Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng và dạng phân đạm đến năng suất lúa trên đất phù sa tại phường hương an, thị xã hương trà, tỉnh thừa thiên huế - Pdf 34

Phần 1. MỞ ĐẦU
Lúa gạo (Orya sativa. L) là cây lương thực chính của hơn một nửa dân số
thế giới, tập trung tại các nước châu Á, châu Phi và châu Mỹ Latinh. Lúa gạo có
vai trò quan trọng trong việc đảm bảo an ninh lương thực và ổn định xã hội.
Theo số liệu thống kê của Tổ chức Nông lương thế giới (FAO) cho rằng thương
mại lúa gạo toàn cầu sẽ đạt mức kỷ lục 39.4 triệu tấn trong năm 2014, tăng 6%
so với năm 2013. [w]
Nước ta là một nước nông nghiệp, có truyền thống trồng canh tác lúa nước
từ lâu đời và là một quốc gia sử dụng lúa gạo làm lương thực chính. Chình vì lý
do trên lúa gạo có vai trò vô cùng quan trọng trong việc cung cấp chất dinh
dưỡng thiết yếu cho con người,Theo kết quả điều tra dân số và nhà ở giữa năm
nay, tổng dân số Việt Nam đạt gần 90,5 triệu người [y] thì vấn đề đảm bảo an
ninh lương thực phụ thuộc rất nhiều vào sản xuất lúa gạo thế nên ngành lúa gạo
có vai trò rất lớn trong việc cung cấp sản phẩm cho toàn xã hội. Một vai trò nữa
của lúa gạo không thể không kể đến đó là lúa gạo là sản phẩm nông nghiệp của
đại đa số người nông dân vì thế việc sản xuất lúa gạo không chỉ cung cấp lương
thực cho dân cư mà còn giải quyết việc làm cho người dân. Việt Nam có một thế
mạnh về xuất khẩu lúa gạo và là nước xuất khẩu gạo thứ hai trên thế giới nên lúa
gạo còn có vai trò to lớn trong việc thu ngoại tệ về cho đất nước. Theo đó, thống
kê của Bộ NN&PTNT cho thấy, ước cả năm, sản lượng lúa đạt 45 triệu tấn, mặc
dù diện tích giảm 54 nghìn ha, nhưng do áp dụng các tiến bộ kỹ thuật nên năng
suất đạt 57,7 tạ/ha (tăng 1,7 tạ/ha so với 2013), sản lượng đã tăng 1 triệu tấn
(2,3%).[x]. Thực trạng hiện nay sản xuất nông nghiệp nói chung và canh tác
lúa nước nói riêng đang đối mặt với nhiều thách thức lớn đó là vấn đề thiếu
nước tưới, ô nhiễm môi trường đất và không khí trong điều kiện quỹ đất trồng
trọt ngày càng bị thu hẹp. Một trong những hoạt động làm ô nhiễm môi trường
nghiêm trọng là việc sủ dụng nhiều phân hóa học nhưng mất cân đối. Hoạt
động sản xuất nông nghiệp phân bón là một trong những vật tư quan trọng và
được sử dụng với một lượng khá lớn hàng năm. Phân bón đã góp phần đáng kể
làm tăng năng suất cây trồng, chất lượng nông sản, đặc biệt là đối với cây lúa ở
Việt Nam. Theo đánh giá của Viện Dinh dưỡng Cây trồng Quốc tế (IPNI), phân

vực miền Trung, với đất đai, địa hình đa dạng, thời tiết diễn biến phức tạp như
bão, lũ lụt, hạn hán đã ảnh hưởng rất nhiều đến sản xuất nông nghiệp nói chung
và việc trồng lúa nói riêng. Thực tế khảo sát tại phường Hương An, Thừa thiên
Huế, các hộ nông dân vẫn chưa áp dụng đúng quy trình bón phân nên chưa
khai thác được hết tiềm năng của phân bón. Do vậy việc xác định liều lượng và
dạng phân bón thích hợp cho lúa cần được nghiên cứu để làm tăng năng suất
và hiệu quả kinh tế. Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn chúng tôi tiến hành thực
hiện đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng và dạng phân đạm đến
năng suất lúa trên đất phù sa tại phường Hương An, thị xã Hương Trà, tỉnh
Thừa Thiên Huế”.

