mở khoa thi Minh kinh bác sĩ Nho học đầu tiên để tuyển chọn ng tài giỏi ra làm
quan.
Năm 1076, vua Lý Nhân Tông tiếp tục cho xây Quốc Tử Giám ngay giũa kinh thành, từ đây nền giáo
dục đại học nc ta đk khai sinh.
Năm 1195, nhà Lý mở khoa thi Tam giáo.
Văn học chữ Hán bc đầu phát triển.
Văn học : Đặc điểm nổi bật của văn học đời Lý là lực lượng các nhà sư sáng tác chiếm đa số trên văn
đàn. Có khoảng hơn 40 nhà sư sáng tác với những tên tuổi tiêu biểu như Mãn Giác, Viên Chiếu, Viên
Thông, Không Lộ, Quảng Nghiêm... Các nhà sư đời Lý đã góp phần ko nhỏ vào kho tàng văn học
cổ VN. Định hướng sáng tác của các nhà sư tuy tập trung thuyết lý cho đạo Phật nhưng vẫn chứa đựng
những yếu tố XH tích cực và có giá trị văn học.
Bên cạnh đó, bắt đầu từ thời Lý, truyền thống yêu nc trog văn học hình thành và phát triển trog các
giai đoạn sau. Chủ đề yêu nc trog mỗi tác phẩm thể hiện ở những cung bậc trầm hùng khác nhau
nhưng ý nghĩa chug nhất vẫn là tiếng nói lạc quan, mang tính thời đại, tiếng nói tự hào của một dân tộc
đang vượt qua nhiều thử thách.
•
•
Dưới hình thức này hay hình thức khác, sự phog phú của văn học thời kỳ này biểu hiện tính chất
dung hòa nhất giữa Phật giáo - Nho giáo và các tín ngưỡng dân gian thuần túy của dân tộc. Tính chất
trang trọng trong ngôn ngữ biểu hiện (chữ Hán), tính uyên bác trog chiều sâu tư tưởng khiến cho văn
học đời nhà Lý trở thành 1 đỉnh cao.
Đạo phật rất phát triển
Hoạt động văn hóa dân gian như ca hát, nhảy múa, đá cầu, đua thuyền phát triển.
Nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc rất phát triển, nhiều công trình nghiên có quy mô lớn và mag tính dân
tộc độc đáo
Hoàng thành Thăng Long là một công trình kiến trúc lớn và tiêu biểu cho văn hóa Thăng Long. Thành
gồm 2 vòng dài khoảng 25km. Trog hoàng thành có những cung điện cao đến 4 tầng. Thành đắp = đất,
- Tiền tệ: Thời Lý đã xuất hiện vc trao đổi = tiền trog nội thương và ngoại thương, có vai trò quan trọng
trog XH.
3. Văn hóa thời Trần
- Tôn giáo, tĩn ngưỡng
• Phật giáo: đóng vai trò ảnh hưởng lớn, các thiền sư được sự tôn trọng, ko tham gia chính trị. Tuy Phật
giáo thịnh hành và đk các vua quan tin theo nhưng vì công cuộc xây dựng nhà nc theo mô
hình Hán Đường của TQ, vc tiếp xúc thường xuyên với văn minh Trung Hoa và vc chống ngoại xâm
đã ko cho phép Phật giáo phát triển thành quốc giáo.
• Nho giáo hình thành ảnh hưởng trog xã hội qua hệ thống giáo dục và khoa cử. Vì văn học mở mag nên
lực lượng sĩ phu ngày càng đông. Họ noi gương Khổng Tử, Mạnh Tử. Các nhà Nho nổi tiếng thời Trần
có Lê Văn Hưu, Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Trung Ngạn, Trương Hán Siêu, Hàn Thuyên, Chu Văn An.
- Giáo dục khoa cử: Các kỳ thi Thái học sinh đời Trần đk tổ chức quy củ và thường xuyên hơn, 7 năm 1
kỳ. Quy trình và nội dung khoa cử đời Trần lúc đầu gồm 4 kỳ, lần lượt là các bài thi: ám tả cổ văn,
kinh nghĩa và thơ phú, chiếu chế biểu và đối sak.
