BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
TRẦN VĂN THỨC (Chủ biên)
TRẦN VŨ TÀI - MAI THANH NGA - ĐẶNG NHƯ THƯỜNG
TIẾN TRÌNH
LỊCH SỬ VIỆT NAM
(Giáo trình dùng cho đào tạo đại học từ xa)
VINH - 2011
Cuốn giáo trình TIẾN TRÌNH LỊCH SỬ VIỆT NAM dùng cho sinh viên đại học
ngành Luật, hệ đào tạo từ xa, được biên soạn theo đề cương đã phê duyệt, gồm 6 chương,
do hai tác giả phân công thực hiện như sau:
Chương sách
Tác giả
Chương 1: Việt Nam từ thời tiền sử đến cuối thời Bắc thuộc
Đặng Như Thường
Chương 2: Việt Nam từ đầu thế kỷ X đến giữa thế kỷ XIX
Đặng Như Thường
Chương 3: Việt Nam từ 1858 đến 1945
Mai Thanh Nga
Chương 4: Lịch sử Việt Nam từ 1945 đến nay
Trần Vũ Tài
1
1
1
7
11
12
12
16
17
21
21
22
23
23
23
28
32
35
37
37
39
44
2.3.1. Tình hình chính trị
2.3.2. Tình hình kinh tế
2.3.3. Tình hình văn hóa
2.4. Việt Nam từ giữa thế kỷ XVIII đến giữa thế kỷ XIX
2.4.1. Tình hình Đàng Ngoài
4.3.2.Công cuộc xây dựng miền Bắc (1954-1960)
4.3.3. Đấu tranh chống Mỹ-Ngụy ở miền Nam
4.3.4. Miền Nam chiến đấu chống chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" và
“Chiến tranh cục bộ” của Mỹ (1960 – 1968)
44
45
48
50
50
51
53
57
57
57
59
59
63
66
66
67
68
69
69
69
70
74
76
76
78
4.4.3. Đất nước thời kỳ đổi mới (1986 – nay)
TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH
110
102
114
TÍN CHỈ 1: LỊCH SỬ VIỆT NAM CỔ - TRUNG ĐẠI
Chương 1: VIỆT NAM TỪ THỜI TIỀN SỬ ĐẾN CUỐI THỜI BẮC THUỘC
1.1. Việt Nam từ thời tiền sử đến thời kỳ bắt đầu dựng nước
1.1.1. Thời kỳ nguyên thủy
Những dấu vết đầu tiên của con người trên đất Việt Nam
Trong lịch sử loài người, giai đoạn đầu tiên là thời kỳ nguyên thủy. Trong khảo cổ
học, giai đoạn này tương ứng với thời kỳ đồ đá cũ. Trong nhân loại học, nó tương ứng
với thời kỳ người vượn.
Người vượn tồn tại cách ngày nay khoảng 2 triệu năm đến vài chục vạn năm. Trên
lãnh thổ Việt Nam, các nhà khảo cổ đã tìm thấy nhiều dấu vết của người vượn, gần giống
với người vượn Bắc Kinh, cách ngày nay trên dưới 50 - 60 vạn năm.
Trong các hang Thẩm Khuyên, Thẩm Hai (Lạng Sơn); Thẩm Ồm (Nghệ An);
Hang Hùm (Yên Bái)... các nhà khảo cổ học đã tìm thấy một số răng người vượn nằm
trong lớp trầm tích màu đỏ cùng di cốt các động vật thời Cánh tân, cách ngày nay khoảng
40 - 50 vạn năm, cùng với những công cụ lao động của người vượn.
Ở một số địa phương trên cả nước như Hang Gòn (Xuân Lộc - Đồng Nai), Lộc
Ninh (Bình Phước), núi Đọ (Thanh Hóa)... đã tìm thấy công cụ lao động của người
nguyên thủy. Những công cụ đó làm bằng đá, có ghè đẽo thô sơ rất giống với các công cụ
đá thời đại sơ kỳ đá cũ.
nạo hay cắt. Hai mặt còn lại của hòn cuội vẫn vẫn giữ được vẻ tự nhiên. Đặc trưng của
công cụ Sơn Vi là những hòn cuội được ghè đẽo ở rìa cẩn thận, có nhiều loại hình ổn
định, thể hiện bước tiến trong kỹ thuật chế tác đá, song chưa có kỹ thuật mài. Sự xuất
hiện của người hiện đại Sơn Vi đánh dấu bước chuyển biến trong tổ chức xã hội, các thị
tộc, bộ lạc ra đời.
Mỗi thị tộc gồm vài ba chục gia đình với vài ba thế hệ cùng chung huyết thống,
sống quây quần với nhau trên cùng một địa vực. Một số thị tộc sống gần nhau, có họ
hàng với nhau vì cùng chung một nguồn gốc tổ tiên xa xôi hợp lại thành bộ lạc. Các thị
tộc trong một bộ lạc có quan hệ gắn bó, giúp đỡ nhau trong cuộc sống và có quan hệ hôn
nhân giữa con trai của thị tộc này với con gái của thị tộc kia trong cùng một bộ lạc. Mọi
thành viên trong cùng thị tộc đều có phong tục, tập quán như nhau và đều được tự do,
bình đẳng.
* Thời kỳ Hòa Bình - Bắc Sơn
Tiếp theo văn hóa Sơn Vi là văn hóa Hòa Bình. Hòa Bình là địa điểm đầu tiên
phát hiện được di chỉ văn hóa thuộc thời kỳ văn hóa đá mới trước gốm, có niên đại cách
ngày nay khoảng 12.000 đến 10.000 năm. Cư dân Hòa Bình đã mở rộng địa bàn cư trú
khắp vùng núi Tây Bắc (Hòa Bình, Sơn La, Lai Châu...) vào đến các tỉnh miền Trung
(Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên...).