2


1.1.

Mục đích của đề tài

-

Xác định ảnh hưởng củaliều lượng và dạng phân đạm đến một số chỉ tiêu sinh
trưởng, phát triển và năng suất lúa.

-

Xác định ảnh hưởng của liều lượng và dạng phân đạm đến hiệu quả kinh tế
trong sản xuất lúa.

-


TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Cơ sở khoa học của đề tài
2.1.1. Vai trò và nhu cầu dinh dưỡng của cây lúa
Phân bón có vai trò tối quan trọng trong quá trình sinh trưởng, phát triển
của cây lúa. Nó cần thiết cho suốt quá trình từ giai đoạn mạ cho đến lúc thu
hoạch, cung cấp cho cây nguồn nguyên liệu để tái tổ hợp các chất dinh dưỡng
như: tinh bột, đường, chất béo, prôtêin. Ngoài ra chúng còn giữ vai trò duy trì sự
sống của toàn bộ cây lúa, không có nguồn dinh dưỡng thì cây lúa sẽ chết, không
thể tồn tại.Các yếu tố dinh dưỡng trong phân bón cung cấp cho cây lúa có vai trò
khác nhau, với hàm lượng cung cấp khác nhau trong quá trình sinh trưởng, phát
triển của cây lúa. Vì vậy việc bón phân, bổ sung dinh dưỡng cho lúa người ta đã
nghiên cứu và đưa ra những công thức bón phân hợp lý cho từng giống lúa, cho
từng giai đoạn sinh trưởng, phát triển, theo từng điều kiện đất đai, khí hậu... cụ
thể [28]. Một số dinh dưỡng chính cây lúa cần như sau:
2.1.1.1. Dinh dưỡng đạm (N)
Đạm là yếu tố quan trọng hàng đầu cho lúa nếu không bổ sung đạm thì đất
lúa Việt nam hầu như chỗ nào cũng thiếu đạm. Đạm là chất tạo hình cây lúa, là
thành phần chủ yếu của protein và chất diệp lục làm cho lá xanh tốt, gia tăng
chiều cao cây, số chồi và kích thước lá thân.Cây lúa thiếu đạm dẫn tới đẻ nhánh
kém, lá nhỏ, vàng, cây thấp và bông ngắn. Nếu bón đạm quá nhiều thân lá phát
triển rậm rạp, non mềm dễ sâu bệnh, lốp đổ… [18].
Khác với các cây trồng cạn, cây lúa có thể hấp thu và sử dụng cả hai dạng
đạm nitrat (NO3-) và amôn (NH4+) nhưng chủ yếu là đạm amôn, nhất là trong
giai đoạn sinh trưởng ban đầu. Cây lúa thích hút và hút đạm amônnhanh hơn
nitrat. Dù vậy, cây lúa vẫn không tích lũy amôn trong tế bào lá, lượng amôn dư
thừa sẽ được kết hợp thành asparagin ở trong lá. Ngược lại, khi nồng độ nitrat
trong môi trường cao thì cây lúa sẽ tích lũy nhiều nitrat trong tế bào [8].Tùy
thuộc vào chân đất và nhu cầu dinh dưỡng của cây mà sử dụng các loại phân
bón cho phù hợp, có các loại phân đạm phổ biến như: Amôn sulfat - (NH 4)2SO4,
Amôn clorua – NH4Cl, Urê – (NH2)2CO, Amôn nitrat - NH4NO3, Canxi nitrat –