- Văn học: nền văn chương chữ Nôm bắt đầu hình thành vs những tác giả và tác phẩm tiêu biểu
• Trần Quốc Tuấn
Hịch tướng sĩ: Tháng 12 năm Giáp Thân 1284, hiệu Thiệu Bảo năm thứ 6, đời Trần Nhân Tông, đại
binh Thoát Hoan tiến đánh Chi Lăng, Trần Quốc Tuấn thất thế đưa quân chạy vềVạn Kiếp. Vua Nhân
Tông thấy thế giặc mạnh, cho vời ông về Hải Dương mà phán "Thế giặc to như vậy, mà chống với
chúng thì dân sự tàn hại, hay là trẫm sẽ chịu hàng để cứu muôn dân?" Vương tâu: "Bệ hạ nói câu ấy
là lời nhân đức, nhưng Tôn Miếu Xã Tắc thì sao? Nếu Bệ hạ muốn hàng, xin trước hãy chém đầu tôi
đi đã, rồi sau hãy hàng!!" Vua nghe thế yên lòng. Hưng Đạo Vương trở về Vạn Kiếp hiệu triệu 20 vạn
quân Nam, và thảo bài Dụ chư tỳ tướng hịch văn (thường gọi là Hịch tướng sĩ) để khuyên răn tướng sĩ,
đại ý khuyên binh sĩ học tập và rèn luyện võ nghệ, khuyên các tướng học tập trận pháp theo sách Binh
thư yếu lược, chuẩn bị cho cuộc kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ 2.
Binh thư yếu lược: đại ý ghi các điều cốt yếu từ các binh thư về việc dùng binh, giúp các tướng lĩnh và
quân sĩ trau dồi khả năng quân sự.
• Trần Quang Khải
18
do Trần Quang Khải viết sau khi quân dân nhà Trần chiến thắng quân Nguyên lần thứ 2. Bài thơ đại ý
nói về cảm xúc người tướng khi theo xa giá vua trở về kinh đô khải hoàn. Hiện còn 2 bản lưu truyền, 1
của Trần Trọng Kim, 1 của Ngô Tất Tố.
Phúc hưng viên: Sau khi chiến thắng quân Nguyên, Thượng tướng Trần Quang Khải về hưu lúc tuổi
già và nghĩ ngơi tại tư dinh của ông, có vườn riêng tên gọi "Phúc hưng viên". Bài thơ này đại ý tả cảnh
nhàn nhã thời thanh bình. Hiện còn 1 bản lưu truyền củaNgô Tất Tố.
Lưu gia độ: Bài thơ này đại ý tả cảnh khách qua bến đò Lưu gia, nhớ lại ngày xưa từng hộ tống xa giá
vua có dừng quân nơi đây, nay non sông thái bình, trở lại chốn cũ đầu đã bạc, thấy hoa mai nở trắng
xóa như tuyết bên bờ sông. Hiện còn một bản lưu truyền của Ngô Tất Tố.
Chu Văn An
Thất trảm sớ (bài sớ xin chém bảy quyền thần) : Bài sớ này viết vào đời vua Trần Dụ Tông, khi Chu
Văn An làm quan trog triều và chứng kiến 1 số quan lại hủ bại, bèn viết sớ xin vua chém các người
này. Khi vua không nghe, ông từ quan về hưu và sau đó không còn tham chính.
Trương Hán Siêu
Bạch Đằng giang phú(phú sông bạch đằng): Bài này Trương Hán Siêu tả cảnh sông Bạch Đằng, nhắc
nhở côg của quân dân nhà Trần đánh quân Nguyên, và khuyên hậu duệ trog nước đời sau nên biết gìn
giữ giang sơn.
Linh tế tháp ký
Quan Nghiêm tự bi văn: bài này ghi việc xây dựng trùng tu chùa Quan Nghiêm.
Mạc Đĩnh Chi
Ngọc tỉnh liên phú(Phú hoa sen ở giếng ngọc): Năm Hưng Long thứ hai mười hai (1304), đời Trần
Anh Tông, Mạc Đĩnh Chi đi thi, đỗ trạng nguyên, khi vào chầu, vua thấy ng ông nhỏ bé, lại xấu xí,
nên ko vui. Ông bèn viết bài phú hoa sen ở giếng ngọc, tự ví mình như loài hoa sen hiếm quí chỉ có
người sành điệu mới biết thưởng thức. Vua xem khen hay và bổ ông làm quan.
Hồ Quý Ly
Quốc ngữ thi nghĩa: sách dùng chữ quốc ngữ chua nghĩa Kinh Thi để các giáo sư dạy hậu phi và cung
nhân. Sách này Hồ Quý Ly chú giải theo ý mình, không theo lời chú thích trước của Chu Tử.
Khoa học kỹ thuật
Lập ra Quốc sử viện
Năm 1272, bộ Đại Việt sử ký ra đời
PL thời Trần khẳng định và củng cố sự phân chia đẳng cấp. Đại quý tộc trc hết là vua và hoàng gia đk
PL bảo vệ các đặc quyền, đặc lợi. Riêng vs họ hàng nhà Trần nếu phạm tội thì bị xử nhẹ hơn.