Cư dân Hòa Bình chủ yếu sống trong các hang động, mái đá thuộc các thung lũng
đá vôi, gần suối sông và đã có cuộc sống định cư tương đối lâu dài. Công cụ của họ vẫn
làm bằng đá cuội nhưng ghè đẽo rộng hơn, lên cả một bên mặt, còn mặt bên kia để
nguyên. Những công cụ này có lưỡi xung quanh có thể chặt, đẽo, nạo. Đặc trưng của
công cụ Hòa Bình là rìu ngắn. Các nhà khảo cổ còn tìm thấy chày nghiền hạt bằng đá
cuội bị mài phẳng một đầu do nghiền hạt nhiều, những chiếc rìu dài bằng đá cuội có ghè
đẽo, nhiều mảnh tước.
Hoạt động kinh tế chủ yếu của cư dân Hòa Bình là hái lượm và săn bắt. Trong
nhiều di chỉ thuộc nền văn hóa Hòa Bình, các nhà khảo cổ đã tìm thấy nhiều xương động
vật là các loài thú rừng, vỏ các động vật thân mềm sống dưới sông suối. Ở hang Chùa
hái lượm phát triển, nông nghiệp manh nha. Các công xã thị tộc này có thể là các công xã
thị tộc mẫu hệ đang ở vào giai đoạn văn hóa đá mới trước gốm, cách ngày nay khoảng 1
vạn năm.
Nối tiếp văn hóa Hòa Bình là văn hóa Bắc Sơn. Các bộ lạc Bắc Sơn cư trú trong
các hang động, mái đá vùng núi đá vôi, gần sông suối thuộc các tỉnh Lạng Sơn, Thái
Nguyên, Hòa Bình, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An... Tuy ra đời sau văn hóa Hòa Bình
nhưng văn hóa Bắc Sơn có quan hệ nguồn gốc và những đặc trưng chung của văn hóa
Hòa Bình, có niên đại cách ngày nay khoảng 7.000 năm.
Cư dân Bắc Sơn cũng định cư trong các hang động đá vôi, lấy cuội ở sông suối để
chế tạo công cụ như cư dân Hòa Bình, nhưng tiến bộ hơn ở chỗ đã biết mài đá. Công cụ
đặc trưng của văn hóa Bắc Sơn là rìu mài lưỡi. Trong các di chỉ thuộc văn hóa Bắc Sơn,
bên cạnh các rìu mài còn có các bàn mài bằng sa thạch để mài, dũa. Ngoài rìu mài còn có
các công cụ bằng đá khác như bôn, đục, dao... Với những chiếc rìu đá mài nhẵn, cư dân
Bắc Sơn dễ dàng chế tác các công cụ bằng tre, nứa, gỗ, do vậy lao động thuận lợi hơn.
Trong một số di chỉ thuộc văn hóa Bắc Sơn, các nhà khảo cổ đã phát hiện ra đồ
gốm. Đây là một thành tựu mới trong kỹ thuật chế tác công cụ của cư dân Bắc Sơn.
Người Bắc Sơn lấy đất sét nhào với cát để khi nung, đồ gốm không bị rạn nứt. Đặc điểm
đồ gốm Bắc Sơn có miệng loe, đáy tròn, hình dáng còn thô và độ nung chưa cao.
Nhờ cải tiến công cụ lao động, trình độ sản xuất nông nghiệp của cư dân Bắc Sơn
cũng được nâng lên một bước, song nguồn lương thực do nông nghiệp mang lại vẫn chưa
đóng vai trò chủ đạo. Hoạt động kinh tế cơ bản vẫn là săn bắt, hái lượm.
* Thời kỳ cách mạng đá mới và các bộ lạc trồng lúa
Tiếp theo Hòa Bình - Bắc Sơn là văn hóa Đa Bút. Di chỉ văn hóa Đa Bút được
phát hiện lần đầu tiên vào năm 1926 - 1927, tại Vĩnh Lộc (Thanh Hóa), có niên đại cách
ngày nay hơn 6.000 năm. Nhiều nhà khoa học xếp văn hóa Đa Bút vào thời kỳ văn hóa
Bắc Sơn1. Đồ gốm Đa Bút tiến bộ hơn đồ gốm Bắc Sơn. Đặc trưng cơ bản là nồi có đáy
tròn, mặt ngoài có những vết lõm, độ nung chưa cao.
Văn hóa Quỳnh Văn (Quỳnh Lưu, Nghệ An) cũng thuộc văn hóa đá mới có gốm
ây chúng tôi theo quan
N i, 2000, tr 14 - 15.
i m c a các tác gi
Ti n trình l ch s
khác
i
Vi t Nam, NXB Giáo
Cùng thời kỳ với văn hóa Đa Bút - Quỳnh Văn, ở nhiều nơi khác trên lãnh thổ
Việt Nam, người nguyên thủy đã tạo ra bước tiến có tính “cách mạng” trong việc cải tiến
công cụ lao động. Họ không chỉ biết ghè đẽo, mài đá một mặt mà phổ biến là mài nhẵn cả
hai mặt và khoan, cưa đá. Nhờ vậy, công cụ có hình dáng gọn, đẹp hơn, loại hình phong
phú và thích hợp với từng công việc, năng suất lao động tăng.
Khắp các tỉnh miền núi như hang Ba Xã, hang Mai Nha (Lạng Sơn) cho đến các
tỉnh trung du, đồng bằng và ven biển Bắc bộ, Trung bộ, Nam bộ như Cái Bèo (Hải
Phòng), hang Bái Tử Long (Quảng Ninh), Gò Trũng, cồn Cổ Ngựa (Thanh Hóa), Trại Ổi
(Quỳnh Lưu, Nghệ An), Rú Ta (Diễn Châu, Nghệ An), bãi Phôi Phối (Nghi Xuân, Hà
Tĩnh), cồn Lôi Một (Thạch Hà, Hà Tĩnh), Đồng Lê (Quảng Bình), đảo Bích Đầm (Khánh
Hòa), Buôn Triết (Đắc Lắc), Cầu Sắt (Đồng Nai)...đều tìm thấy chiếc rìu tứ diện hay rìu
có vai được mài nhẵn cả hai mặt. Có những di chỉ có cả rìu răng cưa, rìu mài nhẵn toàn
thân, rìu có chuôi tra cán. Ngoài ra còn có bôn, đục, dao, cuốc đá có chuôi tra cán và đều
được mài nhẵn.