thiếu lân, cây lúa lùn hẵn, nở bụi kém, lá rất thẳng hẹp và màu sậm hơn bình
thường hoặc ngã sang màu tím bầm, lúa sẽ trổ và chín muộn, hạt không no đầy và
phẩm chất giảm. Trong tự nhiên lân không ở dạng tự do mà thường là ở dạng hợp
chất oxit hóa (P2O5). Các loại phân lân phổ biến hiện nay là super lân (lân Lâm
Thao) 16 – 16,5% P2O5 dễ tiêu, lân Văn Điển (Thermophosphat) 16% P 2O5dễ
tiêu, apatit (đá nghiền) 20 – 40 % P 2O5dễ tiêu. Lân cũng hiện diện trong nhiều
loại phân hỗn hợp như DAP, NPK…[3].
2.1.1.3. Dinh dưỡng Kali (K)
Kali còn gọi là bồ tạt (potassium), kali giúp cho quá trình vận chuyển và
tổng hợp các chất trong cây, duy trì sức trương của tế bào, giúp cây cứng cáp,
tăng khả năng chống sâu bệnh, chống ngã đổ, chịu hạn, lạnh và khỏe hơn, tăng
5


số hạt chắctrên bông và làm hạt no đầy hơn. Kali tập trung chủ yếu trong rơm rạ,
chỉ khoảng 6 - 20% ở trên bông.
Thiếu kali (K) cây lúa có chiều cao và số chồi gần như bình thường, lá vẫn
xanh nhưng mềm rủ, yếu ớt, dễ đổ ngã, dễ nhiễm bệnh nhất là bệnh đốm nâu
(Helminthosporium oryzae), lá già rụi sớm. Thiếu kali thường xảy ra ở đất thoát
thủy kém, đất trầm thủy, do các độc chất sinh ra trong điều kiện yếm khí đã
ngăn cản sự hấp thụ K của cây lúa. Ở đất phèn cây lúa thiếu K thường kết hợp
với triệu chứng ngộ độc do sắt. Thiếu kali còn có thể xảy ra trên đất cát, nghèo
dinh dưỡng.Khi đất ngập nước, nồng độ kali trong dung dịch đất tăng lên.Nhu
cầu kali đối với giai đoạn sinh trưởng đầu của cây lúa cao, sau đó giảm xuống và
lại tăng lên ở giai đoạn cuối, vậy sẽ chia ra làm 2 đợt bón. Bón lót giúp cho lúa
đẻ nhánh khỏe, chống rét và bón vào thời kỳ phân hóa đòng giúp cho cây cứng,
đứng vững, hạt chắc…
Phân kali phổ biến hiện nay là Clorua Kali (KCl) - 60% K 2O và Sulphat
Kali (K2SO4) - 48% K2O. Ngoài ra còn có các loại phân hỗn hợp 2 hay 3 chất
như: NPK: 16 - 16 - 8 (16% N, 16% P2O5, 8% K2O); NPK: 20 - 20 - 15 (20% N,

2,86
0,593
4,15
0,527
3,69
0,521
2,98
0,499
2,27
0,171
1,69
“Nguồn: Trần Văn Minh, 2003”

Qua bảng ta thấy rằng hàm lượng kali trong cây lúa ở các giai đoạn sinh
trưởng cao nhất rồi đến đạm và đến lân. Theo các nghiên cứu của Yoshida và
Hayakava (1970) đã chứng minh: Tốc độ đẻ nhánh có liên quan chặt chẽ với
hàm lượng đạm, lân, kali trong lá, cây ngừng đẻ nhánh khi hàm lượng đạm là
2%, lân 0,03%, kali 0,5% [18].
2.1.2. Cơ sở lý luận của bón phân cân đối và hợp lý cho lúa
Trong thực tiễn sản xuất, bón phân cân đối là bón cân đối giữa phân hữu cơ
và phân vô cơ, cân đối giữa các yếu tố dinh dưỡng khoáng để vừa đảm bảo cung
cấp dinh dưỡng cho cây đạt năng suất cao phẩm chất tốt với hiệu quả phân bón
cao vừa ổn định và làm tăng hàm lượng dinh dưỡng và mùn trong đất. Bón phân
cân đối cho cây trồng là cung cấp cho cây trồng đúng các chất dinh dưỡng cần
thiết, đủ về liều lượng, với tỷ lệ thích hợp, thời gian bón hợp lý cho từng đối
tượng, đất và mùa vụ cụ thể để đảm bảo năng suất, phẩm chất cây trồng cao,
hiệu quả phân bón cao đồng thời không gây hại với môi trường [5].
Bón phân cân đối phải tuân thủ các định luật, các yếu tố chi phối đến việc
bón phân cân đối [29].
- Định luật trả lại: Để đất khỏi bị kiệt quệ cần trả lại cho đất các yếu tố dinh

