Đáp Án tham khảo 20 câu dẫn luân ngôn ngữ
Câu 1: Phân biệt âm vị và âm tố?
Tiêu chí phân
biệt
Đơn vị, hình thức, thể hiện
Âm tố ( Ngữ âm học )
Là hình thức thể hiện vật chất
của âm vị, là đơn vị cụ thể
thuộc lời nói.
Âm vị (Âm vị học)
-
-
Phương pháp
nhận diện
-
Có số lượng vô hạn.
Là đơn vị phát âm nhỏ nhất.
-
Được ghi ở giữa ngoặc vuông .
Phải chú ý trước những cách
phát âm đặc biệt mới nhận ra
được.
Nói đến âm tố là mói đến mặt
Phạm vi ngữ
âm và phạm
vi sử dụng
Nằm trong âm tố và được thể
hiện qua âm tố, là đơn vị trừu
tượng thuộc ngôn ngữ.
Có số lượng hữu hạn( có vài
chục âm vị)
Là đơn vị nhỏ nhất đại diện
cho âm tố.
Được ghi giữa gạch xiên.
-
-
-
Được nhận biết một cách dễ
dàng
-
Nói đến âm vị là nói đến mặt
xã hội của ngữ âm.
Được cảm nhận bằng tri giác
Có quan điểm lịch sử
Cái tồn tại là cái có lí
âm học phương tây để chỉ một đơn vị lời nói được phát ra. Trước kia, chúng ta chỉ gọi đơn
vị này là một tiếng.)
Sơ đồ đầy đủ Sơ đồ tóm tắt
Câu 4:
1
Âm tiết mở: những âm tiết tận cùng bằng các nguyên âm
Vd:
Từ “đi” của Tiếng Việt, “đi” tận cùng bằng nguyên âm cao “i” nên nó là âm tiết
mở ( Hoàng Phê, Từ Điển Tiếng Việt, 2006, Tr. 311)
- Từ “khe” của Tiếng Việt, “khe” tận cùng bằng nguyên âm thấp vừa “e” nên nó là
âm tiết mở ( Hoàng Phê, Từ Điển Tiếng Việt, 2006, Tr. 497)
2 Âm tiết đóng: những âm tiết tận cùng bằng các phụ âm
Vd:
- Từ “cát” của Tiếng Việt, “cát” tận cùng bằng phụ âm tắc vô thanh “t” nên nó là
âm tiết đóng ( Hoàng Phê, Từ Điển Tiếng Việt, 2006, Tr. 115)
- Từ “học tập” của Tiếng Việt, “học tập” tận cùng bằng các phụ âm tắc vô thanh
“c, p” nên nó là âm tiết đóng ( Hoàng Phê, Từ Điển Tiếng Việt, 2006, Tr. 454)
3 Xác định kiểu âm tiết kết thúc của các ngữ đoạn:
- Ngữ đoạn “ Nghe xuân sang” kết thúc bằng một phụ âm vang “ng” nên ngữ đoạn
này có âm tiết kết thúc là âm tiết nửa khép.
- Ngữ đoạn “ Thấy trong lòng vui chứa chan ” kết thúc bằng một phụ âm vang “n”
nên ngữ đoạn này có âm tiết kết thúc là âm tiết nửa khép.
- Ngữ đoạn “ Tiếng pháo vui ” kết thúc bằng một bán nguyên âm “i” nên ngữ đoạn
này có âm tiết kết thúc là âm tiết nửa mở.
- Ngữ đoạn “Vang đó đây ” kết thúc bằng một bá nguyên âm “i” nên ngữ đoạn này
có âm tiết kết thúc là âm tiết nửa mở.
ngữ đoạn này có âm tiết kết thúc là âm tiết nửa mở.
Ngữ đoạn “ Xuân thắm tươi ” kết thúc bằng một bán nguyên âm “i” nên ngữ đoạn
này có âm tiết kết thúc là âm tiết nửa mở.