Cư dân lúc bấy giờ còn biết dùng tre, nứa, gỗ làm cung tên, làm cán các loại cuốc,
rìu, dao; dùng xương, sừng làm đục, dao nhỏ, kim khâu; dùng vỏ ốc làm công cụ nạo,
Nhìn chung, vào cuối thời đại đá mới, trên khắp lãnh thổ Việt Nam đã xuất hiện
nhiều nhóm bộ lạc có kỹ thuật làm đồ đá và đồ gốm tương tự nhau. Nông nghiệp trồng
lúa dùng cuốc đá đã bắt đầu phổ biến, đời sống con người bước đầu ổn định. Họ đã bắt
đầu định cư trong các xóm làng. Các nhà khoa học cho rằng, với những biến đổi to lớn về
kỹ thuật chế tác công cụ và đời sống kinh tế của con người, cư dân Việt cổ đã bước vào
thời kỳ “cách mạng đá mới” cách ngày nay khoảng 4.000 đến 6.000 năm.
* Thời kỳ Phùng Nguyên - Hoa Lộc
Vào cuối thời đại đá mới, cư dân các bộ lạc sống ở lưu vực sông Hồng đã biết đến
một loại vật liệu mới là đồng và kỹ thuật luyện kim đồng thau (dù còn ở buổi đầu). Cư
dân các bộ lạc này thuộc văn hóa Phùng Nguyên.
Di chỉ văn hóa Phùng Nguyên tìm thấy ở nhiều nơi thuộc lưu vực sông Hồng như
Phú Thọ, Bắc Giang, Bắc Ninh, Hà Tây, Hà Nội, Hải Phòng. Các bộ lạc Phùng Nguyên
đã đạt đến đỉnh cao của kỹ thuật làm đồ đá (sử dụng thành thạo kỹ thuật mài, cưa,
khoan), biết làm đồ gốm bằng bàn xoay.
Ở một số di chỉ thuộc văn hóa Phùng Nguyên, các nhà khảo cổ đã tìm thấy các cục
đồng và xỉ đồng. Điều đó chứng tỏ, cư dân Phùng Nguyên đã biết đến hợp kim đồng thau
và dùng hợp kim này để chế tác công cụ, dù công cụ đá vẫn chủ yếu.
Do sự xuất hiện của kỹ thuật luyện kim, vai trò người đàn ông ngày càng được
khẳng định. Công xã thị tộc mẫu quyền dần nhường chỗ cho công xã thị tộc phụ quyền.
Xã hội nguyên thủy thời Phùng Nguyên có những chuyển biến mạnh mẽ, tạo tiền đề để
bước sang xã hội có giai cấp và nhà nước.
Bên cạnh các bộ lạc Phùng Nguyên, ở lưu vực sông Hồng còn có những bộ lạc
khác cũng tiến đến giai đoạn sơ kỳ đồng thau như các bộ lạc sống ở vùng châu thổ sông
Mã thuộc nền văn hóa Hoa Lộc3. Ở các di chỉ thuộc văn hóa Hoa Lộc, các nhà khảo cổ đã
tìm thấy dùi đồng, dây đồng. Điều đó chứng tỏ, các bộ lạc Hoa Lộc sống ở vùng ven biển
là những cư dân đầu tiên biết đến kim loại và tiến đến giai đoạn sơ kỳ đồng thau.
Các di chỉ cồn Chân Tiên ở lưu vực sông Mã, đền Đồi ở Quỳnh Lưu, Long Thạnh
ở Bình Định có phong cách trang trí trên gốm rất gần với văn hóa Phùng Nguyên. Cả 3 di
chỉ này đều được các nhà khảo cổ xếp tương đương với văn hóa Phùng Nguyên ở lưu vực
sông Hồng.
i
v y.
Hoa Lộc - Hậu Lộc - Thanh Hóa là địa điểm đầu tiên tìm ra di tích của nền văn hóa này.
v
Tại đảo Hòn Tre (Khánh Hòa) và các đảo ở khu vực bờ vịnh Cam Ranh, từ năm
1925 đến nay đã phát hiện nhiều di tích văn hóa Xóm Cồn được xếp vào giai đoạn hậu kỳ
đá mới - sơ kỳ đồng thau. Công cụ đá điển hình ở Xóm Cồn là loại rìu bôn tứ giác thon
dài. Đồ gốm phong phú, với lối vẽ hoa văn màu đỏ nâu và vàng da cam. Cư dân ở đây
còn biết sử dụng vỏ nhuyễn thể làm công cụ và đồ trang sức. Bên cạnh nghề đánh bắt cá,
khai thác thủy sản, cư dân Xóm Cồn đã biết trồng trọt và chăn nuôi.
Thuộc di chỉ văn hóa Đồng Nai còn có di chỉ Cầu Sắt thuộc hậu kỳ đá mới. Các di
chỉ Bến Đò, Phước Tân, Hội Sơn, Ngãi Thắng... là bước phát triển tiếp sau giai đoạn Cầu
Sắt. Các bộ lạc nông nghiệp ở lưu vực sông Đồng Nai đã biết sử dụng những chiếc cuốc
đá mài nhẵn, thân cong về phía trước, có kích thước lớn để làm đất. Gốm Đồng Nai đa
dạng về kiểu dáng và hoa văn trang trí, có những nét gần gũi với gốm Phùng Nguyên.
Như vậy, cách ngày nay khoảng 4.000 năm, không chỉ các bộ lạc Phùng Nguyên
mà còn nhiều bộ lạc khác trên khắp lãnh thổ Việt Nam đã biết đến hợp kim đồng thau.
Văn hóa Phùng Nguyên và các nền văn hóa sơ kỳ đồng thau khác đều được phát triển từ
các nền văn hóa hậu kỳ đá mới. Nếu xem Phùng Nguyên là nền văn hóa sơ kỳ đồng thau
tiêu biểu nhất, thì ở hầu hết các nền văn hóa cùng thời, đồ gốm đều phảng phất phong
cách Phùng Nguyên. Sự xuất hiện của hợp kim đồng thau được xem là sự kiện trọng đại
nhất trong đời sống kinh tế xã hội nguyên thủy, là cơ sở cho bước phát triển nhảy vọt của
các bộ lạc nguyên thủy trên đất nước ta trong giai đoạn tiếp theo.