Đất phèn, đất trũng nghèo lân lại có nhiều sắt nhôm di động gây độc, do đó
cần phải bón nhiều phân lân hơn các loại đất khác, nhằm giảm độ độc của sắt,
nhôm và cung cấp lân cho cây lúa.
Nếu vừa thu hoạch hạt thóc, vừa lấy rơm rạ khỏi đồng ruộng thì bón phân
nhiều hơn, đặc biệt là phân kali, do khá nhiều kali bị lấy đi khỏi đồng ruộng
theo rơm rạ, nhưng nếu không lấy rơm rạ khỏi đồng ruộng thì chỉ khoảng 5%
lượng kali bị lấy đi theo sản phẩm thu hoạch qua hạt. Khoáng trong đất, rạ và
nước tưới là nguồn kali cung cấp cho cây.
Như vậy việc bón phân cân đối có vai trò vô cùng quan trọng, nó không những
làm tăng năng suất, chất lượng của cây trồng mà còn làm tăng thu nhập trong sản
xuất nông nghiệp, duy trì hoặc cải tạo độ phì đất lâu bền, tránh làm hại đến môi
trường sinh thái. Sử dụng phân bón cân đối hợp lý sẽ đảm bảo cung cấp đầy đủ các
chất dinh dưỡng thiết yếu, xúc tiến tác động tương hỗ và loại trừ các tác động đối
kháng ra khỏi hệ thống trồng trọt. Bón phân cân đối cũng là sự cần thiết để giữ vững
năng suất và lợi nhuận tối ưu đồng thời tiết kiệm phân bón và bảo vệ môi trường.
8


2.2. Cơ sở thực tiễn của đề tài
2.2.1. Tình hình sản xuất lúa trên thế giới và việt nam
2.2.1.1. Tình hình sản xuất lúa trên thế giới
Tình hình sản xuất lúa gạo thế giới năm 2014 thấp hơn 2013 khoảng 0,2%
do mùa mưa đến muộn ở vùng Nam Á và vài nơi khác, với sản lượng khoảng
744,7 triệu tấn lúa (hay 496,6 triệu tấn gạo) và được trồng trên gần 163 triệu ha.
Năng suất lúa trung bình là 4,57 tấn/ha. Khí hậu gió mùa bất thường làm sản
xuất lúa tại Ấn Độ giảm 3% và cũng ảnh hưởng đến một số nước khác, như
Indonesia, Campuchia, Nepal, Pakistan, Philippines, Sri Lanka, Bắc Triều Tiên
và Thái Lan. Trong khi đó, khí hậu tương đối thuận lợi tại các nước: Trung
Quốc, Indonesia, Myanmar, Malaysia, Nam Hàn, Nigeria và Việt Nam. Năm
2014, vùng Bắc Phi (Ai Cập) và Tây Phi bị ảnh hưởng khí hậu bất thường, trong

11.770.000
2.353.152
640.100

Năng suất
Sản lượng
(ta/ha)
(tấn)
44,858
746.902.531
67,100
205.206.520
36,231
159.200.000
51,520
71.279.709
55,726
44.039.291
29,145
36.062.600
43,755
51.500.000
50,071
11.782.549
95,297
6.100.000
“Nguồn: FAO, 2015”
9



2007
2008
2009
2010
2011
2012

Diện tích
( ha)
7.452.200
7.445.300
7.329.200
7.324.800
7.207.400
7.400.200
7.437.200
7.489.400
7.655.440
7.753.163