PL thời Trán xác nhận và bảo vệ quyền tư hữu tài sản, đặc biệt là ruộng đất. Các tội trộm cắp bị xử rất
nặng. Lần đầu mắc tội phạt 80 trượng, thik chám vào mặt 2 chữ “phàm đạo” và phải đền cho chủ, cứ 1
phải đền 9. Nếu ko đền đủ, phải đem gán vợ, con làm nô tì. Tái phạm thì bị chặt chân, tay. Phạm tội
lần 3 thì bị giết.
PL thời Trần chú trọng bảo vệ sản xuất nông nghiệp. Tiếp tục theo xu hướng PL thời Lý, PL thời Trần
cũng có điều luật bảo vệ trâu bò và các công trình thủy lợi. Luật nhà nc coi trọng vc xay dựng và sửa
chữa đê điều là công vc của toàn dân, kể cả triều đình.
Tiền tệ: Thời Trần Minh Tông, nhà Trần đúc tiền = hợp kim gọi là "diên tiền", đây ko phải là tiền kẽm
đơn chất vì sag thế kỷ 19 ms tinh luyện được kẽm.
Các đồng tiền nhà Trần qua các đời vua gồm có:
•
Nguyên Phong thông bảo
• Khai Thái nguyên bảo
• Thiệu Phong bình bảo, Thiệu Phong nguyên bảo
• Đại Trị thông bảo
• Thông bảo hội sao: tiền giấy đầu tiên phát hành thời Trần Thuận Tông.
4. Văn hóa thời Lê
- Tôn giáo tín ngưỡng: Thời Lê, nước Đại Việt chịu ảnh hưởng của Nho giáo, Phật giáo và Đạo
giáo cùng tín ngưỡng dân gian, trog đó Nho giáo là đậm nét nhất, trở thành tư tưởng chủ đạo của chính
quyền cai trị.
• Thờ thần linh: Ngay khi giành thắng lợi cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, Lê Lợi đã quan tâm tới vc sai các
quan đi tế lễ thần kỳ ở các núi, sông, miếu xã các nơi trong nước và các lăng tẩm các vua đời trc. Năm
1437, Lê Thái Tông tiến hành gia phog cho các thần linh trog nc và tổ chức tế lễ log trọng. Sag thời Lê
Nhân Tông, triều đình đã cho lập các đàn thờ Thành hoàng tại kinh thànhThăng Long, thờ thần Gió,
thần Mây, thần Mưa, thần Sấm để bảo vệ kinh thành.
• Nho giáo: Các vua Lê từ Lê Thái Tổ trở đi rất sùng đạo Nho, dùng đường lối này làm tư tưởng chính
Ngoài các trường do triều đình mở còn có các trường lớp tư nhân trên khắp toàn quốc do các nhà Nho
không đỗ đạt hoặc đã đỗ đạt nhưng thôi làm quan về dạy học.
-
Chế độ khoa cử: Việc tuyển dụng quan lại vào bộ máy chính quyền có 3 đường:
•
Đỗ đạt qua thi cử
•
Nhờ quan lại đề cử có bảo đảm (bảo cử)
•
Lấy con cháu công thần hưởng tập tước
Trong 3 con đường trên, con đường khoa cử là quan trọng nhất, được triều đình đề cao, chú trọng.
Ngay từ năm 1426, khi khởi nghĩa Lam Sơn chưa kết thúc, Lê Lợi tiến ra Bồ Đề đã mở kỳ thi đặc
biệt, lấy đỗ 30 người. Từ khi nhà Lê chính thức thành lập, việc tổ chức các khoa thi diễn ra đều đặn
định kỳ.
Có 3 kỳ thi chính và quan trọng nhất là thi Hương, thi Hội và thi Đình.
-
Văn học: Các thể loại văn học chính thời kỳ này gồm thơ, phú, chiếu,biểu, văn bia, truyện ký, cáo,
chính luận. Lực lượng sáng tác thời Lê sơ khá hùng hậu và thành tựu sáng tác cũng rất lớn, để lại dấu
ấn đậm nét trong lịch sử văn học thời phong kiến của VN.
