QUAN HỆ CỦA NGA VÀ ASEAN TỪ SAU CHIẾN TRANH LẠNH ĐẾN NHỮNG NĂM ĐẦU THẾ KỶ XXI - Pdf 34

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP.HCM
KHOA LỊCH SỬ
CHUYÊN NGÀNH QUỐC TẾ HỌC
-----------------------o0o----------------------

Bài Tiểu Luận

QUAN HỆ CỦA NGA VÀ ASEAN TỪ SAU CHIẾN TRANH LẠNH
ĐẾN NHỮNG NĂM ĐẦU THẾ KỶ XXI ( 1991-2010)

Giảng viên hướng dẫn: TS. Lê Phụng Hoàng
Sinh viên thực hiện: Bùi Thị Phương Thảo
MSSV: K38.608.022
Lớp: QTH2B

TP.HCM, ngày 5 tháng 12 năm 2013

1


MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU ....................................................................................................................... 3
NỘI DUNG ........................................................................................................................... 3
I.
Cơ sở lý luận ....................................................................................................... 3
1.1 Bối cảnh quốc tế ........................................................................................................ 3
a. Khái quát quá trình kết thúc chiến tranh lạnh ..................................................... 3
b. Xu hướng mới trong quan hệ quốc tế ................................................................. 4
1.2 Những nhân tố nội tại tác động đến mối quan hệ Nga và ASEAN ........................... 4
a. Nhân tố Nga ........................................................................................................ 4
b. Nhân tố ASEAN ................................................................................................. 5



LỜI MỞ ĐẦU.
Vào thập niên cuối cùng của thế kỉ XX, trong quan hệ quốc tế đã diễn ra nhiều biến động. Sự
sụp đổ của Liên Xô, việc chấm dứt chiến tranh lạnh đã làm thay đổi căn bản bộ mặt của thế
giới hiện đại. Sau nhiều thập kỉ đối đầu căng thẳng việc quan hệ Đông – Tây hòa dịu đã mở
ra những triển vọng mới trong quan hệ quốc tế. Bên cạnh đó xu thế toàn cầu hóa và hội nhập
quốc tế đã trở thành xu thế khách quan của thời đại, lôi cuốn hầu hết các quốc gia tham gia
vừa thúc đẩy hợp tác vừa tăng cường sức ép cạnh tranh và phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền
kinh tế. Quá trình liên kết và hội nhập kinh tế không chỉ diễn ra trên phạm vi thế giới mà còn
diễn ra trên phạm vi khu vực, đặc biệt là những quan hệ song phương, đa phương giữa các
quốc gia cũng ngày càng sâu rộng. Quan hệ Nga - ASEAN cũng không nằm ngoài quá trình
này.
So với nhiều nước lớn khác, lịch sử quan hệ của Nga với khu vực ASEAN được bắt đầu khá
muộn màng và trải qua những giai đoạn phát triển thăng trầm phức tạp. Tuy vậy, bằng việc
thiết lập quan hệ ngoại giao của Liên Xô với các nước Đông Dương và với một số nước
Đông Nam Á khác kể từ đầu thập niên 50, ảnh hưởng của nước Nga với khu vực đã được xác
lập, củng cố và mở rộng rất đáng kể.
NỘI DUNG
I.
Cơ sở lý luận
1.1
Bối cảnh quốc tế
a. Khái quát quá trình kết thúc chiến tranh lạnh.
Sau chiến tranh thế giới thứ hai một cục diện chiến lược mới xuất hiện với sự nổi lên của hai
siêu cường: Liên Xô và Mĩ. Tháng 3/1947 tổng thống Mĩ - Truman trong diễn văn đọc trước
Quốc hội đã chính thức đưa ra “Chủ nghĩa Truman” đồng thời phát động cuộc chiến tranh
lạnh chống Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa. Sự ra đời của “Chủ nghĩa Truman” và
cuộc “chiến tranh lạnh” do Mĩ phát động đã đánh dấu chấm hết cho mối quan hệ đồng minh
giữa Liên Xô với Mĩ và các nước Phương Tây trong thời kì chiến tranh chống Phát Xít và mở

Quốc gồm: Mĩ, Nga, Trung Quốc, Anh, Pháp nhằm giải quyết các vấn đề quốc tế, trong khi
các nước đều phải điều chỉnh chiến lược đối ngoại của mình cho phù hợp với tình hình mới.
Bên cạnh đó, xu hướng liên kết khu vực và toàn cầu hóa mặc dù nảy sinh từ rất sớm, ngay từ
thời chiến tranh lạnh, nhưng phải đến giai đoạn này mới phát triển mạnh, với những mô hình
liên kết thành công vượt quá mong đợi như Liên minh Châu Âu (EU); Diễn đàn hợp tác Châu
Á - Thái Bình Dương (APEC); Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN)… Lần đầu
tiên trong lịch sử nhân loại những liên minh mang tính khu vực đã trở thành những thế lực
kinh tế - chính trị thực sự với sức mạnh của sự đoàn kết.
Có thể thấy rằng những xu hướng mới trong quan hệ quốc tế là sự phản ánh chân thực những
hệ quả của tình hình thế giới trong hai thập kỉ qua. Bỏ lại phía sau những bất đồng về ý thức
hệ, các quốc gia, khu vực trên thế giới có điều kiện thuận lợi để xây dựng mối quan hệ tốt đẹp
dựa trên lợi ích kinh tế quốc gia và hòa bình, an ninh thế giới. Đây cũng chính là cơ sở để
Nga và ASEAN đẩy mạnh hợp tác, như vậy có thể nói quan hệ Nga - ASEAN nằm trong xu
thế tất yếu của thời đại.
1.2
Những nhân tố nội tại tác động đến mối quan hệ Nga và ASEAN
a. Nhân tố Nga.
Nga coi ASEAN là một tổ chức hạt nhân của quá trình liên kết khu vực của APEC, một trong
các trung tâm ảnh hưởng tới nền chính trị thế giới, có khả năng xây dựng một trật tự thế giới
mới. Sự phát triển quan hệ hợp tác với ASEAN mang ý nghĩa quan trọng đối với Nga trong
kế hoạch hình thành trong khu vực hệ thống quan hệ chính trị và kinh tế mới, củng cố vị thế
của Nga, đưa sáng kiến của Nga lên hàng đầu trên lĩnh vực an ninh.
Có thể nới việc điều chỉnh chiến lược đối ngoại của Nga theo hướng đa phương hóa có ý
nghĩa quan trọng, tích cực thúc đẩy quan hệ giữa Nga và ASEAN. Vì quan điểm của người
Nga cho thấy trở thành đối tác chiến lược của ASEAN để góp phần giải quyết các nhiệm vụ
kinh tế xã hội của Nga.
Xuất phát từ thực tế là từ khi Liên Xô tan rã, các nước cộng hòa tách ra độc lập đã khiến cho
vị trí địa lí của Nga chuyển dịch sang phía đông với toàn bộ vùng duyên hải của Nga nẳm ở
Châu Á – Thái Bình Dương. Đồng thời Nga mất nhiều hải cảng quan trong ở biển Bantic,
biển Đen và tuyến đường bộ qua trung Á. Vì vậy Nga buộc phải tăng cường các hải cảng ở