Năng suất
(tạ/ ha)
46,387
48,553
48,891
48,943
49,869
52,336
52,372
53,416

giới sau Thái lan.
Theo thống kế của FAO năm 2008, Việt Nam có tổng sản lượng lúa hàng
năm đứng thứ 5 trên thế giới, nhưng lại là nước xuất khẩu gạo đứng thứ 2 (5,2
triệu tấn) sau Thái Lan (9,0 triệu tấn), chiếm 18% sản lượng xuất khẩu gạo thế
giới, 22,4% sản lượng xuất khẩu gạo của châu Á, mang lại lợi nhuận 1275,9 tỷ
USD năm 2006, xuất khẩu gạo năm 2013 đạt 6,61 triệu tấn với trị giá 2,95 tỉ
USD. Như vậy, so với cùng kỳ 2012, khối lượng gạo xuất khẩu giảm 17,4% về
khối lượng và giảm 19,7% về giá trị [15]. Malaysia là thị trường xuất khẩu gạo
thứ 3 của Việt Nam. Tuy nhiên lượng nhập khẩu gạo của quốc gia này từ Việt
Nam chỉ đạt 453.240 tấn trị giá 225,5 triệu USD trong 11 tháng đầu năm, giảm
39,05% về khối lượng và giảm 42,49% về giá trị so với năm 2012.[18]
Về giá cả, gạo VN đã dần dần được nâng lên tương đương với gạo Thái
Lan, vào cùng thời điểm và cấp loại gạo. Điều này cho thấy, chất lượng gạo và
quan hệ thị trường của gạo VN đã có thể cạnh tranh ngang hàng với gạo Thái
Lan trên thị trường thế giới [24]
9 tháng đầu năm 2014 so với cùng kỳ năm 2013, giá chào bán gạo xuất
khẩu loại 5% tấm phổ biến ở mức 370-465 USD/tấn, tăng 25 -45USD/tấn; giá
chào bán gạo xuất khẩu loại 25% tấm phổ biến ở mức 360-410 USD/tấn, tăng
15-35 USD/tấn. Cụ thể: ĐVT: USD/tấn
Tháng
Tháng 1/2014
Tháng 2/2014
Tháng 3/2014
Tháng 4/2014
Tháng 5/2014
Tháng 6/2014
Tháng 7/2014
Tháng 8/2014
Tháng 9/2014
9 tháng đầu năm 2014

375-380
365-390
360-375
355-365
360-375
355-365
370-375
350-360
360-370
350-360
365-410
360-400
390-410
400-405
400-410
350-400
360-410
11


9 tháng đầu năm 2013

420-575
355-420
410-560
Giảm 509T/2014 so với 9T/2013
Tăng 25-45 Giảm 60-160
130
2.2.1.2. Tình hình sản xuất lúa ở Thừa Thiên Huế


50,30
50,90
53,10
53,10
53,70
53,50
53,8
53,7

Năng suất
Sản lượng
(tạ/ ha)
(nghìn tấn)
51,70
235,80
51,30
246,60
50,50
235,00
50,30
252,60
50,90
259,60
53,10
274,80
53,10
282,60
53,70
285,20
53,50

quan trọng và được sử dụng với một lượng khá lớn hàng năm. Phân bón đã góp
phần đáng kể làm tăng năng suất cây trồng, chất lượng nông sản, đặc biệt là đối
với cây lúa ở Việt nam. Theo đánh giá của Viện Dinh dưỡng Cây trồng Quốc tế
(IPNI), phân bón đóng góp khoảng 30 - 35% tổng sản lượng cây trồng [2].
Theo nhận định của FAO (2004) về lâu dài ở nhiều nước trên thế giới trong
các biện pháp tăng năng suất cây trồng thì bên cạnh yếu tố giống, quan trọng
nhất vẫn là biện pháp bón phân [24].
Ngành công nghiệp sản xuất phân bón được ra đời vào cuối thế kỷ 18 và
nữa đầu thế kỷ 19, bắt đầu từ vùng tây bắc của châu Âu (IFA, 1998), song chỉ
thật sự phát triển mạnh vào những năm 60 của thế kỷ 20 khi mà cuộc cách mạng
xanh ra đời. Việc ứng dụng các giống cây trồng có năng suất cao và kỹ thuật
canh tác mới vào thời điểm đó đã đưa sản lượng lương thực tăng từ 830 triệu tấn
lên 1.820 triệu tấn từ 1960 đến 1990, trong khi đó diện tích đất sử dụng chỉ tăng
từ 1,4 tỷ ha lên 1,48 tỷ ha. Cũng trong khoảng thời gian đó thì lượng phân bón
của thế giới cũng gia tăng từ 30 triệu tấn lên 138 triệu tấn (IFA, 1998). Như vậy,
với diện tích đất chỉ tăng 3,5% trong khi sản lượng lương thực tăng đến 120%
trong vòng 30 đã năm nói lên vai trò của thâm canh trong đó phân bón giữ vai
trò quyết định. Theo FAO (1980), phân bón làm gia tăng năng suất đến 55% ở
những nước đang phát triển trong giai đoạn 1965 đến 1975 và đầu tư 1 kg N P2O5 - K2O sẽ thu được 10 kg hạt ngũ cốc. Vì vậy trong giai đoạn này các nước
đang phát triển sử dụng phân bón rất nhiều từ 4 triệu tấn năm 1960 lên đến 65
triệu tấn năm 1990 để gia tăng năng suất [20].
Trong nền nông nghiệp thế giới việc ra đời phân hoá học đã làm năng suất
cây trồng các nước Tây âu tăng 50% so với năng suất đồng ruộng luân canh cây
13


