TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HUẾ
Khoa khuyến nông và Phát triển nông thôn
KHÓA LUẬN
TỐT NGHIỆP
TÊN ĐỀ TÀI:
Đánh giá mức độ hài lòng của khách hàng đối với dòng sản
phẩm thức ăn hỗn hợp cho heo lai S10, S20 và S30 của Công Ty Cổ
phần Thức ăn chăn nuôi Thái Dương tại xã Vĩnh Giang, huyện
Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị
Sinh viên thực hiện
: Nguyễn Thị Hiển
Lớp
: PTNT 45
Giáo viên hướng dẫn
: Th.S Nguyễn Trọng Dũng
NĂM 2015
1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HUẾ
Khoa khuyến nông và Phát triển nông thôn
tại trường.
Xin gửi lời cảm ơn chân thành đến toàn thể Công ty Cổ phần thức ăn chăn
nuôi Thái Dương chi nhánh tại Quảng Trị đã tạo điều kiện cho tôi được thực
tập tại quý công ty, quan tâm giúp đỡ tôi trong suốt thời gian theo học và hoàn
thành đề tài.
Mặc dù đã có sự cố gắng nhưng do kiến thức và kinh nghiệm thực tế còn
hạn chế nên đề tài không tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong sự đóng góp ý
kiến của các thầy cô và các bạn để đề tài được hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
Huế, tháng 05 năm 2015
Sinh viên
Nguyễn Thị Hiển
3
PHẦN I
MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong môi trường cạnh tranh hiện nay khách hàng là nhân tố quyết định sự
tồn tại của doanh nghiệp. Doanh nghiệp nào dành được mối quan tâm và sự trung
thành của khách hàng doanh nghiệp đó sẽ thắng lợi và phát triển. Chiến lược kinh
doanh hướng tới khách hàng là mục tiêu hàng đầu của các doanh nghiệp, làm thế
nào để đem đến cho khách hàng sự hài lòng tốt nhất luôn là vấn đề các doanh
nghiệp cố gắng làm hết khả năng của mình. Việc làm khách hàng hài lòng đã trở
thành một việc quan trọng đối với các doanh nghiệp và tổ chức trong nâng cao chất
lượng dịch vụ, để từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Thực tế
kinh doanh cho thấy, một doanh nghiệp nếu gia tăng được 5% khách hàng trung
thành nhờ sự hài lòng của họ về sản phẩm, dịch vụ, thì lợi nhuận sẽ tăng lên
khoảng 25% đến 85% [1]. Vì vậy nghiên cứu sự hài lòng của khách hàng đối với
cho heo của Công ty.
5
PHẦN II
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Khái niệm khách hàng.
• Nhận biết khách hàng.
Khách hàng là đối tượng mà doanh nghiệp phục vụ và là nhân tố tạo
nên thị trường.
Một định nghĩa khác, theo tác giả Philip Kotler: Khách hàng là những
người chủ sở hữu mới của thương hiệu (Marketing 3.0). Khi sứ mệnh của một
thương hiệu đã gắn kết thành công vào tâm trí, trái tim và tinh thần của người
tiêu dùng, thương hiệu đó sẽ do người tiêu dùng làm chủ.
• Phân loại khách hàng
- Khách hàng được chia làm ba nhóm:
Nhóm 1: Khách hàng hiện tại – Bao gồm các khách hàng đã mua hoặc sử
dụng hàng hóa, dịch vụ của công ty trong một khoảng thời gian nhất định ở hiện
tại. Khách hàng hiện tại là quan trọng nhất của ba nhóm khách hàng kể từ khi họ
có một mối quan hệ với công ty, và họ là những người mà công ty duy trì, liên
lạc. Ngoài ra, khách hàng hiện tại cũng đại diện cho thị trường tốt nhất cho
doanh số bán hàng của công ty trong tương lai. Để bán cho khách hàng hiện tại
thì công ty sẽ ít tốn kém và ít tốn thời gian hơn so với việc tìm kiếm khách hàng
mới, bởi vì họ biết, hi vọng và tin tưởng vào công ty.