1.1.2. Thời kỳ Văn Lang - Âu Lạc.
Những chuyển biến về kinh tế - xã hội
cũng phát triển thêm một bước. Nghệ thuật nặn gốm bằng bàn xoay được cải tiến, chất
lượng gốm ngày càng tăng. Hình thức trang trí ngày càng phong phú, đa dạng như: nồi
(đáy tròn, đáy bằng, đáy lồi), hoa văn (hình chữ S, dấu thừng, hình ô van)...
Chính sự phát triển của kinh tế trên nhiều lĩnh vực đã tạo điều kiện mở rộng trao
đổi hàng hóa với nước ngoài, chủ yếu với các nước trong khu vực. Hiện tượng một số
trống đồng loại 1 Hegơ của nước Văn Lang ở Thái Lan, Malaixia đã chứng tỏ điều đó.
* Về xã hội: sự phát triển của kinh tế đã tạo điều kiện tăng thêm nhiều của cải, sản
phẩm dư thừa ngày càng nhiều, tạo nên cơ sở cho sự phân hóa xã hội. Chế độ tư hữu tài
sản ra đời và ngày càng phát triển, xã hội phân hóa giàu nghèo. Ngay từ thời Phùng
Nguyên, hiện tượng phân hóa xã hội đã xuất hiện. Trong số 12 ngôi mộ khai quật ở Lũng
Hòa (Vĩnh Phú) có 2 mộ chỉ có 2 hiện vật chôn theo người chết, 2 mộ có tới 20 hiện vật
và 14 hiện vật, một số mộ còn lại có phổ biến từ 3 - 13 hiện vật. Đồ tùy táng giống nhau
gồm: công cụ, đồ dùng bằng đá, gốm6. Điều đó chứng tỏ ở thời kỳ này xã hội đã có sự
phân hóa. Sự phân hóa đó diễn ra từ từ, ngày càng rõ nét và trải qua quá trình lâu dài.
Tuy nhiên, sự phân hóa chưa sâu sắc và gắn liền với phân hóa tài sản, trong xã hội lúc
bấy giờ đã xuất hiện các tầng lớp xã hội khác nhau:
- Quý tộc: gồm các Tộc trưởng, Tù trưởng bộ lạc, Thủ lĩnh liên minh bộ lạc và
những người giàu có khác.
- Dân tự do: là tầng lớp đông đảo nhất trong xã hội, giữ vai trò là lực lượng sản
xuất chủ yếu.
- Nô tì: là tầng lớp thấp kém nhất trong xã hội.
Sự hình thành nhà nước đầu tiên - Nhà nước Văn Lang thời Hùng Vương
* Địa bàn, cư dân và niên đại
Căn cứ vào các thư tịch cổ của Việt Nam (Việt sử lược, Lĩnh Nam chích quái, Dư
địa chí...); căn cứ vào quá trình chuyển hóa lịch sử từ nước Văn Lang thời Hùng Vương
sang nước Âu Lạc thời An Dương Vương, rồi đến hai quận Giao Chỉ, Cửu Chân thời
thuộc Triệu, Hán; căn cứ vào các di tích khảo cổ học thuộc văn hóa Đông Sơn đã phát
hiện, có thể khẳng định: Địa bàn cư trú của cư dân Việt cổ thời Văn Lang tương ứng với
vùng Bắc bộ, Bắc Trung bộ của nước ta ngày nay và một phần phía Nam Quảng Đông,
Quảng Tây (Trung Quốc).
* Tổ chức nhà nước
Dựa vào tài liệu khảo cổ học, thư tịch cổ Việt Nam và Trung Quốc có thể phác
họa cấu trúc của nhà nước thời Hùng Vương theo hệ thống 3 cấp: Đứng đầu nước Văn
Lang là Hùng Vương, có tính chất cha truyền con nối. Hùng Vương vừa là người chỉ huy
quân sự, vừa chủ trì các lễ nghi tôn giáo.
Dưới Hùng Vương và giúp việc cho Hùng Vương có các Lạc hầu, Lạc tướng. Lạc
hầu là những tướng lĩnh to nhỏ, trong tay có quân đội có thể trấn áp các địa phương
không chịu thuần phục. Lạc tướng trực tiếp cai quản công việc của các bộ. Nước Văn
Lang được chia thành các bộ (bộ lạc). Đứng đầu bộ là các Lạc tướng (còn gọi là Phụ đạo,
Bộ tướng), cũng được đời đời cha truyền con nối. Lạc tướng thực chất là tù trưởng hay
thủ lĩnh đứng đầu một vùng.
Dưới bộ là các công xã nông thôn (còn gọi là kẻ, chiềng, chạ). Đứng đầu công xã
là Bồ chính (già làng). Bồ chính lúc đầu là người đại diện cho công xã nhưng sau đó lại
nghiêng dần về phía quý tộc. Bên cạnh nhà nước có lẽ còn có một nhóm người có chức
năng như một Hội đồng công xã để tham gia điều hành công việc. Mỗi công xã có nơi
trung tâm để hội họp, sinh hoạt cộng đồng, thường là một ngôi nhà công cộng.
Căn cứ vào lời tâu của Mã Viện lên vua nhà Hán “Luật Việt khác với luật Hán hơn
mười điều”8, có thể nghĩ rằng lúc bấy giờ nhà nước Văn Lang đã có pháp luật để điều
hành xã hội. Pháp luật thời Văn Lang có lẽ là một thứ luật tục (tập quán pháp) chứ chưa
phải luật pháp thành văn.
8
“Hậu Hán thư ghi: Mã Viện đi qua xứ nào (đất đai Âu Lạc) liền đặt thành quận, huyện; xây thành, quách. Có điều
trần về luật của người Việt, so sánh với luật Hán hơn 10 điều, rồi ban bố rõ phép cũ cho người Việt biết để bó buộc
dân Việt” trích từ Vũ Văn Mậu, Cổ luật Việt Nam lược khảo, Q1, NXB Sài Gòn, 1969. tr 61 - 62.
Như vậy, nhà nước thời Hùng Vương là một hình thái nhà nước phôi thai còn in
đậm dấu ấn chế độ bộ lạc - công xã trong quá trình chuyển từ xã hội nguyên thủy sang xã
đai của Lạc Việt và Tây Âu. Nước Âu Lạc chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn ngủi,
khoảng từ năm 208 - 179 TCN.
