Lý luận chung và ứng dụng phương pháp xác định giá trị rủi ro trong phân tích và quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh - Pdf 34

Tính cấp thiết của đề tài.
Ngày nay, sự trao đổi hàng hóa giữa các nước ngày càng đóng một
vai trò quan trọng trong nền kinh tế. Với một nước đang đang phát triển
như nước ta hiện nay nó là một thành phần không thể thiếu và cần được
quan tâm. Hơn thế nữa chính thức là thành viên thứ 150 của WTO, đó
vừa là lợi thế cũng là thách thức của các doanh nghiệp Việt Nam trong
quá trình hội nhập trên trường quốc tế, vì thế các doanh nghiệp Việt
Nam cầm phải cố gắng hơn nữa để có thể hội nhập với thế giới.
Trong kinh doanh, rủi ro luôn đồng hành cùng lợi nhuận, mọi quyết
định trong kinh doanh đều đưa ra trong điều kiện có rủi ro. Chính vì
vậy, một doanh nghiệp có thành công hay không nhờ một phần rất lớn
của khả năng quản trị để doanh nghiệp có thể ngăn ngừa và hạn chế rủi
ro. Và nếu biết cách quản trị rủi ro thì đó là một thế mạnh của các doanh
nghiệp.
Mặc dù không triệt tiêu hết được rủi ro nhưng ngày nay, nhờ có sự tiến
bộ của khoa học kỹ thuật, các công cụ toán học cho phép con người có
thể chủ động phòng ngừa, giảm thiểu, hay hoán đổi rủi ro, chủ động
kiểm soát rủi ro. Đó là lý do cho sự ra đời của hàng loạt các hệ thống và
phương pháp định giá rủi ro. Một trong các phương pháp định giá rủi ro
đáng tin cậy là phương pháp xác định giá trị rủi ro (Value at Risk –
VaR).
Vì những lý do nêu trên cùng với những kiến thức tích lũy được trong
thời gian còn học ở lớp Toán Tài Chính, khoa Toán Kinh Tế thuộc
trường Đại học Kinh Tế Quốc Dân, em chọn đề tài:
“Lý luận chung về rủi ro , ứng dụng phương pháp xác định giá trị rủi ro
VaR trong phân tích và quản trị rủi ro trong hoạt động kinh doanh xuất
nhập khẩu.”
1.

1


kinh doanh của doanh nghiệp,tác động xấu đến sự tồn tại và
phát triển của doanh nghiệp”…
• Theo trường phái trung hòa:
- “ rủi ro là sự bất trắc gây thiệt hại, sự bất trắc cụ thể liên quan
đến một biến cố không mong đợi” (Alan Willet)
- “ rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường đươc” (Frank Knight)
- “ rủi ro là một tình trạng trong đó các biến cố xảy ra trong
tương lai có thể xác định được” (Marilu Carty)
- Như vậy đa số theo trường phái trung hòa đều cho rằng “ rủi ro
là sự bất trắc có thể đo lường được. Rủi ro vừa mang tính tích
cực vừa mang tính tiêu cực. Rủi ro vừa mang đến những mất
mát, tổn thất, nguy hiểm cho con người…nhưng cũng mang đến
những cơ hội”
1.2.
Khái niệm rủi ro trong hoạt động kinh doanh xuất nhập
khẩu.
Hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu là hoạt động luôn biến
động, chứa đựng nhiều rủi ro và mạo hiểm. Do có sự tách
3


1.3.

biệt về môi trường địa lý, sự khác biệt về môi trường văn hóa
–xã hội, phong tục tập quán cũng như môi trường chính trị
giữa các quốc gia nên rủi ro trong kinh doanh xuất nập khẩu
rất đa dạng và phức tạp. Về cơ bản rủi ro trong kinh doanh
xuất nhập khẩu được hiểu như sau: “ đó là sự bất trắc có thể
đo lườn được, nó có thể tạo ra những tổn thất, mất mát ,
thiệt hại trong kinh doanh hoặc làm mất đi những cơ hội