Lam Sơn Lương thuỷ phú (bài phú miêu tả vẻ đẹp của núi Lam và sông Lương và công trạng của khởi
nghĩa Lam Sơn)
Thơ chữ Nôm: Hồng Đức quốc âm thi tập, và 1 số bài trong Lê triều danh nhân thi tập
-
Khoa học:
•
Sử học: Đại Việt sử ký toàn thư
•
Địa lý: Dư địa chí
•
•
Y học: Bản thảo thực vật toát yếu
Toán học: Lập thành toán pháp
-
Kiến trúc điêu khắc:
Âm nhạc cung đình: Âm nhạc cung đình chỉ chính thức xuất hiện từ thời Lê Thái Tông. Bộ nhạc khí
cung đình đk Lương Đăng thiết kế gồm: trống cái, bộ khánh, bộ chuông, đàn cầm,đàn sắt, sinh tiêu,
quản, thược, chúc, ngữ, huân, trì, phương hưởng, ko hầu, đàn tì bà, quản địch.
•
Âm nhạc dân gian: Từ năm 1437, khi âm nhạc cung đình của Lương Đăng chính thức được áp dụng
thì Lê Thái Tông ra lệnh bãi bỏ trò hát chèo và thôi không tấu các loại nhạc thông tục dân gian - những
loại nhạc này bị triều đình gọi là "dâm nhạc”.
-
Tuy ra khỏi cung đình, hát chèo vẫn là thể loại âm nhạc phổ cập nhất trog đời sống văn hoá tinh
thần của nhân dân thời Lê.
Luật pháp: Quốc triều Hình luật ( Lê triều hình luật ) đk dân gian gọi là Luật Hồng Đức, là bộ luật
quan trọng thứ 3, đk ban hành dưới thời vua Lê Thánh Tông năm 1483, trên cơ sở sưu tập tất cả các
điều luật, các văn bản PL đã ban bố và thi hành trong các đời vua trc, đk sửa chữa, bổ sug và san định
lại cho hoàn chỉnh.
Bộ luật này bao gồm 6 quyển, 13 chương, 722 điều.
Về nội dung, ngoài những quy định chug, bộ luật đã dành từng chương để quy định các vấn đề cụ
thể thuộc nhiều ngành luật: hình sự, dân sự, hành chính, hôn nhân và gia đình, quân sự...
Theo đánh giá của các nhà nghiên cứu trog và ngoài nc “Quốc triều hình luật là thành tựu có giá trị
đặc biệt quan trọng trog lịch sử PL VN”. Đk ban hành trog giai đoạn phát triển mạnh mẽ của chế độ
22
phong kiến trug ương tập quyền, Quốc triều hình luật ko chỉ là bộ luật chính thức của VN dưới thời Lê
sơ mà còn đk các triều đại khác sau này sử dụng đến hết thế kỷ XVIII.
•
Quân Thuận thông bảo
•
Hồng Đức thông bảo
•
Cảnh Thống thông bảo
•
Đoan Khánh thông bảo
•
Hồng Thuận thông bảo
•
Quang Thiệu thông bảo
•
Thống Nguyên thông bảo
•
sẵn.
Sách riêng của người Việt có cuốn Nhất thiên tự, Tam thiên tự, Ngũ thiên tự, Sơ học vấn tân, và Ấu
học ngũ ngôn thi Ngoài ra còn các sách chuyên đề về Bắc sử, Nam sử, cổ thi.
-
Văn học : Thời kỳ nhà Nguyễn, văn học phát triển trog cả Hán văn, lẫn một cách mạnh mẽ ở chữ Nôm
với nhiều thành tựu lớn, trong đó tác phẩm chữ nôm tiêu biểu nhất là Truyện Kiều của Nguyễn Du.
23
Ngoài các nội dung văn chương mang đậm tư tưởng Nho giáo truyền thống thì số phận con người và
phụ nữ cũng được đề cập đến như bài thơ Bánh trôi nc của Hồ Xuân Hương.
•
Thời Nguyễn sơ: thời kỳ của các nhà thơ thuộc hai nguồn gốc chính là quan của vua Gia Long và các
cựu thần nhà Hậu Lê bất phục nhà Nguyễn. Tiêu biểu cho thời kỳ này là các tác giả: Phạm Quy
Thích, Nguyễn Du, Trịnh Hoài Đức và Lê Quang Định. Nội dung tiêu biểu cho thời kỳ này là nói về
niềm tiếc nhớ Lê triều cũ và một lãnh thổ văn chương Việt Nam mới hình thành ở phương Nam.
•
Thời Nguyễn còn độc lập: là thời của các nhà thơ thuộc đủ mọi xuất thân trong đó có các vua
như Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, và các thành viên hoàng tộc như Tùng Thiện Vương Nguyễn
Phúc Miên Thẩm. Các nho sĩ thì gồm có Nguyễn Văn Siêu, Cao Bá Quát, Phan Thanh Giản. 2 thể kiểu
thơ chủ yếu của thời kỳ này là thơ ngự chế của các vị vua và các thi tập của nho sĩ.