Tuy vậy, nước Âu Lạc ra đời là một bước kế tục và phát triển cao hơn nước Văn
Lang. Kinh tế, chính trị, văn hóa thời Âu Lạc đều tiếp tục phát triển trên cơ sở những
thành tựu đã đạt được của nước Văn Lang. Đặc biệt, do yêu cầu của cuộc chiến đấu
chống ngoại xâm nên kỹ thuật quân sự thời Âu Lạc có những tiến bộ vượt bậc.
9,2
Theo Lưu An viết trong Hoài Nam Tử (Trích theo Lịch sử Việt Nam, tập 1, NXB KHXH, Hà Nội, 1971, tr 129).
- Sáng chế ra nỏ bắn một lần nhiều phát tên thường gọi là nỏ liễu hay nỏ liên châu.
Loại vũ khí lợi hại này được thần thánh hóa thành “nỏ thần”. Năm 1957, khảo cổ học đã
phát hiện ở Cầu Vực (phía Nam thành Cổ Loa) một kho mũi tên đồng gồm hàng vạn
chiếc.
- Kiến trúc quân sự nổi tiếng thể hiện sức mạnh của nước Âu Lạc là thành Cổ Loa.
Dấu tích còn lại ngày nay của thành Cổ Loa là 3 vòng thành. Thành ngoài dài hơn 8.000
m, cao 4 - 8 m, vây quanh một khu đất (nay là xã Cổ Loa và một phần các xã Dục Tú,
Dục Nội thuộc huyện Đông Anh (Hà Nội)). Thành giữa dài 6.500 m, cao từ 12 - 16 m.
Thành trong dài 1.600 m, độ cao trung bình 5m. Chân thành dày từ 20 - 30 m, mặt trên
của thành rộng từ 6 - 12 m. Quanh thành đều có hào sâu và rộng từ 10 - 30 m.
Thành Cổ Loa là công trình lao động quy mô lớn của nhân dân Âu Lạc. Số lượng
đất đá đào đắp (ít nhất là 2.168.200 m 3) đòi hỏi phải có hàng vạn nhân công. Thành được
thiết kế hợp lý và sáng tạo: dùng sông làm hào, dùng gò cao, dải đất cao làm lũy. Xây
thành giữa vùng đầm lầy, úng nên nhân dân đã biết phát huy kỹ thuật kè đá tảng để chân
thành thêm vững chãi.
Thành Cổ Loa còn thể hiện nghệ thuật quân sự độc đáo, sáng tạo của nhân dân Âu
Lạc. Đây là một công trình phòng ngự kiên cố và lợi hại, một căn cứ bộ binh gồm nhiều
công trình phòng thủ (hào, lũy, ụ công sự, lũy tiền vệ) liên tiếp nhau. Cổ Loa vừa là một
căn cứ bộ binh, vừa là một căn cứ thủy quân quan trọng. Thuyền chiến có thể vận động
Triệu Đà vốn là một viên quan của nhà Tần, theo quân đội nhà Tần xuống phương
Nam để xâm lược Bách Việt.
Năm 214 TCN, Triệu Đà được cử làm huyện lệnh huyện Long Xuyên, cai quản
người Việt ở đây. Nhân sự sụp đổ của nhà Tần (206 TCN), Triệu Đà chiếm cứ đất Lĩnh
Nam để lập nước Nam Việt, tự xưng là Nam Việt Vũ Vương, đóng đô ở Phiên Ngung.
Từ đó, nước Nam Việt của nhà Triệu chính thức ra đời11.
Nước Nam Việt của nhà Triệu gồm có 3 quận: Nam Hải, Quế Lâm, Tượng Quận,
nằm ở phía Bắc tiếp giáp với nước Âu Lạc.
Nam Việt là một nước mạnh, có đất đai rộng lớn (bao gồm Quảng Đông, Quảng
Tây và một phần Quý Châu ở phía Nam Trung Quốc), kinh tế trù phú, giao thông thuận
lợi, lại nằm sát với nước Âu Lạc về phía Bắc nên có điều kiện xâm lược Âu Lạc.
Năm 187 TCN, Lữ Hậu nhà Hán lên nắm chính quyền, đã thực hiện nhiều biện
pháp uy hiếp và làm suy yếu nền kinh tế Nam Việt. Triệu Đà cắt đứt quan hệ với nhà
Hán, tự xưng là Hoàng đế, tìm cách bành trướng thế lực và mở rộng lãnh thổ. Triệu Đà
đẩy mạnh các hoạt động vũ trang xâm lược về phía Nam, hướng chủ yếu là Âu Lạc.
* Kháng chiến chống Triệu
Theo sử sách và truyền thuyết dân gian của nước ta, Triệu Đà đã nhiều lần đem
quân sang xâm lược Âu Lạc.
Nhưng bấy giờ, Lực lượng quốc phòng của Âu Lạc khá mạnh, có cung tên lợi hại,
có thành Cổ Loa kiên cố. Dưới sự lãnh đạo của An Dương Vương và những tướng lĩnh
tài ba như Cao Lỗ, Nồi Hầu, nhân dân Âu Lạc đã nhiều lần đánh bại quân Triệu, bảo vệ
đất nước.
Sau nhiều lần thất bại, Triệu Đà thay đổi thủ đoạn xâm lược, thực hiện mưu kế xảo
quyệt, xin giảng hòa với Âu Lạc và cầu hôn công chúa Mỵ Châu - con gái của An Dương
Vương cho con trai mình là Trọng Thủy. Lợi dụng tục lệ của người Việt, Triệu Đà cho
Trọng Thủy sang ở rể để có cơ hội điều tra tình hình bố phòng và các bí mật quân sự của
kinh thành Cổ Loa, của nước Âu Lạc. Trọng Thủy còn dùng của cải để mua chuộc các lạc
hầu, lạc tướng nhằm làm suy yếu khối đoàn kết, chia rẽ nội bộ chính quyền Âu Lạc.
Nhiều tướng giỏi như Cao Lỗ, Nồi Hầu, Đinh Toán... bị bạc đãi, bị giết hại hay phải bỏ
đi.