kiểm soát những rủi ro có thể xảy ra với chuỗi cung ứng của mình.
Rủi ro về sự biến động của giá thu mua
Giá thu mua hàng hóa phụ thuộc vào nhiều yếu tố, giá thu mua có
thể biến động lên xuống, đặc biệt là trong nền kinh tế hiện nay thì
sự biến động càng thường xuyên hơn và bất thường hơn. Sự biến
động này đã khiến cho cả người trồng và người thu mua để kinh
doanh đều gặp khó. Đặc biệt trong ngành nông nghiệp, điều này lại
càng thường xuyên xảy ra. Điệp khúc “mất mùa, được giá” hoặc
“được mùa, mất giá” lặp đi lặp lại với nhiều mặt hàng nông sản.
Ngoài ra, giá thu mua phải phụ thuộc vào nguồn hàng, phụ thuộc
vào năng suất, sản lượng và mức độ cung ứng của ngành hàng này,
sản phẩm này trên thị trường. Nếu cung không đủ cầu thì tất yếu
giá cả sẽ tăng lên, còn cung vượt quá cầu thì giá sẽ giảm xuống.
Sự biến động giá thu mua thất thường, đột ngột mang đến nhiều
rủi ro cho doanh nghiệp.
Đối với các doanh nghiệp xuất khẩu, việc giá thu mua biến động là
một trong những rủi ro dễ gặp phải và gây ra những tác động vô
cùng xấu. Các doanh nghiệp xuất khẩu thường ký những hợp đồng
với đối tác với giá trị vô cùng lớn, trong một khoảng thời gian dài
và rất dài. Giá trong thời điểm doanh nghiệp ký hợp đồng xuất
khẩu với đối tác và giá khi thu mua để xuất khẩu thường biến động
rất nhiều, đặc biệt là trong giai đoạn nền kinh tế có những cơn biến
động giá khủng khiếp như hiện nay, giá tăng vùn vụt mỗi ngày và
xuống rất thất thường, dường như khó lòng kiểm soát được.
5






không tìm được nguồn cung nào khác với giá phù hợp.
Rủi ro về chất lượng đầu vào
- Chất lượng đầu vào sẽ quyết định chất lượng sản phẩm đầu ra
và sẽ quyết định khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp XNK.
Đây là những bộ phận cấu thành lên sản phẩm, chất lượng sản
6




phẩm, quyết định sự sống còn của sản phẩm. Nếu chất lượng
đầu vào không được đảm bảo có thể dẫn đến chất lượng đầu ra
của phẩm đầu ra mà không đảm bảo theo quy định. Điều này
dẫn doanh nghiệp đến những nguy cơ rủi ro như khách hàng
không chấp nhận sản phẩm, nguy cơ bị hủy hợp đồng, mất hợp
đồng, bị phạt hợp đồng là rất dễ xảy ra. Đặc biệt, doanh nghiệp
có thể bị mất uy tín của doanh nghiệp và những đối tác làm ăn
đáng tin cậy và ảnh hưởng tiêu cực đến tương lai của doanh
nghiệp. Ngoài ra, doanh nghiệp có thể gặp rủi ro với các tổ chức
kiểm nghiệm chất lượng của nhà nước và chính phủ khi đầu vào
và đầu ra không đạt yêu cầu, tiêu chuẩn chất lượng theo quy
định.
1.3.2. Rủi ro về cầu (thị trường)
Rủi ro về sự biến động của giá xuất khẩu
- Giá xuất khẩu là yếu tố quan trọng quyết định lợi nhuận của
doanh nghiệp kinh doanh XNK. Bài toán giá là ẩn số khiến
nhiều doanh nghiệp băn khoăn khi thỏa thuận giá xuất khẩu với
đối tác. Trong giai đoạn hiện nay, nền kinh tế thế giới đang hồi
phục nên giá của nhiều mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam đã
tăng cao hơn so với trước. Nhiều doanh nghiệp ngay trong quý

