ĐỀ TÀI
“NGHIÊN CỨU MÔI TRƯỜNG VĨ MÔ ĐỂ XÂY DỰNG DỰ ÁN MỞ
HỆ THỐNG BÁN SỮA TỰ ĐỘNG TRÊN ĐỊA BÀN TRUNG TÂM THÀNH
PHỐ HÀ NỘI”
Bất kỳ dự án nào muốn triển khai thành công phụ thuộc vào rất nhiều yếu
tố:bao gồm các yếu tố khỏch quan từ môi trường chớnh trị kinh tế xó hội và các
yếu tố chủ quan từ khâu lập dự án lên kế hoạch triển khai. Để chủ động khi lập dự
án cần nghiên cứu kỹ lưỡng môi trường kinh tế vĩ mô. Vì vậy khi lập dự án mở hệ
thống bán sữa tự động trên địa bàn trung tâm thành phố Hà Nội nhóm chúng tôi
nghiên cứu kỹ càng các yếu tố môi trường chính trị luật pháp cũng như văn hoá xã
hội của người dân Hà Nội để dự án triển khai một cách thuận lợi nhất.
I.MÔI TRƯỜNG CHÍNH TRỊ -LUẬT PHÁP HÀ NỘI
1.Về chính trị: là thủ đô của đất nước-là trung tâm kính tế-chính trị song
tình hình chính trị của Hà Nội luôn ổn định.
Cách đây tròn 10 năm, ngày 16/7/1999, tại La Paz, thủ đô Bolivia, UNESCO
đã tổ chức trọng thể Lễ trao "Giải thưởng UNESCO-Thành phố vì Hòa bình" năm
1999 cho 5 thành phố thuộc 5 châu lục trên thế giới. Thủ đô Hà Nội là thành phố
duy nhất của khu vực châu Á-Thái Bình Dương vinh dự nhận phần thưởng cao quý
này.
Đây là danh hiệu được bạn bè quốc tế tôn vinh, ghi nhận những đóng góp của Hà
Nội trong cuộc đấu tranh vì hoà bình, cũng như trong sự nghiệp phát triển, xây
dựng thành phố phù hợp với những tiêu chí do UNESCO đề ra về bình đẳng trong
cộng đồng, xây dựng đô thị, giữ gìn môi trường sống, thúc đẩy phát triển văn hóa
giáo dục, chăm lo giáo dục công dân và thế hệ trẻ./.
2. Về pháp luật
Trong tồng thể chung, hệ thống luật pháp Việt Nam đã và đang dần hoàn
thiện theo hệ thống luật pháp chung của thê giới. Là một trong những nước đi đầu
theo định hướng Xá Hội Chủ Nghĩa nên luật pháp có những đặc thù riêng để đảm
2. Lãi xuất
Lãi xuất là một nhân tố ảnh hưởng rất lớn đến việc quyết định đầu tư của dự
án chúng ta. Vì nó là cơ sở để xác định chi phí vốn và NPV… Trong nhưng năm
qua biến động lãi xuất nước ta có những biến động rất khó dự báo. Suốt một thời
gian dài trước năm 2008 lãi xuất cơn bản của nước ta ko có nhiều biến đông ( lãi
xuất cơ bản nhà nước là 8%/ năm lãi xuất trần các ngân hàng thương mại ko qua
150% lãi xuất cơ bản 12%/năm). Sang năm 2008 do thực hiện chính tài khóa tiền
tệ thắt chặt ( cắt giảm chi tiêu chính phủ và giảm lượng tiền trong lưu thông). Đẻ
giảm lượng tiền trong lưu thông nhà nước đã phát hành công trái, trái phiếu chính
phủ ra thị trường tài chính. Như một biện pháp rất quan trọng khác là tăng lại xuất
cơn bản. Lãi xuất cơ bản tăng từ 8% lên 10% rồi 12% đỉnh điểm lên tới 14%. Nhu
tình hình lãi xuất hiện năm đã có những thay đồi theo hướng tích cực lãi xuất cơ
bản đã giảm xuống do chính phủ thay đổi chỉnh sách tài khóa tiền tệ và tắc động
của gói kích cầu kinh tế đã có tác động tích cực làm giảm lãi xuất cơ bản xuống
hiện nay lãi xuất cơ bản là 7%/ năm.