Ngữ đoạn “ xuân nồng say ” kết thúc bằng một bán nguyên âm “i” nên ngữ đoạn
này có âm tiết kết thúc là âm tiết nửa mở.
Câu 5: Tiếng Việt được xem là một ngôn ngữ đơn lập tiêu biểu mà đặc điểm cơ bản của
nó là: âm tiết giữ một vai trò cơ bản trong hệ thống các đơn vị ngôn ngữ; vốn từ vựng cơ
bản của tiếng Việt đều là từ đơn tiết và mỗi âm tiết đều có khả năng tiềm tàng trở thành từ;
các từ không biến hình; một âm tiết cũng đồng thời là một hình vị và ý nghĩa ngữ pháp được
thể hiện chủ yếu bằng trật tự từ... Trên phương diện ngữ âm, âm tiết tiếng Việt được xem là
một đơn vị cơ bản (trong các ngôn ngữ biến hình đó là âm vị). Âm tiết tiếng Việt có cấu
trúc đơn giản, luôn gắn liền với thanh điệu, được tách biệt trong chuỗi lời nói và cả trong
hình thức chữ viết.
(Tóm tắt Vai trò của tiếng (âm tiết) trong cấu tạo từ tiếng Việt:
-
Âm tiết là đơn vị phát âm tự nhiên nhỏ nhất của lời nói mà bất cứ người bản ngữ nào
cũng có thể nhận ra.
Âm tiết là một hình vị để cấu tạo từ ngữ.)
Vai trò của tiếng trong thơ:
-
Âm tiết bao giờ cũng là thước đo cơ bản về độ dài của nhịp điệu và của các dòng thơ.
(Vai trò của âm tiết không chỉ là một hình vị để cấu tạo từ ngữ trong ca từ, mà chúng
còn có nhiệm vụ rất quan trọng và đặc biệt để phân định tiết tấu ca từ, tức là âm tiết
làm chuẩn nhịp chính của các đơn vị ca từ. Từ đây, âm tiết còn có vai trò khác như
làm điểm rơi của trọng âm từ hoặc câu; hoặc phân cách trong hội thoại, những âm
tiết chính nhịp thường là tạo chỗ ngừng.)
không nên coi những từ tạo trên đây là những từ được tạo ra bằng phương thức phụ gia.
(ii). Phương thức ghép
Ghép là phương thức kết hợp các hình vị cùng tính chất với nhau (chủ yếu là các căn tố với
nhau) theo một trật tự nhất định để tạo ra từ mới – từ ghép. Đây là phương thức được sử
dụng phổ biến trong các ngôn ngữ,
Ví dụ: trong tiếng Việt: mua bán, thiệt hơn, thay đổi, được mất, xe hơi,
trong tiếng Anh: blackboard (bảng đen), inkpot (lọ mực), manpower (nhân lực),
trong tiếng Pháp: vinaigre (giấm), sous-marin (tàu ngầm),
Trong số các loại từ tạo thì từ ghép thường gây nên sự nghi ngờ và bất đồng ý kiến, vì rằng
chúng dễ bị nhầm lẫn với cụm từ tự do. Vì vậy, người ta phải đưa ra các tiêu chuẩn nhận
diện từ ghép. Ngoài các tiêu chuẩn áp dụng đối với các từ nói chung là:
– Phải có nghĩa hoàn chỉnh, nghĩa là biểu thị một nội dung khái niệm độc lập, hoàn
chỉnh.
– Có cấu trúc hình thức chặt chẽ, nghĩa là không thể bỏ đi một hình vị (từ tố) mà
nghĩa của từ vẫn được giữ nguyên, hoặc không thể chêm các thành phần khác vào giữa hình
vị hay chêm các thành phần phụ cho từng hình vị riêng lẻ, còn có thể nêu thêm hai tiêu
chuẩn sau đây:
– Phải có dấu hiệu hình thức, chẳng hạn như có hình vị nối (liên tố) giữa các căn tố,
ví dụ: hình vị nối -o- trong zvuk/o/operator (người thu thanh) của tiếng Nga, hay
speed/o/meter (đồng hồ tốc độ) của tiếng Anh.