chủ yếu được thực hiện qua ngân hàng, tuy nhiên vẫn còn nhiều
rủi ro tiềm ẩn trong quá trình thanh toán ví dụ: ngân hàng không
đảm bảo khả năng thanh toán, Ngân hàng không chấp nhận
thanh toán, khách hàng không thanh toán trả cho doanh nghiệp,
hoặc thanh toán không đúng thời hạn, thanh toán không đủ giá
trị của hợp đồng.
Nhiều doanh nghiệp Việt Nam thể hiện sự thiếu kinh nghiệm
trong thanh toán quốc tế ở việc không xem xét kỹ hợp đồng
XNK, khi thanh toán không xem kỹ các chứng từ L/C, chưa chú
trọng đến các chi tiết có tính nghiệp vụ trong thanh toán quốc tế
khi tiến hành thương thảo hợp đồng với các đối tác nước ngoài.
Doanh nghiệp Việt Nam còn thiếu rất nhiều kinh nghiệm giao
dịch trên thị trường quốc tế, thường không xem xét kỹ hoặc
không hiểu hết những rủi ro có thể xảy ra từ những điểm chưa
rõ ràng trong hợp đồng XNK.
Rủi ro trong việc giao nhận
Trong việc giao nhận hàng hóa quốc tế, hàng hóa được vận
chuyển qua đường biển, đường không, đường sắt, đường bộ hay
đa phương thức. Hình thức đường biển được sử dụng rất phổ
biến, đặc biệt là ở Việt Nam. Những hình thức vận chuyển quốc
tế thường phụ thuộc rất lớn vào điều kiện tự nhiên, nên khả
năng gặp phải rủi ro là rất cao.
Rủi ro giao nhận cũng có thể xuất phát từ các đối tác. Rất nhiều
đối tác, khách hàng trì hoãn việc nhận hàng vì muốn ép giá hoặc
cố tình không nhận hàng để phá hợp đồng khi mà họ thấy rằng
8



-

nguồn vốn tín dụng lại chưa đáp ứng đủ nhu cầu của các
doanh nghiệp.
- Rủi ro do không có khả năng tiếp cận nguồn vốn tín dụng có
thể dẫn đến hạn chế khả năng mở rộng sản xuất, hạn chế về
khả năng đầu tư đổi mới công nghệ, mở rộng thị trường, hạn
chế về khả năng tiếp cận thông tin của doanh nghiệp, từ đó làm
nảy sinh rất nhiều rủi ro trong quá trình hoạt động sản
xuất kinh doanh. Ngoài ra, không tiếp cận được nguồn vốn tín
dụng kịp thời sẽ có thể buộc các doanh nghiệp xuất khẩu với giá
rẻ do không có vốn để thu mua lưu trữ chờ lên giá. Rủi ro do
thiếu vốn còn làm chậm quá trình thực hiện hợp đồng, dẫn đến
giao hàng chậm, từ đó dẫn tới không đủ sức cạnh tranh với đối
thủ và mất thị phần.
Rủi ro về lãi suất tín dụng
- Rủi ro lãi suất là loại rủi ro xuất hiện khi có sự thay đổi của lãi
suất thị trường hoặc của những yếu tố có liên quan đến
lãi suất dẫn đến tổn thất về tài sản hoặc làm giảm thu nhập của
ngân hàng. Nguyên nhân rủi ro lãi suất chủ yếu mà các tổ chức,
doanh nghiệp phải đối diện là rủi ro do có độ chênh lệch lãi suất,
rủi ro về biên độ lãi suất tín dụng, rủi ro lãi suất cơ bản và rủi ro
quyền chọn. Hầu như các doanh nghiệp không có đủ tiềm lực tài
chính hay nguồn vốn tự huy động để hoạt động kinh doanh mà
chủ yếu là vay vốn từ các tổ chức tín dụng hoặc thậm chí phải
vay từ các cá nhân. Các khoản vay này thường chịu lãi suất cao,
đòi hỏi phải có tài sản thế chấp. Với những rủi ro biến động lãi
1.3.3.