3. Tỷ lệ lạm phát
Trong những năm gần đây do chính sách phát triền kinh tế và chính sách tiền
tệ nới lỏng của nước ta trong một thời gian dài từ khi đã làm cho lạm phát nước ta
tăng nhanh trong năm 2007 và 2008. Đến năm 2009 do nhà nước thực hiện nhiều
biện phát nhằm giảm tỷ lệ làm phát đã có hiệu quả rõ rệt nhưng vẫn ở mức cao.
Hiện này nguy cơ lạm phát cao quay trở lại là khá cao do nhà nước đã chuyển từ
chính sách tài khóa tiền tệ từ thắt lưng buộc bụng sang chính sách tài khóa tiền tệ
mở rộng. Chín tháng đầu năm 2009 so cùng kỳ năm trước, chỉ số giá tiêu dùng
tăng 9,44% (tốc độ trượt giá bình quân 1 tháng là 0,48%).
4. Tình hình xuất nhập khẩu
Trong thời gian qua do tình hình kinh tế thế giới suy giảm đã ảnh hưởng ko
nhỏ tới nền kinh tế nước ta( do nền kinh tế nước ta hiện nay có độ mở rất lớn).
Làm tổng mức tiêu thụ hàng hóa nước ta và xuất khẩu không còn giữ được nhịp độ
Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Hà Nội giảm nhiều: So với cùng kỳ năm
trước, số dự án đăng ký bằng 90% (225/250), số vốn đầu tư đăng ký chỉ bằng 9%
(400/4.427), vốn đầu tư thực hiện bằng khoảng 60%.
6. Chính sách tài khóa tiền tệ
Trong thời gian vừa qua chính sách tài khóa mở rộng của nước ta có những
thay đổi tích cự nhằm thích nghi với sự biến đổi của môi trường kinh tế trong nước
và quốc tế. Trước 2008 nước ta theo đuổi chính sách tài khóa tiền tệ nới lỏng nhằm
thúc đẩy phát triền kinh tế trong nước. Như sang năm 2008 do những diễn biến từ
thị trường tài chính Mỹ, thế giới đặc biệt là tình trạng lạm phát cao chỉnh phủ đã
chuyển từ chính sách tài chính nới lỏng sang thắt chặt nhằm thích nghi với sự biến
động môi trường quốc tế và kim chế lạm phát cao ở trong nước. sang năm 2009 do
những biến động từ quốc tế và tình hình kinh tế trong nước chính phủ đã bắt đầu
chuyển sang chính sách tài khóa tiền tệ mở rộng để kích thích phát triền kinh tế
chống lại suy thoái kinh tế trên toàn câu. Cụ thể các gói kích cầu của chính phủ trị
giá 5 tỷ USD đã có tắc động thúc đẩy lại đã tăng trường kinh tế trong nước trước
nguy cơ suy thoái kinh tế toàn cầu, hiện nay chính phủ đang cân nhắc có nên thực
hiện gới kích cầu thư 2.
7. Chính sách kinh tế
Sau năm 1986 nền kinh tế nước ta chuyển từ chế độ tập chung bao cấp sang
chế độ kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự điều tiết của nhà nước.
chính sách kinh tế nước ta đã có nhiều thay đổi cho phù hợp với tình hình kinh tế
quốc tế và trong nước phục vụ mục tiêu phát triền kinh tế. thay vì điều tiết trực
tiếp chính phủ chuyển sang chế độ điều hành gián tiêp thông qua các chính sách
kinh tế, chính sách tài khóa tiền tệ vv. Hệ thống luật phát nước ta đã có sự thay đổi
rất lớn từ điều hành tập chung bao cấp với 2 thành phần kinh tế được thừa nhận là
tập thể và kinh tế nhà nước sang chế động kinh tế thị trường với 5 thành phần kinh
tế đc thừa nhận.
Như vậy:đánh giá môi trường kinh tố vĩ mô cuả nền kinh tế thuận lợi cho
2.Khó khăn
Việc mua sữa ở các máy tự động đồi hỏi người dân phải tiêu dùng tiền xu
thường xuyên. Nhưng người việt Nam không quen với việc tiêu tiền xu vì một số
lì do như bất tiện hoặc sợ đánh rơi.
Người dân Việt Nam đặc biệt là người dân Hà Nội dù đã tiếp cận với lối
sống phương tây nhưng chỉ có thế hệ mới sau này tầm cuối 80 đầu 90 dễ dàng hòa
nhập.