– Phải có sự biến âm (gọi là biến âm sandhi), nghĩa là các hình vị được ghép với
nhau bị thay đổi hình thức ngữ âm, ví dụ: nguyên âm ‘e mũi’ của hình vị vin(rượu vang)
biến thành [i] khi có được kết hợp với aigre (chua) thành vinaigre (giấm) trong tiếng Pháp,
hay nguyên âm [o] của hình vị po trong từ potomu (vì vậy) trong tiếng Nga được phát âm
ngắn hơn bình thường, do trọng âm của từ ghép này rơi vào âm tiết cuối.
(iii). Phương thức láy
Láy là phương thức lặp lại toàn bộ hay một bộ phận từ gốc để tạo ra từ mới – gọi là
‘từ láy’. Ví dụ: đen đen, trăng trắng, sành sạch trong tiếng Việt. Phương thức láy là
b.
-
Trong túi THÌ có tiền.
Ngày xửa ngày xưa, ở 1 làng nọ, có hai chị em. Chị THÌ thông minh, chăm chỉ.
Em THÌ lười biếng , ham chơi.
Những cô THÌ phính phính mặt mo, chân THÌ đi chữ bát thì cho chẳng màng.
c. Cách nào nhanh và dễ hơn
(1) Ưu điểm chính của phương pháp phân tích câu theo cấu trúc đề - thuyết là phản ánh
được vấn đề thông tin của câu, trong đó, phần thuyết là phần chứa đựng nội dung thông tin
mới. Tuy nhiên, nhược điểm cơ bản của cấu trúc này là nếu học theo cấu trúc đề - thuyết,
người học khó xây dựng được những câu đúng ngữ pháp.
(2) Phân tích câu theo cấu trúc đề - thuyết không loại trừ, mâu thuẫn với cách phân tích câu
theo cấu trúc chủ - vị. Mỗi cách phân tích sẽ có những điểm mạnh, điểm yếu riêng. Nếu biết
phân tích câu theo cả hai cách, ta sẽ hiểu sâu hơn về câu tiếng Việt.
(3) Vì mỗi phương pháp phân tích câu là một kiểu riêng, tồn tại độc lập đối với nhau nên có
thể diễn ra tình trạng độ dễ hay khó không đồng đều đối với từng kiểu phân tích. Thông
thường, đối với các câu trong hội thoại hang ngày thì phân tích theo cấu trúc đề - thuyết dễ
hơn. Còn các câu trong các văn bản nói chung thì phân tích theo cấu trúc chủ - vị dễ hơn.
Câu 9
A
-
-
B
-
-
-
Phạm trù số của danh từ biểu thị số lượng của sự vật.
Vd: trong tiếng Anh: a student: 1 học sinh
Students : những học sinh.
Phạm trù số của tính từ biểu thị mối quan hệ giữa tính chất diễn tả ở tính từ với một
hay nhiều sự việc. Tính từ Tiếng Nga và tiếng Pháp có hai số là số ít và số nhiều.
Phạm trù số của tính từ không có trong tiếng Anh, tiếng Việt.
Phạm trù số của động từ biểu thị mối quan hệ giữa hoạt động, trạng thái, diễn tả ở
động từ ở một hay nhiều sự vật. Trong tiếng Việt không có phạm trù số của động từ.
2. Giống
- Giống trước hết là một phạm trù ngữ pháp của danh từ. Danh từ thuộc những giống
khác nhau có dạng thức khác nhau và ở mọi dạng thức chúng đều bảo tồn ý nghĩa giống của
mình.
Sự phân biệt giống của danh từ ở mỗi ngôn ngữ một khác. Ví dụ, tiếng Nga và tiếng
Pháp đều có phạm trù giống, nhưng nội dung của các phạm trù này khác nhau. Tiếng Nga
phân biệt ba giống là giống đực, giống cái và giống trung; còn tiếng Pháp chỉ có hai giống
là giống đực và giống cái.