Nga về các vấn đề cốt lõi trong quan hệ quốc tế như tôn trọng chủ quyền, chống chủ nghĩa áp
đặt, đơn phương, hợp tác bình đẳng cùng tôn tại và phát triển trong hòa bình về cơ bản trùng
hợp với lập trường quan điểm của ASEAN và các nước thành viên.
Trên phương diện chủ quan lẫn khách quan việc tăng cường quan hệ với ASEAN sẽ đem về
cho Nga những lợi ích chiến lược, tăng cường sức mạnh giúp Nga phát huy vị thế nước lớn
của mình trên trường quốc tế.
b. Nhân tố ASEAN.
Đối với ASEAN, Nga là một cường quốc có tầm ảnh hưởng lớn đến sự ổn định và phát triển
trên thế giới. trong chính sách cân bằng giữa các nước lớn mà ASEAN đang áp dụng, Nga
cũng là một đối tác quan trọng trong trung hạn đến dài hạn. mối quan hệ với Nga có thể đem
lại nhiều lợi ích cho ASEAN nói chung và từng thành viên nói riêng.
Về phương diện kinh tế: ASEAN là một trong những khu vực có nền kinh tế phát triển năng
động nhất trên thế giới. Để đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế, các nước ASEAN đã thực
hiện chiến lược công nghiệp hoá hướng tới xuất khẩu, tăng cường thu hút vốn đầu tư từ bên
ngoài. Giống như một thực thể sống đang trong quá trình tích luỹ năng lượng cho sự bùng nổ
về sau, ASEAN đã không ngừng mở rộng quan hệ hợp tác với các quốc gia và vùng lãnh thổ
trên thế giới nhằm tận dụng tối đa các nguồn lực bên trong cũng như bên ngoài.

5


Nước Nga là một nước rất giàu tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là dầu mỏ và khí đốt, có
nhiều lĩnh vực nổi trội như: công nghệ hạt nhân, công nghệ hàng không vũ trụ, chế biến dầu
khí… Với những lợi thế của mình, Nga đã trở thành một bạn hàng nhiều tiềm năng của
ASEAN. Các nước ASEAN quan tâm nhiều đến việc xem Nga là một đối tác nhằm đảm bảo
an ninh năng lượng cho sự phát triển ở hiện tại và trong tương lai, là một thị trường rộng lớn
cho xuất khẩu các hàng hoá và dịch vụ cũng như thu hút khách du lịch từ Nga. Đó là chưa kể
đến những dự án mua vũ khí, thiết bị quân sự Nga của một số nước ASEAN có giá trị lên đến
hàng trăm triệu USD.
Trên phương diện chính trị - an ninh thì quan hệ Nga và ASEAN dựa trên những cơ sở hết

thuẫn Đông – Tây. Mặt khác, trong chiến tranh lạnh Châu Á, trong đó có ASEAN là một bộ
phận của chiến lược toàn cầu hoá của Liên Xô.
Trên thực tế, Liên Xô luôn thể hiện mong muốn có mặt ở khu vực Viễn Đông. Nhưng do
châu Âu luôn là trung tâm điểm của đối đầu Xô – Mỹ nên quan hệ với châu Á không được
chú ý nhiều. Hơn nữa, do giới hạn của khả năng kinh tế nên chính sách và quan hệ của Liên

6


Xô với ASEAN chỉ dừng lại ở mục tiêu đảm bảo các lợi ích an ninh, chính trị, quân sự của
nhà nước Xô Viết.
Trong thời kỳ Liên Xô tiến hành cải tổ, cùng với việc điều chỉnh trong đường lối đối nội đối
ngoại, mặc dù mục tiêu hợp tác kinh tế với châu Á nói chung và ASEAN nói riêng đã được
đề cao nhưng sự hiện diện kinh tế của Liên Xô ở ASEAN vẫn hết sức mờ nhạt.
Nhìn lại quá trình hợp tác Liên Xô – ASEAN thời kỳ trước 1991 ta có thể thấy quan hệgiữa
Liên Xô và ASEAN bị chi phối bởi các mâu thuẫn về ý thức hệ, sự đối đầu, nghi kỵ lẫn nhau
đã cản trở những cơ hội phát triển quan hệ chính trị, an ninh và kinh tế giữa đôi bên. Bên thân
Liên Xô mong muốn có chính sách tăng cường sự hiện diện kinh tế ở khu vực ASEAN với
mục tiêu trực tiếp thúc đẩy sự phát triển kinh tế vùng Viễn Đông, mở rộng quan hệ hợp tác
với châu Á thông qua đẩy mạnh xuất khẩu các mặt hàng sản phẩm nguyên liệu, nhiên liệu và
các tài nguyên thiên nhiên khác. Đặc biệt Liên Xô muốn tìm kiếm lợi ích từ khả năng, lợi thế
của mình trong thăm dò, khai thác dầu mỏ, sản xuất máy bay, đóng tàu và các trang thiết bị
thuộc ngành công nghiệp quân sự. Đổi lại Liên Xô muốn nhập được các mặt hàng công
nghiệp tiêu dùng chất lượng tốt, giá rẻ từ Đông Nam Á. Tuy vậy, cho đến khi Liên Xô sụp
đổ, chính sách hiện diện kinh tế này đã không thực hiện được như mong muốn.
Mặc dù còn rất ít ỏi song những lợi ích đem lại từ mối quan hệ Liên Xô – ASEAN đã hé lộ
những tiềm năng to lớn mà hai bên có thể khai thác từ mối quan hệ này. Đây là cơ sở quan
trọng để Nga – ASEAN đẩy mạnh hợp tác với nhau sau này trên tất cả các lĩnh vực.
1.2 Quan hệ Nga – ASEAN giai đoạn năm 1991 đến năm 2010
a. Quan hệ trên lĩnh vực chính trị - an ninh

Việt Nam và các nước Đông Dương, cho nên việc các nước này đã và sẽ gia nhập ASEAN
tạo điều kiện thuận lợi cho Nga tăng cường quan hệ với các nước ASEAN khác, nâng mối
quan hệ đó lên những nấc thang mới cao hơn.
Quan hệ ASEAN-Nga chính thức được thiết lập vào tháng 7/1996 và đã hình thành các cơ
chế đối thoại thường kỳ ở cấp quan chức và Bộ trưởng Ngoại giao. Cơ cấu đối thoại ASEAN
– Nga được định hình nhanh chóng gồm 4 thiết chế:
1.

Ủy ban hợp tác hỗn hợp ASEAN – Nga ( ARJCC )

2.

Ủy ban quản lý hỗn hợp ASEAN – Nga của quỹ hợp tác ASEAN – Nga.

3.

Hội đồng kinh doanh ASEAN – Nga ( ARBC )

4.