Nhóm 2: Khách hàng cũ – Nhóm này bao gồm những người trước đây có
quan hệ với công ty thông qua mua hàng hóa trước đó. Tuy nhiên công ty không
còn cảm thấy khách hàng là một khách hàng hiện tại hoặc bời vì họ đã không
mua hàng hóa từ công ty trong một khoảng thời gian nhất định.
Sơ đồ 2.1: Những kiểu thị trường khách hàng cơ bản
Nguồn : Marketing căn bản ( 2007, P 92 )
Khách hàng 1: Người tiêu dùng là những cá nhân và hộ dân gia đình mua
hàng hóa và dịch vụ để sử dụng cho mực đích cá nhân.
Khách hàng 2: Nhà sản xuất là các tổ chức mua hàng và dịch vụ để sử dụng
chúng trong quá trình sản xuất.
Khách hàng 3: Nhà bán buôn trung gian là tổ chức và cá nhân mua hàng
hóa và dịch vụ để sau đó bán lại kiếm lời.
Khách hàng 4: Cơ quan nhà nước là những tổ chức mua hàng và dịch vụ
sau đó để sử dụng trong lĩnh vực dịch vụ công cộng hoặc chuyển giao hàng hóa
và dịch vụ đó cho những người cần đến nó.
Khách hàng 5: Thị trường quốc tế là những người mua hàng ở ngoài nước
bao gồm những người tiêu dùng, sản xuất, bán trung gian và các cơ quan nhà
nước ngoài nước.
2.1.2 Khái niệm sự hài lòng của khách hàng.
Doanh nghiệp muốn đáp ứng vững trên thị trường cần cung cấp những sản
phẩm đáp ứng tối đa nhu cầu của khách hàng đúng thời điểm và địa điểm. để
tăng sức cạnh tranh cho sản phẩm, dịch vụ của mình một mặt các doanh nghiệp
tìm cách cắt giảm chi phí, hạ giá thành một mặt tìm cách để tiếp cận khách hàng
của mình sớm nhất so với các đối thủ cạnh tranh. Tuy nhiên, đó thực sự là thách
thức to lớn đối với bất cứ doanh nghiệp nào bởi lẽ nhu cầu của khách hàng là vô
tận, là thường xuyên thay đổi và khó có thể dự đoán.
Phương châm hoạt động của các công ty là phải thỏa mãn nhu cầu của
khách hàng vì khách hàng là nguồn doanh thu và lợi nhuận của công ty. Khi
7
khách hàng thỏa mãn với dịch vụ hay hàng hóa của công ty thì khả năng họ tiếp
tục mua hàng rất cao. Hơn nữa, khi họ thỏa mãn thì họ có xu hướng nói tốt về
Sơ đồ 2.1 Mô hình hài lòng
8
Hài lòng của khách hàng không phải là một đối tượng để có thể thống kê
được mà thiên về cảm xúc hay quan điểm. Tuy có những mô hình thống kê được
phát triển để đặc trưng cho sự hài lòng của khách hàng nhưng tất cả những quan
niệm hay ý kiến của khách hàng đều chủ quan. Chính vì sự hài lòng của khách
hàng chỉ là ý kiến chủ quan nên nó khó đo lường. Mỗi một con người sẽ có những
ý kiến của bản thân mình về sự hài lòng, thậm chí, vào từng thời điểm khác nhau,
nhưng một con người sẽ có những quan niệm khác nhau về sự hài lòng.
Việc đo lường mức độ hài lòng của khách hàng rất có ý nghĩa trong bối cảnh
cạnh tranh hiện nay, cần phải biết tìm hiểu năng suất làm vừa lòng khách hàng của
mình lẫn của các đối thủ cạnh tranh, định hướng khách hàng, lấy sự hài lòng của
khách hàng vừa là mục tiêu, vừa là yếu tố chính trong sự thành công.