họ đậu. Đến thời kỳ 1970 - 1985 năng suất lại tăng gấp đôi so với năng suất
đồng ruộng trước đại chiến thế giới lần thứ nhất. Ấn độ là nước mà trong những
năm 1950 hầu như không dùng phân bón. Sau đó lượng phân bón tiêu thụ tăng
đều đặn đến mức 7,8 triệu tấn chất dinh dưỡng vào năm 1983 - 1984, nhờ đó sản

2,5

Tỷ lệ 2011 so
với 1960 (lần)
2,3
2,8

30,0

176,0

5,8
“Nguồn: IFA, 2012”

Theo FAO (2011), với nhu cầu lương thực tăng, nông dân sẽ đầu tư thêm
phân bón để gia tăng năng suất, vì vậy nhu cầu phân bón được dự báo sẽ tăng
khoảng 2,0% năm và đạt 190,4 triệu tấn vào năm 2015. Còn theo Ủy ban Nông
nghiệp của IFA (6/2012) lại cho rằng nhu cầu phân bón của thế giới tăng trung
bình 1,7% với cả 3 yếu tố dinh dưỡng chính và sẽ đạt 189,9 triệu tấn vào năm
2015 (IFA, tháng 5/2012) và gia tăng nhu cầu phân bón tập trung ở hầu hết các
nước châu Á, châu Phi và Nam Mỹ [20].

14


Bảng 2.8. Tình hình sử dụng phân bón của một số nước trên Thế giới trong 5
năm (từ năm 2007 – 2011)
Đơn vị tính: Tấn
Quốc
gia

P2O5
K2O
N
P2O5
K2O
N
P2O5
K2O
N
P2O5
K2O

2007

2008

2009

2010

2011

32.408.684 40.864.945 44.922.624 40.907.243 38.098.094
11.200.413 10.787.843 13.468.158 14.296.272 10.542.267
8.351.151 6.014.010 4.825.395 5.423.029 7.789.419
14.417.665 14.863.815 15.558.372 16.549.642 17.320.285
5.518.072 6.051.820 7.249.010 8.056.813 7.947.748
2.635.371 3.312.802 3.638.144 3.513.283 2.566.998
2.948.784 2.498.138 2.459.306 2.764.043 3.574.732
4.049.235 3.314.417 2.777.881 3.294.608 4.048.191

443.883
319.086
292.420
440.042
1.048.507 1.287.000 1.168.420 1.131.240 1.365.800
256.050
109.700
37.260
138.160
269.660
136.800
164.400
49.200
157.800
298.200
1.106.359 1.562.670 1.205.636 1.424.975 1.344.990
167.175
228.134
226.682
289.260
313.390
64.329
49.595
17.830
24.100
27.750
“Nguồn: FAO, 2014”

Qua bảng 2.8 ta thấy được tình hình sử dụng phân bón của một số nước
trong 5 năm từ năm 2007 - 2011. Nước tiêu thụ phân bón nhiều nhất là Trung