Ủy ban ASEAN tại Moscow ( ACM )

Trong những năm đầu thế kỷ XXI, quan hệ hợp tác về chính trị, an ninh Nga – ASEAN tiếp
tục được củng cố và mở rộng. ASEAN và Nga đã ký Tuyên bố chung về quan hê ̣ đ ốitác vì
hoà bình , an ninh , thịnhvượng và p háttriểntại khu vực Châu Á -Thái Bình Dương (tháng
6/2003) đặt khuôn khổ cho việc tăng cườnghơ ̣ptác gi ữa hai bên trong các lĩnh vực chính trị,
an ninh,kinh tế và chuyên ngành. Đặc biệt Nga và ASEAN đã đạt được những bước tiến quan
trọng qua việc ký kết hiệp ước thân thiện và hợp tác sau cuộc hợp bộ trưởng ASEAN – Nga
vào ngày 29/11/2004 tại Viên Chăn – Lào. Nga là nước thứ hai sở hữu vũ khí hạt nhân và là
thành viên Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc, ký bản hiệp ước thân thiện và hợp tác với

và an ninh với Biển Đông. Tuy vậy, cần phải thấy rằng khi thể hiện thái độ về vấn đề nhạy
cảm như tranh chấp biển Đông, Nga cần phải cân nhắc quan hệ với Trung Quốc. Trong thời
gian qua đặc biệt sau khi điều chỉnh chiến lược đối ngoại theo hướng “cân bằng Đông - Tây”
nước Nga đã coi Trung Quốc là đối tác chiến lược quan trọng nhất của họ ở Châu Á.Trung
Quốc cũng là đối tác thương mại lớn thứ 2 của Nga ( chỉ xếp sau EU) trong khi ASEAN chỉ
xếp thứ 11. Quan điểm của Nga là không phản đối đưa các vấn đề tranh chấp Biển Đông ra
bàn bạc ở các diễn đàn đa phương, nhưng chủ trương ủng hộ thương lượng song phương.
Các lĩnh vực an ninh truyền thống luôn là mối quan tâm và được bàn nhiều trong các cuộc
họp giữa các quan chức Nga – ASEAN.Hiện nay cả Nga và ASEAN đều có chung các mối đe
dọa an ninh phi truyền thống như: Chủ nghĩa khủng bố, chủ nghĩa tôn giáo cực đoan và chủ
nghĩa ly khai dân tộc.
Nhận thấy vấn đề này quan trọng trên cơ sở hội nghị cấp cao ASEAN lần 7 và 8 vào những
năm 2001 và 2002 về chống khủng bố thì tới năm 2004 một bước tiến quan trọng là NgaASEAN đã ký tuyên bố chung về chống khủng bố ngày 02/07/2004 tại Jacacta. Đây là cơ sở
pháp lý để cho Nga – ASEAN thành lập một chương trình hợp tác trong việc phòng chống
bọn tội phạm quốc tế qua đó trao đổi các thông tin kinh nghiệm để đạt kết quả cao nhất.
Tháng 7/2005 tại Hội nghị Thượng đỉnh giữa Nga và ASEAN tại KualaLampur vẫn tiếp tục
khẳng định hợp tác trên lĩnh vực an ninh chính trị giữa hai bên. Điều này được thể hiện bằng
hành động là áp dụng các cơ chế hiện có : APEC, ARF, AICO… Cũng như thiết lập một khu
vực ASEAN không có vũ khí hạt nhân theo hiệp ước SEANWFZ và xây dựng một cộng đồng
an ninh ASEAN.
Quan hệ chính trị ASEAN-Nga phát triển khá thuận lợi. Nga đã chính thức tham gia Hiệp
ước TAC (2004). Hai bên đã nhất trí tổ chức Hội nghị Cấp cao ASEAN-Nga lần thứ 2 tại
Việt Năm 2010 nhằm tăng cường và thúc đẩy hơn nữa quan hệ đối thoại. Hợp tác kinh tếthương mại và hợp tác phát triển là những lĩnh vực mà ASEAN và Nga dự kiến tăng cường
hợp tác hơn nữa trong thời gian tới. Hai bên đã ký Bản ghi nhớ thành lập Trung tâm ASEANNga tại Học viện Quan hệ Quốc tế Moscow (MGIMO) vào tháng 7/2009.
Tại Cuộc họpQuan chức cao cấp ASEAN-Nga lần thứ 7 đã diễn ra tại Moscow từ ngày 1415/6/2010 do Mianma và Nga đồng chủ trì., các Quan chức hai bên đã thảo luận các biện
pháp tăng cường hơn nữa quan hệ hợp tác ASEAN-Nga và trao đổi các vấn đề khu vực và
quốc tế cùng quan tâm. Về quan hệ hợp tác ASEAN-Nga, các Quan chức hai bên đã đề xuất
nhiều biện pháp hợp tác cụ thể trên các lĩnh vực như kinh tế-thương mại, năng lượng, văn
hóa, du lịch, quản lý thiên tai, chống khủng bố, tội phạm xuyên quốc gia… Hai bên nhất trí
xây dựng các Lộ trình hợp tác, Kế hoạch công tác… tạo khuôn khổ cho từng lĩnh vực hợp tác

Kể từ sau cuộc khủng hoảng kinh tế Châu Á năm 1998 thương mại giữa Nga và ASEAN đã
có xu hướng tăng lên. Trên thực tế thì quan hệ đó sẽ được duy trì tổng giá trị năm 2005 là 4,7
tỷ USD. năm 2009 kim ngạch thương mại ASEAN-Nga mới đạt 6,76 tỷ USD, tương đương
0,4% tổng kim ngạch thương mại ASEAN.
Có thể nói cùng với sự phát triển không ngừng của mối quan hệ chính trị- an ninh thì quan hệ
thương mại Nga- ASEAN cũng từng bước tiến triển.Trong đó sự kiện ký kết hiệp định hợp
tác kinh tế và phát triển vào cuối năm 2005 tại Malayxia và “chương trình hành động tổng thể
xúc tiến hợp tác cho thời kỳ 2005 - 2015” đã mở ra một thời kỳ phát triển toàn diện với một
chất lượng mới cho quan hệ Liên Bang Nga- ASEAN.
Tiềm năng lớn nhất trong hợp tác thương mại Nga – ASEAN là trong lĩnh vực năng lượng .
Thời gian qua Nga nổi lên như một cường quốc năng lượng với trữ lượng khổng lồ về dầu mỏ
và khí đốt hàng đầu thế giới. Đây là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Nga.
Nga và ASEAN sẽ đẩy mạnh hợp tác ở các ngành công nghệ cao, công nghệ chế tạo máy,
thiết bị xây dựng, máy móc, thiết bị điện, mở rộng các nghiên cứu đặc biệt là khoáng sản.
Nga chưa phải là đối tác quan trọng với khu vực ASEAN mặc dù tổng thương mại giữa Nga
và ASEAN có tăng từ 0,4% năm 2005 và 0,6% năm 2008 trong các đối tác thương mại của