2.1.3 Phân loại sự hài lòng của khách hàng.
• Theo một số nhà nghiên cứu có thể phân loại sự hài lòng của khách hàng
thành 3 loại và chúng có sự tác động khác nhau đến nhà cung cấp sản phẩm.
+ Hài lòng tích cực (Demanding customer satisfactinon ) : Đây là sự hài
lòng mang tính tích cực và được phản hồi thông qua các nhu cầu sử dụng ngày
một tăng lên đối với nhà cung cấp sản phẩm. Đối với những khách hàng có sự
hài lòng tích cực , họ và nhà cung cấp sẽ có mối quan hệ tốt đẹp hơn, tín nhiệm
lẫn nhau và cảm thấy hài lòng khi giao dịch. Hơn nữa, họ cũng hi vọng nhà cung
cấp sản phẩm sẽ có đủ khả năng đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của mình.
Chính vì vậy, đây là nhóm khách hàng dễ trở thành khách hàng trung thành của
doanh nghiệp miễn là họ nhận thấy doanh nghiệp cũng có nhiều cải thiện trong
việc cung cấp sản phẩm cho họ.Yếu tố tích cực còn thể hiện, chính từ những
yêu cầu không ngừng tăng lên của khách hàng mà nhà cung cấp sản phẩm càng
nỗ lực cải tiến chất lượng sản phẩm ngày càng trở nên hoàn thiện hơn.
+ Hài lòng ổn định (Stable customer satifaction ) : Đối với những khách
(1985,1988) đã đo lường mức độ hài lòng của khách hàng, nhưng các yếu tố của
sự hài lòng chưa được nêu rõ.
Cronin & Taylor (1992) đã tiến hành nghiên cứu thực nghiệm và tìm thấy
rằng chất lượng cảm nhận sẽ dẫn đến sự hài lòng của khách hàng và Zeithaml &
ctg (1993) mới giải thích được “ sự hài lòng là sự khác biệt có được từ sự đánh
giá chất lượng dịch vụ”.
Khoảng cách 5A:
Cảm nhận
Chất lượng vượt trội
Dịch vụ mong đợi
Dịch vụ mong muốn
Dịch vụ thỏa đáng
Dịch vụ cảm nhận
Dịch vụ
dự10
án
Khoảng cách 5B:
Cảm nhận
Chất lượng thỏa đáng
Sơ đồ 2.2: Đánh giá của khách hàng về cảm nhận chất lượng và sự hài lòng
Nguồn : Zeihaml & Bitner – Services Marketing ( 1996, P123)
Teas (1993)lập luận dựa trên các khái niệm đã đề xuất rằng sự hài lòng của
khách hàng là một hàm của chất lượng dịch vụ, điều này xuất phát từ sự cảm
Yếu tố tình huống
Yếu tố cá nhân
Đánh giá chất lượng
dịch vụ
Đánh giá chất lượng
sản phẩm
Đánh giá giá cả
Nhân tố
tình huống
Sự thỏa mãn của
khách hàng
Nhân tố
cá nhân
Sơ đồ 2.4: Mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng
Nguồn : Zeihaml & Bitner – Services Marketing ( 1996, P123)
Yếu tố 1: Chất lượng dịch vụ.
Chất lượng dịch vụ được đánh giá dự trên mô hình 5 thành phần chất lượng
(Parasuraman & ctg, 1988) với đặc tính đó là:
1. Độ tin cậy ( reliability)
2. Tính đáp ứng ( responsiveness)
3. Tính đảm bảo ( assurance)
4. Phương tiện hữu hình ( tangibles)
5. Sự đồng cảm (empathy)
Chất lượng dịch vụ và sự hài lòng tuy là hai khái niệm khác nhau nhưng có
nhiều cách thức khác nhau và ở nhiều mức độ khác nhau bao gồm sự tuyệt hảo,
giá trị, phù hợp với yêu cầu, vừa vặn để sử dụng, tránh được sự mất mát và đáp
ứng hoặc vượt qua những kỳ vọng của người tiêu dùng.