là rủi ro phát sinh thường xuyên và liên tiếp.
Rủi ro giao dịch
Rủi ro giao dịch là một vấn đề mà các doanh nghiệp luôn phải
đối đầu trong kinh doanh quốc tế. Rủi ro giao dịch xảy ra khi
doanh nghiệp có dòng tiền mặt ràng buộc bằng hợp đồng được
định giá bằng ngoại tệ. Đây là các rủi ro phát sinh trong quá
trình giao dịch nhằm đàm phán, ký kết hợp đồng, tổ chức thực
hiện hợp đồng và thanh toán hợp đồng. Ngoài ra, không có đầy
đủ thông tin về đối tác có thể dẫn đến các giao dịch với các đối
tác không đáng tin cậy, không đủ năng lực thực hiện hợp đồng..
Hơn nữa, trong hoạt động kinh doanh XNK phần lớn các giao
11






dịch là các giao dịch quốc tế, nên các doanh nghiệp sẽ gặp
nhiều rủi ro khi trình độ ngoại ngữ của người phiên dịch yếu,
lúng túng trong quá trình trao đổi, trình bày với đối tác, gây ra
sự hiểu sai, hiểu nhầm giữa hai bên gây ảnh hưởng tiêu cực đến
kết quả kinh doanh.
Rủi ro trong quá trình thực hiện hợp đồng
- Rủi ro có thể xảy ra bất cứ lúc nào trong các khâu của quá trình
thực hiện hợp đồng: làm thủ tục XNK, chuẩn bị hàng hóa, thuế
phương tiện vận chuyển, mua bảo hiểm, giao nhận hàng hóa,
lập bộ chứng từ thanh toán, kiểm toán, kiểm tra giám định hàng
hóa…Với đối tác không đủ uy tín hay không đủ năng lực để
thực hiện hợp đồng thì rủi ro này xảy ra rất thường xuyên,

biển, lâm tặc,…Trong khi đó, quá trình vận chuyển hàng hóa
hay lưu kho, lưu bãi ở cảng, tàu, không phải lúc nào doanh
nghiệp cũng có thể kiểm soát được mà do hãng vận tải, do bên
Hải Quan phụ trách, điều đó đồng nghĩa việc doanh nghiệp
hoàn toàn có thể mất mát hàng hóa khi mà hãng vận chuyển
không đáng tin cậy. Đối với những loại hàng hóa có thời hạn sử
dụng ngắn và yêu cầu cách bảo quản phức tạp thì việc vận
chuyển trong thời gian dài, quãng đường xa, bằng nhiều phương
tiện,..sẽ khiến cho hàng hóa dễ bị hư hỏng, có thể là hư hỏng
nhẹ, hư hỏng một phần nhưng nhiều trường hợp là hư hỏng
hoàn toàn và doanh nghiệp là người phải chịu thiệt hại.

Rủi ro từ sự biến động của tỷ giá hối đoái
- Trong kinh doanh thương mại quốc tế thì điều bắt buộc là hợp đồng
được ký kết và thanh toán bằng ngoại tệ. Giá trị hợp đồng thường là
lớn. Chính vì vậy tỷ giá hối đoái có ảnh hưởng vô cùng lớn tới hoạt
động kinh doanh và doanh thu của doanh nghiệp. Rủi ro tỷ giá là rủi
ro phát sinh do sự biến động tỷ giá làm ảnh hưởng đến giá trị kỳ vọng
trong tương lai. Những hoạt động mà dòng tiền thu vào và chi ra khác
nhau đều chứa đựng nguy cơ rủi ro tỷ giá. Về cơ bản, rủi ro tỷ giá
phát sinh trong ba hoạt động chủ yếu của doanh nghiệp là hoạt động
đầu tư, hoạt động XNK và hoạt động tín dụng. Rủi ro tỷ giá trong
XNK là thường xuyên gặp phải và đáng lo ngại nhất đối với các công
ty hoạt động XNK. Sự thay đổi tỷ giá khiến giá trị kỳ vọng của các