10


ASEAN thì thương mại của ASEAN có tính tập trung cao chủ yếu với các nước lớn như :
Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc, EU nên thương mại với Nga chỉ chiếm tỷ lệ rất nhỏ.
Tương tự như vậy với Nga thì ASEAN cũng không phải là đối tác quan trọng nhất vì phần
lớn thương mại của Nga là các nước SNG và các nước Châu Âu và ASEAN chỉ đứng ở vị trí
thứ 11 trong các nước buôn bán thương mại lớn nhất với Nga trong năm 2005.
Tuy nhiên nếu so sánh về tỷ lệ thì có thể thấy vai trò của ASEEAN đối với thương mại của
Nga lớn hơn vai trò của Nga đối với thương mại của ASEAN. ASEAN chiếm hơn 1%
thương mại của Nga, Năm 2008 chỉ số này cao cho thấy mức độ quan trọng của thương mại
đối với ASEAN càng cao.Đó là về tỷ lệ còn trên bảng xếp hạng các đối tác thương mại của
Nga thì ASEAN được xếp thứ 11 vị trí này vẫn giữ từ năm 2005 đến năm 2008.

vực này chỉ tập trung vào các công ty của Singapore vì Singapore là trung tâm tài chính và
kinh doanh hàng đầu của Châu Á, với hơn 7000 TNCs (công ty đa quốc gia) hoạt động ở đây.

11


Trong những năm đầu thập kỉ 90 của thế kỉ XX, đã có nhiều dự án đầu tư của các doanh
nhân Nga vào Châu Á nói chung và các nước ASEAN nói riêng. Các lĩnh vực được người
Nga ưu tiên là nghề cá và khai thác cá, dầu mỏ, đồ trang sức, thiết bị máy tính cá nhân… Nga
cũng mong muốn tham gia các dự án xây dựng tàu điện ngầm ở Thái Lan, hệ thống đường sắt
nối Thái Lan với Lào, Việt Nam và Trung Quốc, đường ống dẫn ga và hàng không ở
Malayxia…
Các nhà đầu tư ASEAN cũng đã có những dự án đầu tư vào Nga như khai thác rừng, quặng,
các sản phẩm giấy các ngành dệt may… Tuy nhiên đầu tư trực tiếp hai chiều (FDI) đến năm
1998 mới đạt 200 triệu USD. Nguyên nhân cơ bản của tình trạng đầu tư của ASEAN vào Nga
không đáng kể là do các điều kiện kinh tế bấp bênh và thiếu khung pháp lí đảm bảo cho cá
nhà đầu tư nước ngoài và thái độ của nước Nga cũng chưa quan tâm nhiều đến khu vực
ASEAN trong thời gian này.
Các nhà đầu tư ASEAN khác cũng đã có những dự án đầu tư vào Nga như khai tác rừng,
quặng và các sản phẩm giấy, các ngành dệt may, khách sạn và viễn thông. Tuy nhiên, đầu tư
trực tiếp của ASEAN vào Nga chủ yếu là các dự án nhỏ, các doanh nghiệp Việt Nam cũng
đầu tư xang Nga 13 dự án ( tính đến 22/4/2007 các dự án còn hiệu lực) với tổng vốn trên 73
triệu USD, chủ yếu trong lĩnh vực dệt may, chế biến thực phẩm, sản xuất vật liệu xây dựng.
Không chỉ đầu tư của ASEAN ở Nga còn hạn chế mà đầu tư của Nga vào ASEAN cũng
không đáng kể. Nga cũng đang tiến hành dự án đầu tư giữa các doanh nhân Nga với các nước
Philippin, Singapo, Thái Lan và các nước khác trong lĩnh vực như nghề cá và khai thác cá
dầu mỏ, các thiết bị máy tính cá nhân. Nga cũng mong muốn đầu tư vào xây dựng các dự án
tàu điện ngầm ở Thái Lan, Lào, Việt Nam và Trung Quốc, đường ống dẫn gas và hàng không
ởMalayxia, xây dựng các nhà máy thủy điện ởMalayxia, Mianma, Thái Lan, Lào…
Đầu tư giữa Nga – ASEAN chủ yếu là các dự án nhỏ lẻ vào một số lĩnh vực nhất định nhưng

vực bảo hiểm, lãnh đạo trung tâm bảo hiểm Nga thực hiện hàng loạt các chuyến công tác với
mục tiêu tiếp tục phát triển hợp tác với các đại diện bảo hiểm và tái bảo hiểm xã hội của các
nước Đông Nam Á và khu vực Châu Á – Thái Bình Dương và trung tâm bảo hiểm Nga cho
rằng thị trường Đông Nam Á là thị trường tiềm năng theo quan điểm hỗ trợ bảo hiểm cho
chương trình hợp tác kỹ thuật quân sự của Nga.
Mỗi nước ASEAN biểu lộ sự quan tâm đầu tư vào Nga là khác nhau nhưng cơ hội mới thuận
lợi đang xuất hiện sau khi Nga thông qua bộ luật mới về khu vực kinh tế tự do. Bộ luật này sẽ
kích thích việc đầu tư vào phát triển các lĩnh vực công nghệ cao. Như vậy đã mở ra rất nhiều
tiềm năng hợp tác giữa Nga và ASEAN trong thời gian hiện nay và trong tương lai.
c. Hợp tác trên lĩnh vực năng lượng.
Hợp tác về năng lượng giữa Nga và các nước ASEAN là một trong những điểm mạnh trong
quan hệ Nga – ASEAN. Cho tới nay đầu tư chủ yếu của Nga ở ASEAN vẫn chủ yếu tập trung
vào các lĩnh vực có liên quan đến năng lượng từ những dự án về thăm dò khai thác dầu khi ở
thềm lục địa cho đến những dự án về lọc dầu, nhà máy thủy điện… Nga có một trữ lượng lớn
tại vùng Viễn Đông và Siberia chưa khai thác. Còn ASEAN có một biển Đông giàu tài
nguyên vô cùng nhất là về năng lượng. Vì vậy điều này sẽ thúc đẩy sự gắn bó quan hệ giữa
Nga và ASEAN.
Để khai thác thế mạnh của mình cũng là để xuất khẩu công nghệ hạt nhân Nga đã chủ động
thắt chặt quan hệ hợp tác với các nước ASEAN trong lĩnh vực hạt nhân bước tiến của Nga
vào thị trường Châu Á – Thái Bình Dương còn gắn liền với việc khai thác nguyên liệu
khoáng chất ở Đông Siberia và Viễn Đông.
Trong thời gian gần đây ba thị trường quốc tế lớn mà Nga quan tâm là: các nước SNG, Châu
Âu, Châu Á – Thái Bình Dương. Hiện nay khí đốt của Nga chỉ chuyển sang SNG và Châu
Âu, còn những đường ống dẫn khí đốt xuất sang Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật BẢn đang
nằm trong các dự án thiết kế.
Trong tương lai sẽ thành lập một hệ thống dẫn khí đốt thống nhất qua các mỏ của Nga, Trung
Quốc, Bruney, Indonesia. Điều này sẽ làm tăng khả năng cung cấp khí đốt cho các nước
ASEAN và tăng cơ hội cho Nga tham gia vào dự án này. Một số nước ASEAN có nguồn
nguyên liệu khoáng sản phong phú như (Indonesia, Malayxia) tích cực khai thác, còn các
nước khác như Singapo, Campuchia không có nguồn nguyên liệu này và hoàn toàn phụ thuộc