Như vậy: nhìn chung về dài hạn nhu cầu sữa trở nên thiết yếu và tăng mạnh.
IV. MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN HÀ NỘI
1.Vị trí địa lí
Sau khi điều chỉnh địa giới hành chính ngày 29/05/2008, thành phố Hà Nội
rộng 334.470 ha và dân số hiện tại là 6.232.940 người. Hà Nội phía Bắc giáp Thái
Nguyên và Vĩnh Phúc; phía Nam giáp Hà Nam và Hòa Bình; phía Đông giáp các
tỉnh Bắc Giang, Bắc Ninh và Hưng Yên; phía Tây giáp tỉnh Hòa Bình và tỉnh Phú
Thọ.
Địa hình Ba Vì được chia làm 3 vùng rõ rệt: vùng núi, vùng đồi gò và vùng
đồng bằng ven sông. Ba Vì nối liền với các tỉnh và thủ đô Hà Nội bằng các trục
đường chính như: quốc lộ 32, tỉnh lộ 89A và các tuyến đường thủy qua sông Hồng,
sông Đà có tổng chiều dài 70km.
Với những lợi thế về giao thông đường thủy, đường bộ, Ba Vì có điều kiện
khá thuận lợi trong giao lưu kinh tế, văn hóa với bên ngoài, tiếp thu những tiến bộ
khoa học - kỹ thuật để phát triển kinh tế với cơ cấu đa dạng nông nghiệp, dịch vụ,
du lịch, công nghiệp.
=> Có thể vận chuyển sữa tươi từ Ba Vì đến trung tâm thành phố Hà Nội trong
thời gian ngắn.=> sữa không bị chua. Vì xây dựng hệ thống máy bán sữa tự động
nên cần phương tiện vận chuyển với khối lượng lớn và thiết bị bảo quản tốt.
Hà nội với diện tích khoảng 3200km2 là địa bàn kinh tế chiến lược, nằm trong
vùng kinh tế Đồng bằng sông Hồng và trọng điểm Bắc Bộ. Đây là vùng kinh tế đặc
biệt quan trọng của cả nước.
Trong tương lai gần, Hà nội xây dựng theo hướng thành phố sinh thái, trọng
tâm phát triển các ngành công nghiệp chủ lực với công nghệ cao như điện, tin học,
viễn thông, chế tạo máy, công nghiệp ô tô…du lịch…
2.
2.1
•
Quy hoạch ngành công nghiệp sữa Hà nội
Quy hoạch vùng chăn nuôi bò sữa
Phát triển đàn bò sữa Việt Nam từ nay tới năm 2010 nhằm thay thế một phần
nguyên liệu nhập khẩu là nhiệm vụ quan trọng và cấp thiết. Sản lượng sữa tươi đạt
hơn 140 ngàn tấn vào năm 2005 (thay thế được khoảng 20% nguyên liệu nhập),
năm 2010 đạt trên 300 ngàn tấn, tự túc được khoảng 40% nguyên liệu, sau năm
2010 đạt 1 triệu tấn sữa. Năm 2020 tự túc được 50% nguyên liệu sữa tươi.
•
Dự kiến đàn bò sữa năm 2010 như sau:
2010
•
Tổng đàn bò
Bò vắt sữa
993,75
Tổng cộng
2195,35
2.2 Quy hoạch xây dựng hệ thống bán sũa tự động
Mặt bằng để đặt một máy bán sữa khoảng 1- 1,5 m2. Địa điểm lý tưởng để đặt máy
bán sữa phải đáp ứng được các nhu cầu sau:
Có khoảng trống diện tích từ 1 – 1,5 m2
Địa điểm là những nơi đông người như siêu thị,chợ, các trung tâm thương
mại, công viên, các điểm du lịch…
Địa điểm phải đảm bảo được sự thuận lợi trong khâu vận chuyển, bảo quản
sữa
Có thể kết hợp đặt các máy bán sữa bên cạnh các cửa hàng, các shop…như
cửa hàng kinh doanh dịch vụ ăn uống, kinh doanh hàng may mặc..
Đề xuất phương án đặt các máy bán sữa ở các khu vực sau:
Khu vực có các siêu thị lớn như : Metro, Bigc
2.
Nguyễn Văn Sơn
3.
Nguyễn Thị Hoài Ân
4.
Nguyễn Thị Hạnh
5.
Nguyễn Thị Hồng Liên
6.
Chu Quyết Thắng
7.
Tạ Thị Tín