13


khoản thu hoặc chi trong tương lai bị thay đổi khiến cho hoạt động

14


1.4.2. Nguyên nhân bất khả kháng
Nguyên nhân bất khả kháng là những nguyên nhân mà bản thân
các doanh nghiệp không thể lường trước được, không thể vượt qua
được và do khách quan gây ra. Ví dụ như bão lụt nặng nề làm ảnh
hưởng nghiêm trọng đến sản lượng nông nghiệp, chất lượng nông
sản XK, nhu cầu NK… Một minh chứng rõ ràng là trong đợt dịch
cúm gia cầm, giá gia cầm xuống thấp quá mức dự đoán của các
doanh nghiệp. Những bất ổn về chính trị, luật pháp, mối quan hệ
bang giao giữa các quốc gia cũng là một nguyên nhân tiềm ẩn và
không thể lường trước được. Ví dụ, một lệnh cấm NK sản phẩm từ
một quốc gia khác vì những nguyên nhân chính trị (Nhật Bản tạm
dừng không nhập thịt bò từ Mỹ) sẽ gây ảnh hưởng nặng nề đến
hàng loạt các doanh nghiệp Mỹ đang KD trong lĩnh vực này.
1.1.5.3. Nguyên nhân chủ quan
* Từ phía các cấp quản lý
Tham gia vào hoạt động KD XNK, các doanh nghiệp chịu sự quản
lý trực tiếp từ các bộ ngành với rất nhiều cơ chế, chính sách, các
văn bản luật và dưới luật. Hơn nữa, chủ thể KD XNK có thể là
DNNN, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn ĐTNN,… do
đó, cách tiếp cận và vận dụng các chủ trương, chính sách cũng
khác nhau và mức độ được hưởng ưu đãi trên thực tế cũng khác
nhau. Chính vì vậy, một cơ chế, chính sách quản lý, điều hành hoạt
động XNK thống nhất, minh bạch và công bằng là hết sức cần
thiết. Nếu không, các doanh nghiệp sẽ phải gánh chịu những rủi ro
không đáng có và khó tránh khỏi, kể cả khi đã lường trước được.
* Từ bản thân doanh nghiệp
Có rất nhiều nguyên nhân nội tại từ bản thân doanh nghiệp KD

năm 1990. Thay vì ước lượng độ bất định của giá một cách định tính, ví
dụ cần dự phòng 8% giá trị thị trường cho một danh mục cổ phiếu,
người ta muốn tính ra một con số cụ thể đặc trung cho rủi ro có thể xảy
ra của danh mục đó, cập nhật liên tục nhằm tối ưu hoá dòng tiền. Tương
tự như vậy cho tất cả các danh mục chứng khoán khác như trái phiếu,
ngoại tệ, giấy tờ có giá...Có rất nhiều mô hình đo lường rủi ro, nhưng
được sử dụng phổ biến vượt xa những mô hình khác là VaR - viết tắt
của Value at Risk - được xây dựng trên những cơ sở lý thuyết xác suất
và thống kê từ nhiều thế kỷ, phát triển và phổ biến đầu những năm 1990.
Và từ năm 1994, với sự ra đời của Risk Metric, một gói sản phẩm ứng
dụng VaR mang thương hiệu của một công ty tách ra từ JP MOrgan
Chase, VaR đã được áp dụng rộng rãi và trở thành một tiêu chuẩn trong
việc đo lường và giám sát rủi ro tài chính, đặc biệt là rủi ro thị trường,
trên toàn thế giới.
Điểm mới và khác biệt giữa mô hình VaR với các mô hình quản lý
rủi ro trước đó chính là khả năng tổng hợp và tích hợp nhiều loại rủi ro
của hệ thống này.
Tuy VaR là chuẩn mực mới trong đo lường và giám sát rủi ro thị trường
nhưng nó vẫn bao hàm những hạn chế nhất định :
17


- Hạn chế đầu tiên cũng là hạn chế lớn nhất của VaR, đó là giả định các
yếu tố của thị trường không thay đổi nhiều trong khoảng thời gian xác
định VaR. Đây là một hạn chế rất lớn, và trong năm 2007-2008 đã dẫn
đến sự phá sản của một loạt ngân hàng đầu tư trên thế giới, do điều kiện
thị trường có những biến động đột ngột vượt xa so với quá khứ.
- Hạn chế thứ hai, đó là hiệu ứng " đuôi chuông ". Như chúng ta đã biết,
do tuân theo quy luật phân phối chuẩn, hàm mật độ phân phối của danh
mục có hình dạng quả chuông, và những mức tổn thất lớn nhất, ngoài dự