diễn ra rất sôi đọng với hầu hết các nước ASEAN. Ngay cả khi hoạt động buôn bán thương
mại hàng hóa cong nhỏ bé nhưng mua bán vũ khí lại không nhỏ.
Năm 2003 xuất khẩu vũ khí và kỹ thuật quân sự từ Nga sang các nước trên thế giới lần đầu
tiên đạt trên 5,1 tỷ USD so với 3,2 tỷ USD năm 2001, mà tăng trưởng chủ yếu nhờ từ các
nước Châu Á như Trung Quốc, Ấn Độ và ASEAN ( trước hết là Malayxia, Indonesia, Việt
Nam). Nga chủ yếu bán máy bay Su – 30 cho các nước Đông Nam Á, Nga đã bán 12 chiếc
Sukhoi cho Thái Lan, hợp đồng trị giá 500 triệu USD.
Quan hệ quân sự giữa Nga và Indonesia được nối lại vào năm 1997 sau hơn 30 năm gián
đoạn. Đầu tháng 7/1997 Indonesia đã cử một phái đoàn sang Moscow để tìm hiểu các loại
máy bay quân sự hiện đại của Nga như MiG-29, Su -27, Su-30 … Trên cơ sở đó ngày
5/8/1997 chính phủ Indonesia tuyên bố kế hoạch mua 20 chiếc máy bay của Nga trị giá nhiều
đô-la. Tuy vậy do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á mà Indonesia là nước
chịu thiệt hại nặng nề mà do đó kế hoạch này tạm gác lại.
Sau khi phục hồi nền kinh tế , đến đầu thế kỷ XXI Indonesia lại tiếp tục đẩy mạnh quan hệ
quân sự với Nga. Tháng 4/2003 Tổng thống MeegaoatliSucacnoputui đã đến thăm Nga và ký
kết các hiệp định về hợp tác quân sự.
Bước tiến quan trọng trong hợp tác quân sự giữa Nga và Indonesia là vào tháng 9/ 2005 đã
diễn ra cuộc họp đầu tiên của hội đồng liên Chính phủ về hợp tác kỹ thuật quân sự . Đặc biệt
trong chuyến thăm Nga của tổng thống Susilo Ban (tháng 12/2006) hai bên đã ký một loạt

14


hiệp định song phương về quân sự. Ngày 27/8/2009, công ty xuất khẩu vũ khí Nga
Rosoboroexport và Bộ Quốc phòng Indonesia đã ký hợp đồng mua 20 xe bọc thép lội nước
BMP-3F, theo đó việc chuyển giao được tiến hành vào năm 2010.
Hợp tác về quân sự giữa Nga và Malayxia mới chỉ được thực hiện trong khoảng hơn một thập
kỷ qua song lại không ngừng gia tăng về giá trị và hiện nay Malayxia đứng đầu trong số các
đối tác kỹ thuật quân sự của Nga ở khu vực Đông Nam Á . Năm 1994 Nga ký hợp đồng
cung cấp cho Malayxia máy bay MIG-29, ngoài ra Nga và Malayxia cùng xây dựng một

ảnh hưởng giữa các nước lớn ở Đông Nam Á. Bên cạnh đó, việc hợp tác với từng thành viên
trong ASEAN thì đều có lợi cho cả hai bên và phía Indonesia ký được với Nga hiệp định hợp
tác trên cơ sở trung lập cân bằng… với Việt Nam, Malayxia Nga đã giúp đỡ rất nhiều ở các
lĩnh vực khác không riêng gì lĩnh vực này. Và việc hợp tác quân sự giữa Nga và một số nước
ASEAN thời kỳ “hậu đối đầu” minh chứng rằng hiện nay lợi ích quốc gia dân tộc là vấn đề
quan trọng hàng đầu trong quan hệ quốc tế.

15


Tóm lại, ASEAN là một thị trường tiềm năng cho nền công nghiệp quốc phòng của Nga, hợp
đồng vũ khí đem lại lợi ích cho cả 2 bên.
e. Quan hệ trên lĩnh vực khoa học công nghệ và giáo dục.
Trong quan hệ hợp tác toàn diện Nga – ASEAN thì hợp tác khoa học kỹ thuật và công nghệ
cũng đóng một vai trò rất quan trọng. Hội nghị Thượng đỉnh Nga – ASEAN lần thứ nhất tại
KualaLumpur ngày 13/12/2005 nhấn mạnh những tiềm năng to lớn mà hai bên sẵn có đối với
hợp tác thương mại và đầu tư. Trong lĩnh vực công nghiệp hợp tác chặt chẽ đối với các ngành
máy khai thác mỏ, máy công cụ, máy làm đường, xây dựng, thiết bị điện và máy công
nghiệp. Mở rộng hợp tác trong nghiên cứu, cải tiến và ứng dụng các công nghệ tiên tiến trong
khai thác tài nguyên. Trao đổi các bí quyết trong các lĩnh vực khác nhau của năng lượng, bao
gồm sử dụng các nguồn năng lượng tái tạo, sử dụng hiệu quả, tiết kiệm các nguồn năng lượng
( mặt trời, gió, thủy triều và sóng biển, hydro, sinh học..) thúc đẩy các công nghệ và nguồn
năng lượng thân thiện với môi trường.
Nga còn có thế mạnh về khoa học vũ trụ và đã từng hợp tác với nhiều nước trong việc phát
triển khoa học vũ trụ. Trong khuôn khổ ASEAN+1 ( ASEAN + Nga) một trong những sang
kiến mới nhất của Mạng lưới các trường đại học ASEAN (AUN) gần đây là việc thết lập
quan hệ hợp tác khoa học ASEAN-Nga. Tháng 10/2000 Hội thảo “Quan hệ đối thoại Nga –
ASEAN” đã thu hút các quan chức chính phủ các nhà khoa học, giáo dục, thương nhân Nga
bàn luận sôi nổi về hợp tác hàn lâm ASEAN – Nga.
Năm 2005, trước hội nghị thượng đỉnh ASEAN – Nga lần thứ nhất diễn ra tại KualaLumpur,