Phạm trù giống của danh từ không tồn tại trong tiếng Anh và tiếng Việt.
-
Giống còn là một phạm trù của tính từ. Giống của tính từ phụ thuộc vào giống của
danh từ.
Cuối cùng còn có thể nói đến phạm trù giống của động từ. Phạm trù này có trong
thời tuyệt đối. Trên đại thể, các ngôn ngữ có phạm trù thời thường phân biệt ba thời là:
-
Thời quá khứ, cho biết hành động diễn ra trước thời điểm phát ngôn.
Thời hiện tại, cho biết hành động đang diễn ra ngay trong thời điểm phát ngôn.
Thời tương lai, cho biết hành động diễn ra sau thời điểm phát ngôn.
6. Thể
Thể là phạm trù ngữ pháp của động từ biểu thị cấu trúc thời gian bên trong của hoạt
động với tính chất là những quá trình có khởi đầu, tiếp diễn, kết thúc.
Các ngôn ngư có phạm trù thể thường phân biệt thể hoàn thành ( perfective) với thể
không hoàn thành ( imperfective), thể thướng xuyên ( habitual), với thể tiếp diễn
( progressive).
7. Thức
Thức là phạm trù của động từ, biểu thị quan hệ giữa hành động với thực tế khách
quan và với người nói.
Những thức thường gặp trong ngôn ngữ là thức tường thuật, thức mệnh lệnh, thức giả
định và thức điều kiện.
Thức tường thuật cho biết ý kiến của người nói khẳng định hay phủ định sự tồn tại
của hoạt động trong thực tế khách quan.
Thức giả định cho biết hoạt động tuy không diễn ra nhưng đáng lí đã có thể diễn ra
trong những điều kiện nhất định.
Động từ tiếng Việt không có phạm trù thức.
8. Dạng
Dạng là phạm trù ngữ pháp của động từ, biều thị quan hệ giữa hoạt động với các sự
vật nói ở chủ ngữ và bổ ngữ của động từ ấy.
Nếu dạng thức của động từ nói lên rằng hoạt động mà động từ diễn tả là do sự vật
Một từ trong các ngôn ngữ biến hình có thể tham gia vào nhóm đồng âm nào đó ở
dạng thức này mà lại không đồng âm ở dạng thức khác. Có nghĩa là chúng có thể đồng âm
với nhau ở một hoặc vài dạng thức chứ không nhất thiết đồng âm ở mọi dạng thức. Ví dụ,
trong tiếng Anh:
Động từ (to) meet nguyên dạng, đồng âm với danh từ meat, nhưng dạng thức quá khứ
của động từ này (met) thì lại không. Các từ saw ("tục ngữ, cách ngôn") - saw ("cái cưa") sore ("đau đớn") đồng âm với nhau và đồng âm với saw (dạng quá khứ của động từ (to)
see).
+ Vì tiếng Việt không có sự đối lập gốc từ với phụ tố, các từ được tạo nên chủ yếu bằng
sự kết hợp với tiếng, cho nên đồng âm giữa từ với từ là kết quả của đồng âm tiếng với tiếng.
Điều này đã được triệt để khai thác khi người Việt sử dụng đồng âm trong nghệ thuật chơi
chữ của mình, đến mức, chẳng hạn tên riêng Hitle đã được tách ra hai tiếng và được liên hội
với hai động từ hít và le. Người ta thách đối "Hít - Le", và được đối lại cùng bằng một tiên
riêng của người Việt bằng con đường liên hội tương tự "Phùng - Há".
Câu 12
Từ : là đơn vị nhỏ nhất của ngôn ngữ độc lập về ý nghĩa và hình thức.
Nghĩa của từ: là quan hệ của từ với cái gì đó nằm ngoài bản than nó.
Các thành phần nghĩa thường có mặt trong nghĩa của từ: nghĩa sở chỉ, nghĩa sở biểu,
nghĩa sở dụng, nghĩa kết cấu.