•
Thời Nguyễn thuộc Pháp: là thời kỳ ảnh hưởng của hoàn cảnh lịch sử đương thời tác động rất lớn vào
thuốc súng bằng sức nước mang tên Thuỷ hoả kí tế. Sau đó những năm 1837-38, theo mẫu của phương
Tây, thợ thủ công nhà nc đã chế tạo đk máy cưa văn gỗ, xẻ gỗ = sức nc, máy hút nc tưới ruộng và cả
xe cứu hoả. Đặc biệt là năm 1839, dựa theo các kiểu phương Tây, các đốc công Hoàng Văn Lịch, Vũ
Huy Trịnh cùng các thợ của ông đã đóng thành công chiếc tàu máy hơi nước đầu tiên, được vua Minh
Mạng hết sức khen ngợi.
Ngoài ra còn có những thành tựu về kỹ thuật làm đồng hồ, kính thiên lý.
o
-
Nghệ thuật
24
•
Văn nghệ dân gian phát triển, nghệ thuật sân khấu như chèo, tuồng, quan họ lý, hát dặm ở miền xuôi,
hát lượm; hát xoan ở miền núi.
•
Tranh dân gian mag đậm tính dân tộc như đấu vật, chăn trâu, thổi sáo. Nổi tiếng vs dòng tranh Đông
Hồ.
-
Kiến trúc: nổi bật và tiêu biểu nhất là Kinh thành Huế. Có chu vi gần 10.000m, diện tik 520 ha. Thành
cao 6,6m, 10 của ra vào, trên thành có 24 pháo đài, ngoài ra còn có hệ thống hào và sông đào bảo vệ.
Về phía đông bắc còn có 1 thành phụ gọi là Trấn Bình Đài (Mang Cá). Bên trog và bên ngoài kinh
thành là hàng trăm cồng trình lớn nhở, chính phụ khác nhau. Tất cả đk bố trí cân đối, hợp lý nằm trog
Lăng Tự Đức: ngoài mục đik là nơi chôn cất khi qua đời, đây còn là nơi vua đến nghỉ ngơi, đọc sak,
ngân thơ...nên cảnh quan của lăng tựa như 1 công viên rộng lớn vs tiếng nc chảy, hồ nc thơ mộng,
hàng thông xanh mát. Lăng Tự Đức có tấm bia lớn khắc bài “Khiêm Cung kí” dài 4.935 chữ do vua Tự
Đức soạn thảo để tự ns về cuộc đời, vương nghiệp cũng những lỗi lầm va sai phạm của mình.
•
Hình tượng con rồng: Ở thế kỷ XIX hình tượng con Rồng còn giữ những nét đẹp do kế thừa tinh hoa
truyền thống, có độ uốn lượn đều đặn, chau chuốt, phần lớn là thanh mảnh và tinh tế. Chỏm đầu bẹt,
nổi vừa phải. Mắt là hai u tròn, mũi gồ, miệng hé lộ răng nanh nhọn. Sừng 2 chạc cong ra phía sau.
Tóc nhiều chẽ xoè kiểu nan quạt và hơi lượn sóng. Thân rồng chạm vẩy, hàng vây lưng hình tam giác
nhô cao nhọn. Đuôi rồng lượn sóng, chân Rồng có 2 cặp trước và sau, các móng thường chõe ra. Rồng
trong cug vua thường chạm 5 móng. Rồng thành bậc kiến trúc thân mập, khúc uốn thấp.
-
Luật pháp: Lúc đầu, nhà Nguyễn chưa có 1 bộ luật rõ ràng. Vua Gia Long chỉ mới lệnh cho các quan
tham khảo bộ luật Hồng Đức để rồi từ đó tạm đặt ra 15 điều luật quan trọng nhất. Năm 1811, theo lệnh
của Gia Long, tổng trấn Bắc Thành là Nguyễn Văn Thành đã chủ trì biên soạn 1 bộ luật mới và đến
năm 1815 thì nó đã được vua Gia Long ban hành với tên Hoàng Việt luật lệ hay còn gọi là luật Gia
Long. Bộ luật Gia Long gồm 398 điều chia làm 7 chương và chép trong một bộ sách gồm 22 cuốn, đk
in phát ra khắp mọi nơi. Chương "Hình luật" chiếm tỉ lệ lớn, đến 166 điều trog khi những chương khác
như "Hộ luật" chỉ có 66 điều còn "Công luật" chỉ có 10 điều. Trog bộ luật có 1 số điều luật khá nghiêm
25