công nghệ khá tiên tiến của Nga. Tháng 10/2000, Giám đốc AUN Tiến sỹSupa Chai đã tham
dự Hội thảo “Quan hệ đối thoại Nga – ASEAN” tại đây ông đã giới thiệu với các quan chức
chính phủ, các nhà giáo dục, các thương nhân Nga về AUN, giới thiệu các sáng kiến về hợp
tác hàn lâm ASEAN – Nga. Rất nhiều trường đại học và viện nghiên cứu Nga bày tỏ ý muốn
tham gia vào các hoạt động của AUN.
Đối với các nước ASEAN, Nga đang trở thành thị trường giáo dục khá hấp dẫn do trình độ
khoa học cơ bản của Nga được đánh giá là tiên tiến trong khi giá cả lại thấp hơn so với các thị
trường giáo dục khác như Mỹ, Anh, Úc,... đồng thời Chính phủ Nga cũng có chính sách ưu
đãi như cấp học bổng cho các sinh viên đến từ ASEAN theo học tại Nga. Trong các nước
ASEAN, Việt Nam là nước đi đầu trong hợp tác giáo dục với Nga, có hơn 4000 sinh viên
đang theo học tại Nga, trong đó có 1200 sinh viên là theo diện học bổng. Malayxia hiện có
hơn 2000 sinh viên theo học tại Nga cả diện tự túc lẫn học bổng, và con số này đang ngày
càng tăng lên do Malayxia đã công nhận bằng do Nga cấp. Một quốc gia nữa cũng rất quan
tâm đến nền giáo dục và quan hệ giáo dục với Nga đó là Thái Lan. Năm 2005, hai nước đã ký
thoả thuận hợp tác trong lĩnh vực giáo dục ở cấp bộ.
f. Quan hệ trên lĩnh vực văn hóa du lịch.
Sự hợp tác giao lưu văn hóa du lịch giữa Nga và ASEAN cũng được chú ý phát triển cùng
với các quan hệ khác. Sự giao lưu văn hóa giúp cho người dân của hai bên hiểu biết lẫn nhau
và đó cũng là cơ sở để phát triển các lĩnh vực khác nhất là du lịch.
Để tăng cường quảng bá về đất nước, con người Nga đến gần hơn với dân tộc Đông Nam Á,
chính phủ Nga đã cho mở nhiều trung tâm ngôn ngữ, văn hoá Nga ở Việt Nam, Thái Lan,
Malayxia... thu hút nhiều người đến học tiếng Nga và tìm hiểu về văn hoá Nga. Những “ngày
văn hoá Nga” được tổ chức đều đặn ở một số nước ASEAN đã giới thiệu nền văn hoá Nga
giàu bản sắc riêng bản sắc thông qua các món ăn, phim ảnh, sách báo... Ngược lại các nền
văn hoá cuả các nước ASEAN cũng được tổ chức ở Nga.
Các đoàn nghệ thuật Nga đã đến thăm và tổ chức biểu diễn ở nhiều quốc gia ASEAN, tương
tự các đoàn nghệ thuật của các nước ASEAN cũng đã tổ chức nhiều chuyến lưu diễn đưa văn
hoá ASEAN đến giới thiệu với bạn bè Nga. Trong dịp kỷ niệm 42 năm thành lập ASEAN Đại
sứ các nước ASEAN cũng tổ chức “Ngày văn hóa _ ẩm thực ASEAN” tại Nga để giới thiệu
văn hóa ASEAN với người dân Nga.

chiến lược quảng bá du lịch trên các phương tiện truyền thông đại chúng đặc biệt trên
Internet, đã và đang thu hút ngày càng nhiều du khách ở Nga.
Philippin đầu năm 2006 đưa ra thông báo về số lượng du khách tăng đột biến vào Philippin
năm 2005 ( tăng gấp 3 lần từ hơn 3000 khách năm 2004 lên hơn 10.000 năm 2005). Đầu năm
2006 Philippin đã tham gia vào hoạt động “SpaandHealthMoscow 2005” và
“LeisureFairMoscow 2005” tại Moscow nhờ đó có cơ hội quảng bá cho ngành du
lichPhilippin đến tất cả nước Nga rộng lớn.
Trong số các nước thành viên của ASEAN, Việt Nam là nước có quan hệ văn hóa với Nga
khá phát triển đây cũng là điều kiện tốt để phát triển quan hệ du lịch. Việt Nam và Nga đã ký
Hiệp định Hợp tác Du lịch ngày 19/11/1997 kể từ đó Việt Nam trở thành điểm đến cho khách
du lịch Nga. Khoảng 12.500 du khách Nga đến Việt Nam năm 2004, tăng 42% so với năm
2003, năm 2005 con số này là 23.800 và trong 8 tháng đầu năm 2006 số lượng du khách Nga
tới Việt Nam đã là 19.000( số liệu của bộ ngoại giao Việt Nam).
Hiện nay các nước ASEAN đang nỗ lực đưa ra các sáng kiến nhằm thúc đẩy sự phát triển của
ngành du lịch, đặc biệt chú ý tới các khách hàng mới và đầy tiềm năng như Nga - hiện đang
được xếp thứ mười thế giới về số lượng dân đi du lịch hàng năm.
Trong xu thế gia tăng mạnh mẽ khách du lịch trên thế giới trong đó có cả Nga và ASEAN
ngành du lịch của Nga và ASEAN cho thấy tiềm năng hợp tác rất lớn và hứa hẹn khả năng
sinh lời cao cho các nhà đầu tư và hoạt động du lịch của cả 2 bên. Vì vậy Nga và ASEAN đã
ký Hiệp định Hợp tác văn hóa ASEAN-Nga Tại Hội nghị Cấp cao ASEAN – Nga lần thứ 2
ngày 30/10/2010.
1.3 Tổng quát mối quan hệ Nga – ASEAN trong thời gian qua

18


Kể từ nửa cuối thập kỷ 1990 mối quan hệ Nga – ASEAN mới được chú ý phát triển cho đến
nay theo đánh giá của nhiều chuyên gia cũng như các nhà quản lý, quan hệ Nga – ASEAN
vẫn chưa xứng tầm của hai bên trên tất cả các lĩnh vực từ quan hệ chính trị an ninh đến kinh
tế và văn hóa xã hội. Nhưng quan hệ Nga – ASEAN đang ngày càng phát triển mạnh và đạt

mạnh của cả hai bên, chưa có sự hợp tác toàn diện với Nga lĩnh vực năng lượng và vũ khí vẫn
là thế mạnh để thâm nhập khu vực Đông Nam Á. Đầu tư của Nga cũng chỉ tập chung chủ yếu
ở một số lĩnh vực về năng lượng như dầu khí.
Quan hệ của Nga mới chỉ tập trung vào một số nước ASEAN như với Singapo, Việt Nam,
Thái Lan, Malayxia, Indonesia và một số có quan hệ ít hơn như là Philippin còn những nước
như Lào, Campuchia, Mianma hay Bruney, quan hệ kinh tế với Nga không đáng kể.
Về các mặt khác: như lĩnh vực hợp tác khoa học công nghệ, văn hóa giáo dục Nga – ASEAN
còn rất hạn chế. Các ý tưởng mới hình thành, các hành động đang ở bước đầu của sự thử

