Chủ tịch Hồ Chí Minh với sự nghiệp độc lập dân tộc dân tộc và thống nhất Tổ quốc
Ngày 12/6/2012. Cập nhật lúc 14
h
56'
PGS, TS. Vũ Đình Hòe
Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh
Cống hiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh về lý luận và thực tiễn cho sự nghiệp độc lập dân tộc và chủ
nghĩa xã hội của Việt Nam là rất to lớn. Bài viết này xin chỉ tập trung vào chủ đề : Chủ tịch Hồ Chí
Minh với sự nghiệp độc lập dân tộc và thống nhất Tổ quốc.
1. Chủ tịch Hồ Chí Minh với sự nghiệp độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc.
Trong lịch sử nhân loại, việc đấu tranh chống giặc ngoại xâm để giành độc lập không phải là đặc
điểm riêng có của một dân tộc nào, song thật hiếm có một dân tộc như dân tộc Việt Nam, phải
thường xuyên đấu tranh chống lại nhiều kẻ thù mạnh hơn gấp bội để giành lại quyền độc lập dân
tộc, thống nhất đất nước. Đó là quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm. Quyền thiêng liêng này đã
được Lý Thường Kiệt khẳng định từ thế kỷ XI và Nguyễn Trãi viết trong Bình Ngô đại cáo vào thế
kỷ XV.
Vào nửa sau của thế kỷ XIX và những năm đầu của thế kỷ XX, hầu hết các quốc gia ở Á Phi và
Mỹ la tinh đã bị chủ nghĩa tư bản Phương Tây xâm chiếm, nước Việt Nam bị đế quốc Pháp xâm
chiếm và bị chia cắt thành ba miền với ba chế độ cai trị khác nhau. Độc lập dân tộc và thống nhất
Tổ quốc đã trở thành khát vọng, thành ước mơ cháy bỏng hun đúc thành tinh thần yêu nước của
mỗi người dân Việt Nam. Không cam chịu nô lệ, từ Nam ra Bắc lớp lớp văn thân sĩ phu và những
người yêu nước đã đứng lên chiến đấu, hy sinh vì độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, song tất
cả các phong trào đấu tranh, khởi nghĩa đó đều bị thất bại vì chưa có đường lối giải phóng dân
tộc, thống nhất Tổ quốc đúng đắn.
Cùng chung ước mơ, khát vọng về độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, Hồ Chí Minh đã sớm
nhận ra những hạn chế trong đường lối đấu tranh giành độc lập dân tộc của các thế hệ đi trước và
“không hoàn toàn tán thành cách làm của một người nào”[1]. Hồ Chí Minh quyết định sang
Phương Tây, sang các nước tư bản phát triển như Pháp, Anh và các nước khác để tìm con
đường cứu nước giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Trải qua gần 10 năm đầy gian truân và
thử thách, gắn bó chặt chẽ với phong trào công nhân và phong trào giải phóng dân tộc, Hồ Chí
Minh đã đến với chủ nghĩa Mác - Lênin và Người đã tìm thấy con đường cứu nước và giải phóng
đã nắm trọn quyền lãnh đạo cách mạng. Nét đặc sắc trong tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng là
Người luôn giành cho yếu tố dân tộc một vị trí đặc biệt. Theo đó trong tiến trình cách mạng, nhất là
ở những thời điểm có ý nghĩa quyết định như khi chuẩn bị Tổng khởi nghĩa cách mạng tháng 8
năm 1945, Hồ Chí Minh thường nhấn mạnh quyền lợi dân tộc, đặt lợi ích dân tộc lên trên hết,
trước hết. Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ 8 (5-1941) do Hồ Chí Minh chủ
trì đã khẳng định: “Trong lúc này, quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn
vong của quốc gia, của dân tộc. Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải
phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân
tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận giai cấp đến vạn năm cũng không đòi
lại được”
4
.
Tại lễ Tuyên ngôn độc lập 2-9-1945, Hồ Chí Minh đã trịnh trọng tuyên bố với thế giới: “Nước Việt
Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân
tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự
do, độc lập ấy”
5
.