Đứng đầu bộ Giao Chỉ là một viên Thứ sử. Đứng đầu quận có một viên Thái thú phụ
trách việc hành chính, thu cống phú và một viên Đô úy trông coi quân sự. Ở các huyện,
nhà Hán vẫn duy trì phương thức cai trị cũ của nhà Triệu, dùng người Việt trị người Việt.
Các Lạc tướng vẫn được cai quản địa phương của mình với danh hiệu mới là Huyện lệnh
(ở huyện lớn) và Huyện trưởng (ở huyện nhỏ), được phát ấn đồng có dây tua xanh. Cách
cai trị đó vừa đảm bảo được nguồn bóc lột, vừa ít động chạm đến quyền lợi của tầng lớp
quý tộc bản địa. Càng về sau, nhà Hán càng xiết chặt ách đô hộ. Đặc biệt, kể từ năm 43,
sau khi lật đổ chính quyền tự chủ của Hai Bà Trưng, nhà Hán tiến hành thiết lập lại chính
quyền, loại bỏ dần những tổ chức cũ của chính quyền bản xứ, tiến thêm một bước trong
việc tổ chức cai trị trực tiếp bằng quan lại người Trung Quốc trên đất Âu Lạc đến tận cấp
huyện. Các Thứ sử, Thái thú vẫn được duy trì. Ở mỗi huyện có Huyện lệnh đứng đầu là
người Hán. Các chức Lạc tướng thế tập của quý tộc bản địa bị bãi bỏ. Chỉ có một số ít
người Việt trung thành với chính quyền đô hộ mới được giữ chức Huyện lệnh nhưng
không được quyền thế tập. Các quan lại trong bộ máy chính quyền đô hộ hầu hết đều là
người Trung Quốc.
Đến thế kỷ VI, nhà Tùy thiết lập, cai trị Âu Lạc đã tiến hành bãi bỏ đơn vị hành
chính cấp châu, lập lại cấp quận. Trị sở quận Giao Chỉ được dời từ Long Biên về Tống
Bình. Miền đất nước ta được chia thành 7 quận: Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, Tỷ
Cảnh, Hải Âm, Chăm Pa (3 quận Tỷ Cảnh, Hải Âm, Chăm Pa tương đương với vùng
Bình - Trị - Thiên ngày nay), Ninh Việt. Về danh nghĩa, các quận trực tiếp phụ thuộc vào
chính quyền trung ương nhưng trên thực tế, các quận ở nước ta lúc bấy giờ chỉ là đất ràng
buộc lỏng lẻo, bọn Thái thú mặc sức cát cứ, tùy tiện áp bức nhân dân ta.
Sang thời Đường, chính quyền đô hộ đã đổi các quận thành châu như cũ. Năm
622, nhà Đường lập Giao Châu đô hộ phủ. Năm 679 đổi thành An Nam đô hộ phủ với
các hình thức và thủ đoạn cai trị hà khắc hơn. An Nam đô hộ phủ quản 12 châu: Giao
Châu, Long Châu (Bắc bộ ngày nay); Thang Châu, Chi Châu, Vũ Nga Châu, Vũ An
Châu (Quảng Đông, Quảng Tây); Ái Châu, Phúc Lộc Châu, Diễn Châu, Hoan Châu (đất
Trung Quốc và Quảng Ninh) và 41 châu Ky mi (vùng dân tộc ít người, miền núi hẻo
đã được chính quyền đô hộ truyền bá vào nước ta. Đến đầu công nguyên, Thái thú Tích
Quang, Nhâm Diên tích cực “dựng học hiệu để dạy lễ nghĩa” cho dân Giao Chỉ, Cửu
Chân. Về sau, nhiều nho sĩ người Hán được cử sang Giao Chỉ để truyền bá Nho giáo, mở
trường dạy học ở Luy Lâu, Long Biên. Tuy nhiên, dưới thời Bắc thuộc, Nho giáo chỉ ảnh
hưởng tới một số vùng trung tâm châu trị, quận trị. Do vậy, ảnh hưởng của nó trong việc
Hán hóa dân tộc Việt rất hạn chế.
Tiếng Hán và chữ Hán cũng được chính quyền đô hộ phổ biến ở Giao Châu nhằm
làm công cụ thực hiện chính sách đồng hóa người Việt thành người Hán. Song trong suốt
hơn 1.000 năm đô hộ ấy, chính quyền đô hộ vẫn không thể tiêu diệt được tiếng nói của
dân tộc Việt. Bởi chỉ có một bộ phận thuộc tầng lớp trên học chữ Hán, còn đa số nhân
dân lao động trong các làng xã Việt cổ vẫn duy trì tiếng nói của tổ tiên mình.
Chính quyền đô hộ còn ráo riết đẩy mạnh việc di dân Hán đến ở lẫn với người
Việt, bắt nhân dân ta phải thay đổi phong tục, tập quán theo người Hán. Mặt khác, chúng
còn áp dụng luật pháp hà khắc, tàn bạo12 đối với người Việt và thẳng tay đàn áp các cuộc
khởi nghĩa của nhân dân ta.
Như vậy, chính sách đô hộ và đồng hóa của các triều đại phong kiến phương Bắc
kéo dài hơn 1.000 năm đã kìm hãm nghiêm trọng sự phát triển về mọi mặt của dân tộc ta.
Song xã hội Việt Nam vẫn có những biến chuyển rõ rệt.
1.2.2. Tình hình kinh tế - xã hội - văn hóa
Tình hình kinh tế
* Nông nghiệp:
Mặc dù bị chính quyền đô hộ kìm hãm, nền kinh tế nước ta vẫn tiếp tục phát triển.
Trên cơ sở công cụ bằng sắt ngày càng phổ biến, kỹ thuật sản xuất được nâng cao, nông
nghiệp có những bước tiến đáng kể.
Ngay từ đầu công nguyên, việc sử dụng cày, bừa có trâu bò kéo đã phổ biến ở
Giao Chỉ, Cửu Chân. Một số con sông lớn đã có đê phòng lụt, có nhiều kênh đào để tưới
tiêu nước. Dân ta đã biết bón phân để tăng độ phì nhiêu cho đất, biết thâm canh tăng vụ
và trồng lúa hai mùa (còn được gọi là lúa Giao Chỉ).