19


nghiệm. Hợp tác khoa học công nghệ còn quá nghèo nàn so với tiềm năng khoa học công
nghệ dồi dào của Nga và nhu cầu lớn của các nước ASEAN. Quan hệ về văn hóa, xã hội Nga
– ASEAN bị cản trở rất nhiều vì người dân các nước ASEAN hiểu biết rất hạn chế về nước
Nga và ngược lại người dân Nga cũng biết ít về các nước Đông Nam Á.
Một đặc điểm nổi trội trong quan hệ Nga – ASEAN là các quan hệ song phương trong khi
hợp tác đa phương trong khuôn khổ ASEAN mới đạt được những bước đi ban đầu. Khởi sắc
sớm và phát triển tương đối hoàn chỉnh là quan hệ Nga – Thái Lan. Hiện nay hai bên đã xúc
tiến xây dựng các liên doanh mới trên lĩnh vực vận tải, du lịch, công nghiệp giấy, hóa chất,
khai thác đá quý… Đặc biệt hợp tác Nga – Thái trong lĩnh vực kỹ thuật tên lửa và vũ trụ diễn
ra khả quan. Quan hệ Nga – Việt cũng khá nổi bật, Nga có quan hệ khá chặt chẽ với Việt
Nam và đã từng có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của Việt Nam và đã từng có vai trò
quan trọng đối với sự phát triển của Việt Nam và quan hệ truyền thống này tạo thuận lợi
không nhỏ trong việc thúc đẩy quan hệ song phương Việt Nam – Liên Bang Nga. Tuy nhiên
quan hệ này vẫn phát triển chậm không thỏa đáng so với nền tảng đã có.
III.
Quan hệ Nga – ASEAN trong bối cảnh thời đại mới
1.1 Triển vọng trong mối quan hệ Nga- ASEAN dựa trên một số lĩnh vực
Đài Tiếng nói nước Nga ngày 25/12 có bài bình luận về mối quan hệ giữa Nga và ASEAN,

b. Phát triển về kinh tế
Trong 10 năm tới Nga và ASEAN sẽ phát triển theo chiều sâu với sự tăng dần thị phần hàng
hóa có giá trị tăng cao và các công nghệ phức tạp hơn. Sự thay đổi rộng lớn và đa dạng của
xuất khẩu sẽ cuốn hút cả hai phía, xong các đặc tính về chất lượng sẽ khác nhau. Các nước
ASEAN rõ ràng tập trung vào kỹ thuật đa dạng của cuộc sống hàng ngày, công nghệ thông
tin, các sản phẩm công nghiệp, một số dạng sản phẩm kỹ thuật máy và công cụ sản xuất công
nghiệp. Còn nước Nga phù hợp với sự chuyên môn hóa đã có, tập trung vào ngành công
nghiệp hàng không và vũ trụ, thiết bị luyện kim, năng lượng thủy nhiệt điện, năng lượng
nguyên tử, các dạng khác của chế tạo máy hạng nặng và giao thông, công nghệ sinh học, các
vật liệu mới.
Nga và ASEAN đã và đang xây dựng các chương trình phát triển chung các khuôn khổ hợp
tác chặt chẽ hơn và đồng thời Nga cũng đang tìm kiếm hợp tác song phương với từng thành
viên ASEAN. Trong khuôn khổ hội nghị thượng đỉnh 2005 hai bên đã ký Hiệp định Hợp tác
Kinh tế và phát triển, đây được xem là nền tảng của chương trình hợp tác toàn diện 10 năm
giữa Nga và ASEAN.
c. Phát triển về văn hóa, khoa học và giáo dục
Trong hội nghị thượng đỉnh Nga – ASEAN tại KualaLumpur hai bên đã thông qua chương
trình hành động toàn diện nhằm thúc đẩy hợp tác Nga – ASEAN giai đoạn 2005 – 2015.
Chương trình này nhằm thực hiện các mục tiêu đã đề ra giữa chính phủ Nga và chính phủ các
nước ASEAN tăng cường hợp tác trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Trong đó, lĩnh vực trao đổi
văn hóa, khoa học nằm trong nội dung hợp tác thứ tư gọi chung là hợp tác chức năng.
Nga và ASEAN đã nhấn mạnh việc mở rộng quan hệ về nhân văn và tăng cường giao lưu trên
phạm vi địa phương và khu vực. Với mục đích này, Nga và ASEAN đã tính đến việc xây
dựng cộng đồng văn hóa xã hội ASEAN và không gian thống nhất về du lịch ASEAN và sẽ
nghiên cứu, thực hiện các chương trình trao đổi văn hóa giáo dục, thể thao, các chương trình
trao đổi khác nhằm củng cố không khí hiểu biết tin tưởng lẫn nhau giữa 2 bên.
Thêm vào đó, trong thời gian tới để phát triển kinh tế Nga cần đa dạng hóa các mối quan hệ,
trước hết là các sản phẩm khoa học, chế tạo máy, dịch vụ viễn thông, hàng không vũ trụ. Các
nhà khoa học Nga cũng cho rằng thị trường ASEAN có tiềm năng hơn so với các nước phát
triển vì các mặt hàng xuất khẩu của Nga đặc biệt là chế tạo máy đã bước đầu trở lên quen

được xác định khá chi tiết trong Chương trình hành động tổng thế.Giới thiệu công nghệ của
Nga và kinh nghiệm giám sát việc xử lý môi trường và công nghệ gây nguy hiểm và phát
triển phần mềm dành cho việc đưa ra các quyết định về ứng đối với thảm họa.
Một vấn đề khác cũng được quan tâm như là một trong những hợp tác an ninh Nga – ASEAN
là đảm bảo an ninh liên quan đến quá trình di cư quốc tế đặc biệt là việc đảm bảo an toàn cho
các cư dân và khách du lịch của mỗi bên đang hoạt động và sinh sống trên lãnh thổ của nhau.
Hai bên cũng xem xét việc tổ chức cuộc gặp thượng đỉnh Nga – ASEAN lần tiếp theo sau lần
thứ 2 được tổ chức vào 30/10/2010 để hoàn thiện hơn quan hệ Nga ASAEN và tạo thêm một
nấc thang nữa cho quan hệ hai bên.
b. Đẩy mạnh hợp tác trong lĩnh vực thương mại và đầu tư.
Hợp tác về lĩnh vực thương mại và đầu tư giữa Nga và ASEAN vẫn còn chưa tương xứng vậy
nên Nga và ASEAN cần sớm nghiên cứu một Hiệp định thương mại tự do Nga – ASEAN đây
là một hướng ưu tiên và giải pháp hàng đầu để thúc đẩy quan hệ kinh tế giữa hai bên về cơ
bản hiệp định này bao gồm cả thương mại hàng hóa và thương mại dịch vụ tuy nhiên cần xác
định những danh mục ưu tiên tự do hóa phù hợp với đặc điểm kinh tế của mỗi bên.
Đa dạng hóa những hàng hóa và dịch vụ trong thương mại đôi bên, trước hết là xuất nhập
khẩu những sản phẩm lợi nhuận cao và có sức cạnh tranh về giá cả. Tăng khối lượng cùng
với tăng tỷ phần hàng hóa có lợi nhuận và kỹ thuật cao trong thương mại song phương.
Thúc đẩy hợp tác ở cấp động doanh nghiệp, ngành và địa phương của các nước ASEAN và
Nga. Sự tham gia của các khu vực, các chủ thể kinh tế, trong đó có cả đại diện của những
doanh nghiệp vừa và nhỏ cần được tính đến nhiều hơn và đòi hỏi phải thành lập một hệ thống
thông tin rõ ràng và tin cậy về những điều kiện kinh tế tài chính của các chủ thể ở Nga và các
nước ASEAN.
Một trong những hạn chế trong quan hệ kinh tế Nga – ASEAN là tốc độ cũng như giá trị đầu
tư hai chiều không cao mà nguyên nhân cơ bản là do thủ tục pháp lý rườm rà, hai bên chưa có