Trong quá trình lãnh đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống Mỹ cứu nước, Hồ Chí
Minh và Đảng ta đã đoàn kết được tất cả các lực lượng trong nước, tranh thủ được sự đồng tình
ủng hộ, giúp đỡ của nhân dân thế giới, kể cả nhân dân Pháp, nhân dân Mỹ, đồng thời Người cũng
vạch rõ âm mưu thủ đoạn thâm độc của kẻ thù và quyết tâm của nhân dân Việt Nam trong việc
giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước tiến len chủ nghĩa xã hội. Trước hành động leo thang
xâm lược hết sức tàn bạo của đế quốc Mỹ, Hồ Chí Minh khẳng định: “Chúng có thể đưa 50 vạn
quân, 1 triệu quân hoặc nhiều hơn nữa để đẩy mạnh chiến tranh xâm lược ở miền Nam Việt Nam.
Chúng có thể dùng hàng nghìn máy bay, tăng cường đánh phá miền Bắc. Nhưng chúng quyết
không thể lay chuyển được chí khí sắt đá, quyết tâm chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam
anh hùng. Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải
Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ !
Không có gì quí hơn độc lập tự do. Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta
nước đã xin thề: Giương cao mãi ngọn cờ độc lập dân tộc, quyết chiến, quyết thắng giặc Mỹ xâm
lược, giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, thống nhất đất nước để thỏa lòng mong ước của
Người. Đem hết sức mình tiếp tục phấn đấu thực hiện lý tưởng xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ
nghĩa cao đẹp mà Người đã vạch ra cho giai cấp công nhân và nhân dân ta, đem lại phồn vinh cho
đất nước, hạnh phúc cho đồng bào.
Sau khi chiến thắng đế quốc Mỹ cùng bè lũ tay sai của chúng, đất nước độc lập, thống nhất tại Đại
hội lần thứ IV của Đảng (12-1976) đã khẳng định: Thắng lợi to lớn của sự nghiệp chống Mỹ, cứu
nước cũng như những trang sử chói lọi của cách mạng Việt Nam nửa thế kỷ nay mãi mãi gắn liền
với tên tuổi của Chủ tịch Hồ Chí Minh… Người đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải
phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc, cho sự nghiệp của Đảng và của dân tộc, làm rạng rỡ non sông
đất nước ta, để lại cho chúng ta và các thế hệ mai sau những di sản bất diệt.
Đại hội IV, Đại hội V và các Nghị quyết Trung ương sau Đại hội IV, Đại hội V là quá trình Đảng ta
tìm tòi đường lối đổi mới để đưa đất nước tiến lên. Đến Đại hội VI (12-1986), Đại hội mở đầu sự
nghiệp đổi mới đất nước do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo là sự nhận thức đúng đắn và vận
dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội vào điều kiện
cụ thể của Việt Nam. Kết quả là những sai lầm trong chủ quan, nóng vội, duy ý chí, cơ chế tập
trung quan liêu bao cấp, vi phạm qui luật về mối quan hệ giữa quan hệ sản xuất và trình độ của
lực lượng sản xuất dần dần được khắc phục đất. Từ chỗ chúng ta phải nhập khẩu lương thực
sang xuất khẩu lượng thực ngày càng nhiều và đến nay luôn ở trong tốp 3 nước dẫn đầu về xuất
khẩu lương thực trên thế giới.
Đại hội VII (6-1991), Đảng đã khẳng định lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm
nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động. Tại Đại hội này Đảng ta đã thông qua Cương
lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Cương lĩnh đã nêu ra 6 đặc
trưng của chủ nghĩa xã hội là phản ánh được tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc và chủ
nghĩa xã hội.
Tổng kết 10 năm công cuộc đổi mới đất nước, tại Đại hội VIII (6-1996) của Đảng đã nêu bài học
đầu tiên là: Giữ vững mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong quá trình đổi mới, nắm
vững hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, kiên trì chủ nghĩa Mác - Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX (4-2001) đã tổng kết 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội VIII và
4. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2000,t.7, tr.113.
5. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2002, t.4, tr.4.
6. Sđd, t.12, tr.108.
7. Sđd, t.12, tr.516.
8. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị quốc
gia, H.2001, tr.19.
9. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị quốc
gia, H.2006, tr.19.