Ngoài lúa, dân ta còn biết trồng các loại cây có củ (khoai, đậu, sắn, ngô...) và cây
công nghiệp (bông, mía, dâu...). Nghề làm vườn cũng khá phổ biến. Nhà nào cũng có
Do hậu quả của chính sách chiếm đất lập đồn điền và tô thuế nặng nề, chiến tranh
tàn phá, nhiều thành viên công xã người Việt đã bị phá sản, trở thành nô tỳ hay nông dân
lệ thuộc.
Nhìn chung, thời kỳ này đã xuất hiện một số đồn điền của chính quyền đô hộ, một
số trại ấp của địa chủ gốc Hán và một số thị trấn, xóm làng của người Hoa. Sự có mặt của
các tầng lớp kể trên vừa làm gia tăng dân số, vừa tăng thêm các yếu tố Hán hóa. Song
người Việt không vì vậy mà bị Hán hóa, mà ngược lại, một sood người Hoa di cư sang
Giao Châu dần bị Việt hóa, hòa nhập vào cộng đồng người Việt. Đặc biệt, sự xuất hiện
của tầng lớp hào trưởng địa phương người Việt có ảnh hưởng lớn về kinh tế, chính trị,
văn hóa trong nhân dân. Phần lớn tầng lớp này đã trở thành thủ lĩnh của các phong trào
đấu tranh, ý thức dân tộc ngày càng cao.
* Về mặt văn hóa
Người Việt đã tiếp thu một số yếu tố văn hóa vật chất trong sản xuất nông nghiệp
và hoạt động công thương nghiệp như: kỹ thuật bón phân làm vườn, làm giấy, thuộc da,
chế biến thủy tinh, hương liệu... của người Hoa và người Ấn Độ, Trung Á.
Bên cạnh đó, người Việt cũng tiếp thu một số yếu tố văn hóa tinh thần như tín
ngưỡng thờ cúng tổ tiên, tôn thờ những người có công với nước. Các phong tục tập quán
truyền thống của dân tộc như ăn trầu, nhuộm răng đen, tôn trọng phụ nữ vẫn được giữ
gìn.
Tiếng Việt phát triển, hấp thụ nhiều yếu tố ngôn ngữ Hán, Việt hóa những yếu tố
Hán thông qua cách dùng, cách đọc và tạo thành từ ngữ Hán - Việt.
Phần cốt lõi của văn hóa tinh thần là tư tưởng được biểu hiện dưới các hình thức
tôn giáo, tín ngưỡng cũng tác động mạnh đến nước ta. Sự du nhập và hòa quyện của Nho
giáo, Phật giáo, Đạo giáo13 đã tạo nên sắc thái đa nguyên và hỗn hợp trong đời sống tôn
giáo, tín ngưỡng Việt Nam.
1.2.3. Các cuộc đấu tranh giành độc lập
Kể từ cuộc kháng chiến chống Triệu Đà xâm lược bị thất bại đến khởi nghĩa Khúc
Thừa Dụ (179 TCN - 905), đất nước ta liên tiếp bị các triều đại phong kiến phương Bắc
4
178 - 180
Lương Long
Giao Chỉ,
Cửu Chân,
Nhật Nam
5
190 - 193
Khu Liên
Nhật Nam
13
Nhật Nam
Lực lượng - Kết quả
Nhân dân 3 quận nổi dậy hưởng
ứng cuộc khởi nghĩa do Hai bà
Trưng lãnh đạo. Cuộc khởi nghĩa
thắng lợi, giành được chính
quyền độc lập, tự chủ trong vòng
3 năm.
Hàng ngàn dân chúng nổi dậy
468
Lý Tường Nhân
8
542
Lý Bí (Lý Bôn)
9
545 - 557 Lý Nam Đế,
Triệu
Quang
Phục
10
602 - 603 Lý Phật Tử
11
722
Mai Thúc Loan
12
Đế, lập ra nhà nước tự chủ Vạn
Xuân (544).
Giao Chỉ, Lý Nam Đế (Lý Bí) và Triệu
Cửu Chân, Quang Phục (Triệu Việt Vương)
Nhật Nam lãnh đạo cuộc kháng chiến chống
quân xâm lược Lương giành
thắng lợi, giữ vững nền độc lập,
tự chủ.
Giao Chỉ, Cuộc kháng chiến do Lý Phật Tử
Cửu Chân, (hậu Lý Nam Đế) lãnh đạo chống
Nhật Nam quân xâm lược Tùy bị thất bại.
Châu Hoan Nhân dân Châu Hoan (Nghệ An)
nổi dậy chống chính quyền đô hộ
nhà Đường. Nhân dân các châu
đều hưởng ứng. Khởi nghĩa thắng
lợi, Mai Thúc Loan tự xưng là
Mai Hắc Đế.
Đường
Nhân dân Đường Lâm (Hà Tây),
Lâm
dưới sự lãnh đạo của Phùng
Hưng nổi dậy đánh đuổi viên Đô
hộ phủ nhà Đường, giành quyền
tự chủ trong 7 năm.
Giao Chỉ, Khúc Thừa Dụ đứng lên lãnh đạo
Cửu Chân,
Nhật Nam
ruộng đất trong nước. Dưới vua có một viên tể tướng và hai đại thần giúp việc. Đồng thời
còn có một hệ thống thuộc quan.
Đất nước gồm 4 bang, dưới bang là các tỉnh, dưới tỉnh là các làng. Các bang đều
có đại thần đứng đầu, viên chức giúp việc.
Quân đội Chăm Pa khá đông, có lúc lên đến 4 - 5 vạn người. Họ chiến đấu rất
dũng cảm, ra trận thường mặc áo giáp mây, sử dụng giáo mác, cung nỏ bằng tre hoặc tên
thuốc độc. Chăm Pa có một đội thủy binh và tượng binh rất mạnh.