22


cơ chế khuyến khích đầu tư bởi vậy thời gian qua thị trường Nga thiếu sức hấp dẫn đối với

Tập trung cải thiện và phát triển kết cấu hạ tầng giao thông:
Giữa Nga và ASEAN có một khoảng cách địa lý khá lớn cộng thêm tình trạng kém phát triển
kết cấu hạ tầng giao thông đã gây trở ngại lớn cho quan hệ mọi mặt đặc biệt là quan hệ kinh
tế giữa đôi bên.
Phát triển tuyến đường biển từ các cảng của ASEAN đến cảng Vladivostoc của Nga hiện nay
tuyến đường này chủ yếu có các tàu của Hàn Quốc và Nhật Bản hoạt động hàng hóa từ Việt
Nam và các nước ASEAN khác khóa đi vào vùng Viễn Đông của Nga. Song song với phát
triển tuyến đường biển này thì cần nối lại và phát triển tuyến đường sắt Âu – Á nối Nga nới
các nước Đông Nam Á. Vận tải hàng không cũng là một lĩnh vực cần được hai bên quan tâm

23


và phát triển. Hiện nay các chuyến bay và dịch vụ hàng không giữa Nga và ASEAN chưa
phát triển đủ mức cần thiết để thúc đẩy hoạt động thương mại và du lịch phát triển.
Hợp tác năng lượng và an ninh năng lượng:
Nga mặc dù không phải thành viên của tổ chức các nước xuất khẩu dầu lửa (OPEC) nhưng
nước Nga chiếm một vị trí quan trọng trong cung cấp dầu mỏ và khí gas lớn trên thế giới .
Một mặt Nga và ASEAN hợp tác xây dựng các đường cung cấp dầu khí từ phía Đông nước
Nga sang các nước ASEAN mặt khác Nga có thế mạnh về công nghiệp năng lượng như kỹ
thuật xây dựng các nhà máy điện kể cả điện hạt nhân. Rõ ràng, hợp tác năng lượng và an ninh
năng lượng giữa Nga và ASEAN là một trong những hướng hợp tác ưu tiên của Nga trong
những năm đầu thế kỷ XXI.
Thúc đẩy hợp tác khoa học và công nghệ:
Thế giới đang bước vào nền kinh tế tri thức, trong xu hướng đó hợp tác khoa học và công
nghệ là lĩnh vực có nhiều tiềm năng và góp phần thúc đẩy các lĩnh vực hợp tác khác. Ưu tiên
hợp tác trong lĩnh vực này là phối hợp nghiên cứu cơ bản trong những mảng thế mạnh của
Nga như: thăm dò, khai thác dầu khí, năng lượng, hàng không vũ trụ…Cần khuyến khích các
nhóm nghiên cứu chung triển khai ý tưởng và các dự án hợp tác đã được các cấp lãnh đạo của
đôi bên thông qua.

tác chiến lược” khẳng định quan hệ hữu nghị truyền thống giờ đây được phát triển trên cơ sở
phi tư tưởng hóa.
Với vai trò là điều phối viên, trong những năm qua Việt Nam luôn ủng hộ Nga trong việc
tăng cường quan hệ đối thoại với ASEAN cũng như trong các tổ chức hợp tác khu vực khác.
Năm 2004, khi Việt Nam là chủ nhà của diễn đàn hợp tác Á - Âu (ASEM), Nga thể hiện
nguyện vọng muốn gia nhập tổ chức này và được Việt Nam nhiệt tình ủng hộ. Mặc dù Nga
chưa gia nhập ASEM nhưng đây cũng là tiền đề cơ sở để ý tưởng này sớm trở thành hiện
thực.
Sau hội nghị thượng đỉnh Nga - ASEAN, Việt Nam tiếp tục khẳng định nỗ lực góp phần thúc
đẩy quan hệ Nga – ASEAN, cũng như thực hiện các mục tiêu của tuyên bố chung. Có thể nói,
trong thời gian vừa qua, vai trò của Việt Nam trong quan hệ Nga - ASEAN không ngừng
được nâng cao. Điều này có được xuất phát từ thành công của Việt Nam trong công cuộc đổi
mới và vị thế quốc tế của Việt Nam không ngừng được nâng cao.
Với việc Việt Nam đăng cai và tổ chức thành công Hội nghị cấp cao APEC (2006), trở thành
thành viên không thường trực của hội đồng bảo an Liên Hiệp Quốc (nhiệm kì 2008 - 2009) và
đặc biệt trong năm 2010 với cương vị chủ tịch ASEAN Việt Nam đã đứng ra tổ chức Hội
nghị cấp cao ASEAN với sự tham gia của các đối tác, trong đó có Hội nghị thượng đỉnh Nga
- ASEAN. Có thể nói uy tín của Việt Nam trên thế giới nói chung và trong ASEAN nói riêng
đã tăng lên đáng kể, điều này đồng nghĩa với việc Việt Nam sẽ phát huy tốt hơn vai trò cầu
nối cho quan hệ giữa Nga và ASEAN.
b. Tác động quan hệ Nga - ASEAN tới Việt Nam
Trong nửa cuối thập kỷ 90 thế kỉ XX khi Nga triển khai chiến lược đối ngoại “chim ưng hai
đầu”, tăng cường quan hệ giữa ASEAN nói riêng và Châu Á nói chung thì quan hệ Việt Nga
càng bắt đầu khởi sắc, Việt Nam trở thành đối tác hàng đầu của Nga trong khu vực.
Trong hơn 10 năm qua Việt Nam và Nga đã thường xuyên trao đổi các chuyến thăm của
Tổng thống, Chủ tịch nước và các cấp lãnh đạo chính phủ, Quốc hội, đặc biệt là Tổng thống
V.Putin đã hai lần sang thăm Việt Nam (2001 và 2006) và dự kiến Tổng thống đương nhiệm
D.Medvedew sẽ thăm Việt Nam trong năm 2010 đã chứng tỏ Nga rất coi trọng mối quan hệ
hữu nghị và tin cậy với Việt Nam.
Sự ấm lên trong quan hệ chính trị, ngoại giao đã tác động tích cực đến quan hệ kinh tế Việt Nga trong thời gian qua, cụ thể là kim ngạch thương mại hai chiều không ngừng gia tăng. Có


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status