rủi ro hợp lý. Ví dụ, nếu doanh nghiệp tính được VaR hàng ngày của
một danh mục đầu tư là khoảng 500 triệu VND với mức tín cậy 95 % thì
điều đó có nghĩa là xác suất màdoanh nghiệp bị thiệt hại 500 triệu VND
là 5%.
3. VaR – công cụ quản lý rủi ro chủ động:
Quản lý tài chính thực chất là vấn đề cân đối giữa lợi nhuận và rủi
ro. Những chỉ số điều chỉnh theo rủi ro dựa trên VaR đã trở thành những
chỉ số mang tính quyết định trong hoạt động quản lý rủi ro tài chính.
4. VaR – giá trị rủi ro của danh mục đầu tư:
Một danh mục đầu tư bao gồm nhiều loại tài sản khác nhau và tỷ
trọng của mỗi tài sản trong danh mục được thể hiện qua giá trị của tài
sản đó so với giá trị của toàn bộ tài sản trong danh mục đầu tư.
Ký hiệu Rp,t+1 là lợi suất của danh mục đầu tư p, trong kỳ đánh giá
(t,t+1)
R p ,t +1 =

N

∑w R
i =1

i

i ,t +1

(1.22)

N: số tài sản trong danh mục
Ri,t+1: lợi suất của tài sản i
N


i

(1.25)

N

N

V ( R p ) = σ 2p = ∑ wi2σ i2 + 2∑
i =1

N

∑w w σ

i =1 j =1, j ≠ i

i

j

ij

(1.26)
Phương trình (1.26) chỉ ra rằng rủi ro- lợi suất của danh mục đầu tư

(σ )
2


K
K
K
K

σ 1N 
σ 2N ÷
÷
K ÷
÷
σ NN 

,

 w1 

÷
w
w=  2 ÷
L ÷

÷
 wN 

Để có thể xác định VaR chúng ta cũng phải giả định về hàm phân
phối của giá trị mark-to-market của danh mục đầu tư. Trong trường hợp
đơn giản nhất, khi mà các giá trị mark-to-market của tất cả các chứng
khoán cấu thành đều có phân phối chuẩn, thì khi đó, lợi suất của danh
mục đầu tư, cũng sẽ có phân phối chuẩn. Hoàn toàn tương tự như trong
trường hợp xác định VaR của một công cụ , chúng ta sẽ quy đổi độ tin


=
(1.29)
Tương tự, VaR của từng tài sản trong danh mục đầu tư được xác
định:
VaRi = α iσ i Vi

α iσ i w i V

=
(1.30)
Sở dĩ lấy giá trị tuyệt đối vì trọng số wi có thể âm (trong trường hợp
thực hiện chiến lược bán phòng hộ) nhưng giá trị rủi ro luôn mang dấu
dương.
21


Trong lý thuyết và thực tế, người ta hay sử dụng một đại lượng
tương đối biểu thị tương quan giữa hai tài sản bất kỳ trong danh mục
đầu tư, đó là hệ số tương quan , được định nghĩa như sau:
ρ12 =

σ 12
σ 1σ 2

(1.31)

±

Khi ρ12 = 1 ta nói hai tài sản tương quan với nhau tuyệt đối. Khi ρ 12


là hệ số tương quan

σ 2p = w12σ 12 + w 22σ 22 + 2ω1ω2 ρ12σ 1σ 2
VaR p = ασ pV p

Nhận thấy nếu

ρ12

=

α ω12σ 12 + ω22σ 22 + 2ω1ω2 ρ12σ 1σ 2

(1.34)
(1.35)

=1 thì :
VaR1 + VaR2 ≤ VaR1 + VaR2

VaRp =
(1.36)
Rủi ro của danh mục này bằng tổng rủi ro của các tài sản thành
phần nếu các tài sản thành phần này tương quan tuyệt đối với nhau.
Trong thực tế hiếm khi các tài sản tương quan với nhau ở mức tuyệt
đối, tức ρ = 1. Trong trường hợp như thế, rủi ro giảm đi luôn đạt được
thông qua danh mục đầu tư gồm nhiều tài sản thành phần.
22



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status