Như vậy, cảm nhận về chất lượng sản phẩm là nhận thức của khách hàng về
chất lượng và tính ưu việt của một sản phẩm trong mối tương quan với các sản
phẩm thay thế, mục đích sử dụng sản phẩm. Do đó, cảm nhận về chất lượng sản
phẩm là sự đánh giá tổng thể dựa trên nhận thức của khách hàng về những gì tạo
nên chất lượng của một sản phẩm.
13
Các kết quả nghiên cứu của Caruana (2002) và Tsiotso (2006) cho thấy vai
trò của cảm nhận về chất lượng sản phẩm và sự hài lòng của người tiêu dùng.
Theo đó, người ta cho rằng cảm nhận về chất lượng sản phẩm càng cao thì sự
hài lòng của người tiêu dùng càng cao. Ngoài ra, Taylor & Baker (1994) cũng có
cùng quan điểm khi cho rằng có sự tương tác giữa sự hài lòng và cảm nhận về
chất lượng sản phẩm trong ý định mua hàng của khách hàng.
Yếu tố 3: Giá cả sản phẩm.
Giá cả được xem như nhận thức của người tiêu dùng về việc từ bỏ hay hi
sinh một cái gì đó để được sở hữu một sản phẩm hoặc một dịch vụ (Zeithaml,
1996). Một trong những phương thức để thông tin ra bên ngoài về dịch vụ là giá
cả của sản phẩm hay dịch vụ. giá cả của sản phẩm hay dịch vụ có thể ảnh hưởng
rất lớn vào nhận thức về chất lượng sản phẩm, dịch vụ, hài lòng và giá trị. Tuy
nhiên các ẩn phẩm về sự hài lòng chỉ cung cấp một cái nhìn hạn chế liên quan
đến tác động có thể có của các quyết định về giá lên sự thõa mãn của người tiêu
dùng. Một số nhà nghiên cứu đã tìm thấy rằng có mối quan hệ có ý nghĩa giữa
giá cả và sự hài lòng của khách hàng.
Họ cho rằng các cảm nhận về giá sau khi mua có tác động dương lên sự hài
lòng của khách hàng và bản thân nó lại chịu ảnh hưởng của các cảm nhận về giá
trước khi mua, mặt khác cảm nhận giá trước khi mua cũng có tác động dương
Đối với nghành chăn nuôi và nghành sản xuất thức ăn chăn nuôi công
nghiệp trên thế giới ngày càng phát triển mạnh, như chúng ta biết hiện nay
nghành sản xuất thức ăn chăn nuôi công nghiệp trên thế giới đáp ứng được 45 –
48% nhu cầu sử dụng thức ăn chăn nuôi công nghiệp cho nghành chăn nuôi trên
thế giới [2 ]. Trong những năm gần đây thị trường thức ăn chăn nuôi công
nghiệp có rất nhiều biến động lớn, do lở mồm lốc móng ở gia súc (trâu, bò, lợn)
và dịch cúm gia cầm bùng phát ở nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt ở một số
nước Châu Á như Inđônêxia, Thái Lan, Trung Quốc…nên đã làm ảnh hưởng
không nhỏ tới khả năng phát triển thị trường thức ăn chăn nuôi công nghiệp trên
thế giới. Hiện nay các quốc gia có nghành chăn nuôi phát triển mạnh như Mỹ,
Hà Lan…thì nhiều các trang trại chăn nuôi lớn, họ tự cung cấp nguồn thức ăn
chăn nuôi công nghiệp cho trang trại của họ, bằng cách mua dây chuyền máy
móc và các nguyên liệu về họ tự chế biến sản xuất ra các loại thức ăn chăn nuôi
công nghiệp cho trang trại của họ. Vậy ta thấy rằng quy mô chăn nuôi trên thế
giới phát triển rất mạnh, do đó đã làm cho thị trường thức ăn chăn nuôi phát
triển theo một hướng khác (các công ty sản xuất thức ăn chăn nuôi công nghiệp
chuyển sẽ kinh doanh cả các nguyên liệu dùng để sản xuất thức ăn chăn nuôi, để
bán cho các trang trại chăn nuôi lớn).