Kinh tế chủ yếu là nông nghiệp trồng lúa nhưng lại rất ít ruộng. Bên cạnh đó còn
có đậu, kê, vừng, mía, tiêu, trầu cau và hoa quả các loại. Ngành khai thác lâm sản đóng
một vai trò quan trọng trong kinh tế của Chăm Pa. Thủ công nghiệp cũng tương đối phát
triển. Họ biết làm đồ gốm, dệt tơ lụa, làm đồ gỗ và xây dựng. Còn thương nghiệp hầu
như không có. Nhà nước nắm độc quyền ngoại thương. Chiến thuyền Chăm Pa thường ra
nước ngoài làm nghề cướp bóc.
Xã hội chia thành 4 đẳng cấp (Tăng lữ, Quý tộc, Bình dân, Nô lệ) nhưng không
chặt chẽ. Lực lượng nô lệ khá đông. Mặc dù nam giữ vai trò quan trọng trong sản xuất,
chiến đấu và chính trị nhưng chế độ mẫu quyền vẫn thống trị.
Người Chăm theo Ấn giáo, mặc dù vẫn có chùa thờ Phật, đền Hồi giáo và tục thờ
Thánh mẫu, thờ Linga và Yôni. Thành tựu văn hóa quan trọng nhất của người Chăm là
sớm sáng tạo ra chữ viết riêng theo mẫu tự Phạn của người Ấn Độ. Tuy nhiên chữ Chăm
không được phổ cập vì Chăm Pa hầu như không có trường học và hệ thống giáo dục. Các
bi ký là nơi duy nhất ghi lại việc thờ cúng, quyền sở hữu và các chiến công.
Về nghệ thuật, các tháp Chăm (hay Chàm) được xây dựng trên các vùng đồi cao là
những công trình kiến trúc, điêu khắc tiêu biểu của người Chăm: Di chỉ Trà Kiệu, Thánh
địa Mỹ Sơn...
Lịch sử Chăm Pa trải qua những giai đoạn thịnh suy. Cho đến cuối thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII, Chăm Pa từng bước bị sáp nhập vào Đại Việt.
Quốc gia cổ Phù Nam
Phù Nam là quốc gia cổ của người Khơ Me, một quốc gia mang mô hình các
vương quốc cổ đại Ấn Độ.
kéo trâu bò. Cùng với những tiến bộ trên các lĩnh vực văn hóa - xã hội, người Việt cổ đã
đưa xã hội vượt qua thời tiền sử, bước sang xã hội có giai cấp và nhà nước (nhà nước
Văn Lang - Âu Lạc).
- Trong buổi đầu của xã hội có giai cấp và nhà nước, nhân dân ta đã xây dựng
được nền văn minh mang đậm tính bản địa - văn minh sông Hồng. Hình thành nên những
giá trị tiêu biểu của văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần, góp phần định hình bản sắc
dân tộc Việt.
- Trong hơn 1.000 năm xâm lược và đô hộ nước ta, các triều đại phương Bắc đã
thực hiện nhiều chính sách và biện pháp nhằm đồng hóa nước ta, vĩnh viễn xóa bỏ sự tồn
tại của dân tộc Việt. Nhưng dựa trên nền tảng vững chắc của cộng đồng quốc gia dân tộc,
có một lãnh thổ riêng, tiếng nói riêng, văn hóa riêng nhân dân ta đã không ngừng đấu
tranh chống lại ách đô hộ tàn bạo của phong kiến phương Bắc, giành độc lập dân tộc.
1. 3.2. Ý nghĩa lịch sử của phong trào đấu tranh giành độc lập thời Bắc thuộc
- Trong hơn 1.000 năm xâm lược và đô hộ nước ta, các triều đại phong kiến
phương Bắc đã vấp phải sự đấu tranh kiên quyết, liên tục, kéo dài và không khoan
nhượng của nhân dân ta. Các thế hệ nối tiếp nhau, thế hệ sau kế tục thế hệ trước đứng lên
đấu tranh, bất chấp sự đàn áp tàn bạo của kẻ thù, nhằm giương cao ngọn cờ độc lập tự
chủ.
- Phong trào đấu tranh chống Bắc thuộc của nhân dân ta đã giành được kết quả to
lớn. Nếu như khởi nghĩa Khúc Thừa Dụ (905) mở đầu cho việc đè bẹp ý chí xâm lược
của phong kiến phương Bắc thì chiến thắng Bạch Đằng (938) của Ngô Quyền đã đè bẹp
hoàn toàn ý chí xâm lược của phong kiến phương Bắc, mở ra một kỉ nguyên mới - kỷ
nguyên độc lập, tự chủ lâu dài của dân tộc Việt Nam.
- Phong trào đấu tranh đó cũng là cơ sở cho nhân dân ta đấu tranh giữ gìn và phát
triển nền văn hóa dân tộc. Điều đó chứng tỏ, chúng ta không những không bị đồng hóa
mà cơ cấu làng xã người Việt vẫn do nhân dân ta định đoạt và làm chủ, nền văn hóa dân
tộc ngày càng được củng cố, làm cơ sở vững chắc cho các giai đoạn tiếp theo.
Câu hỏi ôn tập:
1. Ý nghĩa của cuộc “Cách mạng đá mới”?
2. Cơ sở hình thành quốc gia và nhà nước thời Hùng Vương.
dân, xây dựng nền độc lập tự chủ và thoát dần ảnh hưởng của chế độ đô hộ Trung Quốc.
* Cải cách hành chính: Khúc Hạo chia cả nước thành các đơn vị hành chính lộ,
phủ, châu, giáp, xã. Ở xã đặt chức Chánh lệnh trưởng và Tá lệnh trưởng có nhiệm vụ
thừa lệnh trên để phân chia đóng góp thuế ruộng, huy động lực dịch. Các hương (thời
thuộc Đường) đổi thành giáp do Quản giáp và Phó Tri giáp đứng đầu giữ việc thu thuế và
trưng binh. Khúc Hạo còn đặt thêm nhiều giáp mới, tất cả có 314 giáp. Điều đó cho thấy,
chính quyền họ Khúc đã tiến thêm một bước trên con đường mở rộng và củng cố nền độc
lập, tự chủ của đất nước.
* Cải cách kinh tế: Khúc Hạo sửa lại chế độ điền tô, thuế má, ra lệnh “bình quân
thuế ruộng, tha bỏ lực dịch, lập sổ hộ khẩu, kê rõ quê quán, giao cho Quản giáp trông