Nguyên nhân làm biến đổi ý nghĩa của từ:
* Ngôn ngữ học thuần túy:
- Hiện tượng dùng các từ chỉ người trong nhiều văn cảnh quá phổ biến khiến cho nó
có ý nghĩa phiếm định: he: anh ấy có them nghĩa anh ta.
- Phạm trù ngữ pháp: waiter: người phục vụ, từ này trùng với hình thái giống đực nên
còn có nghĩa la người phục vụ nam.
* tính chất xã hội: vì môi trường trong đó ngôn ngữ diễn biến là môi trường xã hội
- Hiện tượng kiêng kị: Đi trên đường trời tối nên tránh đùa giỡn, gọi tên nhau lớn
tiếng và nhắc đến ma qủy, nếu không ma quỷ sẽ ghi nhớ tên người được gọi, đó là điềm
xấu.
- Tính năng sản
- Tính bất biến và khả biến
Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu đặc biệt. Mọi hệ thống tín hiệu chung đều có giá
trị khu biệt và tính võ đoán. Tuy nhiên, hệ thống tín hiệu ngôn ngữ còn hàng loạt các đặc
điểm khác biệt với các hệ thống tín hiệu khác ở các mặt sau:
A. Tính phức tạp nhiều tầng bậc:
Hệ thống ngôn ngữ phức tạp ở chỗ nó bao gồm vô số lượng từ và câu không thể
thống kê được, bởi vì chúng thường xuyên biến đổi và được bổ sung thêm. Các hệ thống
ngôn ngữ có tính đồng loại và khác loại, đồng thời các đơn vị của ngôn ngữ thuộc nhiều cấp
độ khác nhau.
Các đơn vị thuộc cấp độ khác nhau có quan hệ cấp bậc. Do đó, hệ thống ngôn ngữ là
một hệ thống của nhiều hệ thống: Hệ thống âm vị, hệ thống hình vị. hệ thống từ vựng, hệ
thống câu…Các hệ thống này lại gồm các hệ thống con khác. Ví dụ: hệ thống từ vựng có
thể chia ra hệ thống từ đơn và hệ thống từ ghép…
B. Tính đa trị:
Trong ngôn ngữ có khi một cái biểu hiện tương ứng với nhiều cái được biểu hiện
khác nhau (hiện tượng đa nghĩa) có khi có một cái được biểu đạt tương ứng với nhiều cái
biểu đạt khác như các từ đồng nghĩa. Mặt khác, chức năng giao tiếp và tư duy của ngôn ngữ
đòi hỏi tín hiệu phải có nhiều chức năng tương ứng: chức năng thông báo, chức năng biểu
cảm, chức năng tổ chức các tín hiệu trong hệ thống ngôn ngữ. Cụ thể là tính đa giá trị nghĩa
từ vựng, nghĩa cấu trúc trong hoạt động giao tiếp.
Ví dụ:
- He is going tomorrow.
- Is he going? - He is going!
C. Tính độc lập:
Ngôn ngữ mang tính xã hội, có quy luật phát triển nội tại, không lệ thuộc ý kiến cá
ngữ. Trong tất cả các thiết chế xã hội, ngôn ngữ là thiết chế ít chịu tác động của sáng kiến.
Nó đi sâu vào tập quán, sinh hoạt của xã hội. Bởi vậy, ngôn ngữ đóng vai trò bảo thủ trong
sự canh tân ngôn ngữ.
E.2. Tính khả biến: Tính kế thừa, tính võ đoán, tính xã hội, tính phức tạp đã làm cho
tín hiệu ngôn ngữ bất biến. Tuy nhiên, tín hiệu ngôn ngữ có thể biến đổi vì tự thân nó kế tục
trong thời gian. Sự biến hoá của tín hiệu ngôn ngữ trong thời gian đã dẫn đến sự di chuyển
của mối quan hệ biểu đạt: hình thức ân thanh lẫn khái niệm đều thay đổi hoặc đôi khi mối
quan hệ giữa tín hiệu và ý niệm bị lỏng lẻo đi.