2.2.2 Tình hình sản xuất thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam.
Thị trường thức ăn chăn nuôi công nghiệp của nước ta trong những năm
gần đây phát triển nhanh và đa dạng. Nghành chăn nuôi đã có những bước đột
phá, chuyển từ chăn nuôi nhỏ lẻ, không tập trung, thức ăn chủ yếu tận dụng sang
chăn nuôi công nghiệp quy mô lớn (trang trại) tập trung. Chỉ tính riêng mấy năm
15
gần đây, số lượng nhà máy sản xuất kinh doanh TĂCN công nghiệp và sản
lượng hàng hóa tiêu thụ của các nhà máy đã tăng lên rất nhanh.
Hiệp hội thức ăn chăn nuôi Việt Nam cho biết: tính đến nay đã có 197 nhà
máy sản xuất thức ăn chăn nuôi có công suất 2 tấn/h trở lên, trong đó 50% nhà
phổ biến không còn các tác nhân trung gian (đại lý). Các nhà máy sẽ bán trực
16
tiếp xuống các trang trại chăn nuôi là chính, còn một phần nhỏ thì cung cấp
qua các đại lý cấp I.
Nhu cầu tiêu dùng các loại thức ăn chăn nuôi công nghiệp có chất lượng
cao ngày càng tăng nhanh, điều đó cho thấy trình độ chăn nuôi của người chăn
nuôi ngày càng được nâng lên.
Quản lý của Nhà nước đối với các công ty sản xuất thức ăn chăn nuôi công
nghiệp và chất lượng thức ăn chăn nuôi công nghiệp trên thị trường cả nước nói
chung và thị trường Quảng Trị nói riêng hiện nay còn rất lỏng lẻo, đặc biệt là đối
với sản phẩm của công ty nội địa. Chính vì vậy, chất lượng thức ăn chăn nuôi
công nghiệp bán trên thị trường hiện nay, phần lớn không đủ tiêu chuẩn chất
lượng đăng ký trên bao bì (như độ đạm đăng ký 48% nhưng thực tế chỉ đạt 40 –
41%, thậm chí còn thấp hơn, bên cạnh đó một số chất có hàm lượng độc tố cao
nhưng vẫn sử dụng như chất làm hồng da, hóc môn tăng trưởng…). Từ đó, làm
ảnh hưởng tới tâm lý người tiêu dùng, chăn nuôi và cũng ảnh hưởng tới khả
năng phát triển thị trường thức ăn chăn nuôi của các công ty lớn làm uy tín, đặc
biệt là các công ty liên doanh, công ty nước ngoài đầu tư sản xuất kinh doanh
thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam.
17
PHẦN III
ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng nghiên cứu.
Khách hàng là các đại lý – công ty.
Khách hàng là người tiêu dùng trực tiếp (người chăn nuôi, trang trại).
3.4 Phương pháp nghiên cứu.
3.4.1 Phương pháp chọn mẫu
• Tiêu chí chọn mẫu:
+ Đó là các Đại lý kinh doanh sản phẩm thức ăn chăn nuôi gia súc tại xã
Vĩnh Giang, huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị.
+ Đó là những hộ có hoạt động chăn nuôi lợn và đang sử dụng dòng sản
phẩm thức ăn hỗn hợp cho heo lai của Công ty (gồm 40 hộ)
• Cách thức tiến hành chọn mẫu:
- Với phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên có định hướng, dựa trên danh
sách khách hàng mà các đại lý cung cấp sau đó chọn ngẫu nhiên không lặp lại.
3.4.2 Phương pháp thu thập số liệu
3.4.2.1 Thu thập số liệu thứ cấp
Số liệu thứ cấp của đề tài được thu thập từ các nguồn sách báo, tạp chí, các
trang web trên mạng internet, các nghiên cứu có liên quan cùng các thông tin
thứ cấp được lấy từ phòng kế toán, phòng kinh doanh, phòng hành chính của
Công ty. Các thông tin này miêu tả quá trình hình thành, phát triển và tình hình
hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty và những vấn đề liên quan tới cơ sở
lý luận về sự hài lòng của khách hàng.
3.4.2.2 Thu thập số liệu sơ cấp
- Phỏng vấn người am hiểu: phỏng vấn các đại lý kinh doanh sản phẩm
thức ăn chăn nuôi gia súc có phân phối sản phẩm của công ty Thái Dương.
- Phỏng vấn hộ: phỏng vấn bằng bảng hỏi bán cấu trúc đã chuẩn bị sẵn,
khảo sát 40 hộ là những khách hàng của các đại lý kinh doanh sản phẩm thức ăn
chăn nuôi gia súc cung cấp. Tiến hành phỏng vấn 40 hộ chăn nuôi, điều tra tập
trung các thôn trên địa bàn xã Vĩnh Thành.
3.4.2.3 Phương pháp xử lý số liệu
Sau khi có được thông tin tiến hành phân loại sắp xếp và tổng hợp thông
tin, số liệu sẽ được xử lý tiếp theo bằng phần mềm SPSS và Excel.
3.4.2.4 Phương pháp phân tích SWOT
Tìm hiểu những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức trong việc phân
Số giấy CNĐKKD và đăng ký thuế: 0101119361
Công ty CP TACN Thái Dương là công ty tư nhân hoạt động kinh doanh
trong lĩnh vực nông nghiệp. Ngành nghề kinh doanh chính của Công ty là Sản
xuất, buôn bán thức ăn chăn nuôi; sản xuất lợn giống: lợn nái, lợn đực, lợn con
và lợn thương phẩm.
♦ Về sản xuất thức ăn chăn nuôi: Sunfeed là một trong số những công ty
lớn trong ngành thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam với công suất hiện tại vào
khoảng 200,000 tấn/năm. Hiện tại, công ty có 2 nhà máy tại Hưng Yên và Bình
20
Dương. Công ty đang có kế hoạch tăng công suất để đảm bảo nguồn cung ổn
định cho các trang trại và đáp ứng nhu cầu bên ngoài thị trường.
♦ Về các chăn nuôi lợn: Công ty có 7 trại giống và sản xuất lợn thịt với
tổng đàn lên đến hơn 60,000 con. Mở rộng quy mô tổng đàn là chìa khóa quan
trọng trong chiến lược phát triển của Sunfeed.
Những công nghệ đang áp dụng: Từ năm 2001, là công ty đầu tiên của Việt
Nam ứng dụng công nghệ Brillformulation của Mỹ để tối ưu hoá dinh dưỡng
trong khẩu phần thức ăn gia súc. Năm 2006, Công ty là đơn vị đầu tiên ứng
dụng công nghệ quản lý giống và di truyền giống bằng phần mềm Herdsman của
Mỹ (hiện nay 2/3 các nước chăn nuôi phát triển tại Mỹ và Nam Mỹ sử dụng).
Năm 2008 Công ty cũng là đơn vị đầu tiên ứng dụng công nghệ liquidfeeding
(thức ăn dạng lỏng) của Đức tại Việt Nam cho 35.000 con lợn. Năm 2012, Công
ty là đơn vị đầu tiên xây dựng thành công quy trình công nghệ xử lý nước thải
đạt tiêu chuẩn và tái sử dụng nước thải.