Ví dụ: Trong tiếng La Tinh từ necăre chuyển sang tiếng Pháp thành noyer (chết
đuối). Trong tiếng Việt từ: Bẩm -> Kính (kính thưa) có sự thay đổi lẫn âm và nghĩa. Do đó,
tính khả biến của tín hiệu ngôn ngữ là làm di chuyển mối quan hệ giữa cái biểu hiện và cái
được biểu hiện. Cũng vậy, sự biến đổi nghĩa của từ “nắm” khởi đầu là từ đơn, nghĩa biểu vật
là dùng bàn tay siết chặt để giữ vật gì hoặc gấp các ngón tay lại vào lòng bàn tay. Theo
dòng thời gian, tín hiệu này được phối hợp với một số tín hiệu khác, tạo thành từ ghép, tự
thân nó chuyển sang nghĩa khác mang tính trừu tượng như: nắm tình hình, nắm kiến thức,
nắm ngoại ngữ, nắm chiến thuật…Sự kết hợp các từ này đã làm biến hoá cái biểu hiện và
cái được biểu hiện nguyên thuỷ của nó. Như vậy, theo thời gian và kết hợp với sự phát triển
xã hội, ngôn ngữ phát triển. Sự phát triển này kéo theo sự thay đổi mối quan hệ giữa cái
biểu hiện và cái được biểu hiện. Đây là một trong những hệ quả của tính võ đoán của tín
hiệu ngôn ngữ. Nó có thể tự do xác lập các mối quan hệ giữa chất liệu âm thanh (từ) và các
ý niệm (nghĩa của từ) và theo thời gian ngôn ngữ cứ biến hoá. Sự biến hoá này là tất yếu
trong sự phát triển của loài người.
Câu 19: Nêu và chứng minh các kiểu quan hê chủ yếu trong ngôn ngữ: Sự tồn tại của hệ
thống kết cấu ngôn ngữ được xác định không chỉ dựa vào các yếu tố( các loại đơn vị) mà
còn dựa vào mối quan hệ chung nhất giữa chúng. Đó là mối quan hệ tồn tại trong hệ thống,
bao gồm quan hệ cấp bậc và quan hệ tuyến tính ( quan hệ ngang) , quan hệ liên tưởng ( quan
hệ dọc).
a
Quan hệ tuyến tính là quan hệ giữa các yếu tố hiện hữu trong chuỗi lời nói còn quan
hệ hình là quan hệ với các yếu tố ko hiên hữu mà chỉ tồn tại nhờ sụ liên tưởng của con
người. Tuy nhiên giữa quan hệ tuyến tính và quan hệ liên tưởng có mối liên hệ với nhau,
mỗi vị trí đều nằm trong mối quan hệ bị quy định bởi chức năng kết hợp và ngữ nghĩa của
nó với các yếu tố khác.
Ví dụ: “ Dân tộc Việt Nam” tạo thành ngữ danh từ “rất anh hùng” tạo thành ngữ tính
từ. Hai thành phần này tạo nên quan hệ chủ-vị. Tóm lại, toàn bộ hoạt động của hệ thống
ngôn ngữ được thể hiện trên hai mối quan hệ : quan hệ cấp bậc và quan hệ ngang, dọc. Câu
20: Từ những tiêu chí phân biệt giữa thành ngữ và tục ngữ của các nhà nghiên cứu, có thể
khái quát như sau: Tiêu chí phân biệt Thể loại Tục ngữ Thành ngữ Hình thức Câu Cụm từ
cố định Nội dung Phán đoán Khái niệm Chức năng Thông báo Định danh
+ Nghĩa của 1 đơn vị ngôn ngữ chứa đựng 1 hoặc 1 vài nghĩa tố.
+ Sự sắp xếp của các nghĩa tố theo cách thức nào đó tạo nên thông báo của đơn vị ngôn ngữ
ấ.
+ Cùng 1 nghĩa tố có thể tham gia vào nghĩa của những đơn vị khác nhau.