Sơ đồ 4.1: Mô hình hoạt động của Công ty
Sơ đồ 4.2: Vị trí nhà máy và kho rung chuyển của Công ty
21
ggg
Các trại
lợn
Sản xuất
thức ăn
Xuất nhập
khẩu
Lợn giống
Kế hoạch
Mua hàng
nội địa
Lợn thương phẩm
Kho bãi
Tư vấn dinh
dưỡng và thú y
Sơ đồ 4.3: Sơ đồ tổ chức công ty
22
Đây là sơ đồ về bộ máy quản lý của công ty CP thức ăn chăn nuôi Thái
Phòng thu mua: Là nhiệm vụ thu mua nguyên liệu trong nước, ngoài
nước và các loại hàng hóa phục vụ sản xuất. Tham mưu cho lãnh đạo Công ty về
quản lý nghiệp vụ thu mua hàng hóa và thị trường trong nước, nắm chắc giá cả
23
thị trường nguyên liệu, tận dụng thời gian mua và bán nguyên liệu thích hợp
nhất về giá cả và chất lượng.
Phòng sản xuất: Lập kế hoạch sản xuất dựa trên kế hoạch bán và đơn
đặt hàng của Thương mại, phối hợp với Bộ phận Kho và Thu mua chuẩn bị
nguyên liệu đáp ứng cho sản xuất, phối hợp với Kho về lượng hàng tồn kho thực
tế để sản xuất đủ số lượng, chủng loại hàng cho phù hợp. Gồm các quản đốc
chịu trách nhiệm chính, theo dõi và chỉ đạo trực tiếp hoạt động của sản xuất. Các
công nhân sản xuất trực tiếp thực hiện tất cả các công đoạn của sản xuất; bao
gồm các bộ phận như: bộ phận nghiền bột, KCS, bao bì, cân thuốc, nghiền bột,
nghiền viên, đóng gói, cơ điện, thủ kho, bốc xếp, nhà cân. Các bộ phận này phối
hợp với nhau trực tiếp tạo ra sản phẩm.
Qua sơ đồ bộ máy tổ chức của nhà máy cho thấy bộ máy quản lý của nhà
máy được phân định chức năng nhiệm vụ rõ rang, đặc biệt nhà máy có phòng
kinh doanh trẻ hoạt động rất năng động, thực hiện các khâu marketing sản phẩm
từ nghiên cứu thì trường, tới khâu tổ chức sản xuất, phân phối sản phẩ; các hoạt
động về sản phẩm mới.
4.1.5 Tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty.
4.1.5.1 Tình hình lao động Công ty.
Lao động là một yếu tố quan trọng trong sản xuất kinh doanh, quyết định
năng xuất lao động và hiệu quả sản xuất kinh doanh. Vì vậy bất kì một đơn vị
sản xuất kinh doanh nào cũng đều có những tiêu chí nhất định trong việc tuyển
chọn đội ngũ lao động phù hợp với hình thức sản xuất kinh doanh của đơn vị.
Do đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty mà lao động trực tiếp
luôn chiếm tỷ lệ lớn hơn so với lao động quản lý và lao động gián tiếp trong cơ
63
17,0
83
15,9
92
13,3
Phổ thông
214
57,5
317
60,9
458
66,3
Tổng số
372
100
521
100
691
100
(Nguồn: Phòng nhân sự)
Với trung bình 530 lao động từ năm 2012-2014, có thể nói Công ty Cổ
phần thức ăn chăn nuôi Thái Dương có lực lượng lao động dồi dào. Trình độ
lao động phổ thôngchiếm tỷ trọng lớn nhất và có xu hướng tăng lên. Tương tự,
đối với trình độ trên đại học cũng có xu hướng tăng. Trình độ cao đẳng và trung
cấp có xu hướng giảm nhẹ vào năm 2013 so với năm 2014. Nhìn chung trình độ
lao động của Công ty đang ngày càng được hoàn thiện.
Bảng 4.2: Cơ cấu lao động của công ty từ 2012-2014
( Đơn vị: %)
TT
Năm 2013
51,1
48,9
29.5
55.3
15.2
Năm 2014
52, 2
53,4
30,6
59,4
13,8
19,1
19,4
19,9
14,2
13,4
13,1
66,7
67,1