Giống
Lúa thuần
Lúa lai
Lúa thuần
Lúa lai
Địa phương

Lượng bón ( kg/ha )
N
P2O5
K2 O
100 - 120
40 - 60
40 – 60
140 - 160
80 - 100
80 – 100
80 - 100
50 - 70
40 – 60
120 - 140
80 - 100
80 – 100
60 - 80
40 - 60
30 – 40
“Nguồn: Nguyễn Xuân Trường, 2000”

Lượng phân lân bón cho lúa dao động từ 30 - 100 kg P 2O5, thường bón 60

0
707
17
255
197
228
306
418
242
362
93
144
86
138
“Nguồn: Ðỗ Ðình Thuận, Nguyễn Văn Bộ, 2001”

2.1.5. Những nghiên cứu về phân đạm cho lúa trên Thế giới và Việt nam
2.1.5.1. Những nghiên cứu về phân đạm cho lúa trên Thế giới
Đạm là yếu tố quan trọng đối với cây trồng nói chung và cây lúa nói riêng.
Nhu cầu về đạm của cây lúa đã được nhiều nhà khoa học trên thế giới đi sâu
nghiên cứu và có nhận xét chung là: Nhu cầu đạm của cây lúa có tính chất liên
tục từ đầu thời kỳ sinh trưởng cho đến lúc thu hoạch. Trong suốt quá trình sinh
trưởng, phát triển của cây lúa, có hai thời kỳ mà nhu cầu dinh dưỡng đạm của
cây lúa cao nhất là thời kỳ đẻ nhánh rộ và thời kỳ làm đòng. Ở thời kỳ đẻ nhánh
rộ cây hút nhiều đạm nhất.[6][12]
Hiệp hội phân bón quốc tế (IFA) đã tiến hành nghiên cứu tại các nước phát
triển trong những năm 1979 chỉ rõ: Nếu không sử dụng phân bón thì sản lượng
lương thực ở các nước này chắc chắn sẽ giảm 40 - 50% (Lê Văn Căn, 1978)
[21].
Theo Yoshida (1985), lượng đạm cây hút ở thời kỳ đẻ nhánh quyết định tới

Theo Takahasi (1987) cho biết giữa đẻ nhánh ở cây lúa và tỉ lệ đạm tích lũy
trong lá lúa có liên quan mật thiết với nhau. Theo Schunutuz và Hartman, 1994
tại Đức, nếu giảm một nửa lượng phân đạm trong trồng trọt thì năng suất cây
trồng giảm 22% trong thời gian ngắn, 25 - 30% trong thời gian dài, thu nhập
trang trại giảm 12%, lợi nhuận của các trang trại giảm 40%, tổng sản lượng hoa
màu giảm 10% [21].
2.1.5.2. Những nghiên cứu về phân đạm cho lúa ở Việt Nam
Theo nhiều tác giả (Nguyễn Văn Bộ, 1999; Thái Phiên, 1999; Bùi Đình
Dinh, 1998; Kanwar, 1995; Mutert, 1995) nền tảng của quản lý tổng hợp dinh
dưỡng cho cây trồng là bón phân cân đối và hợp lý [3].
Theo Bùi Đình Dinh (1998), ở Việt nam, phân đóng góp vào việc tăng sản
lượng từ 38% - 40%. Các kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn Bộ (1998) cho
thấy với lúa xuân phân bón đóng góp khoảng 37% và với lúa mùa là 21% vào
việc tăng sản lượng. Theo tác giả Nguyễn Văn Luận (1998) thì ở đồng bằng
sông Cửu Long, phân bón đóng góp khoảng 37%, trong đó phân vô cơ đóng góp
khoảng 33% vào việc tăng sản lượng cây trồng [3].
Theo tác giả Đinh Văn Lữ (1978), Bùi Huy Đáp (1980), Đào Thế Tuấn
(1980) và Nguyễn Hữu Tề (1997): Thông thường cây lúa hút 70% tổng lượng
18


đạm là trong giai đoạn đẻ nhánh, đây là thời kỳ hút đạm có ảnh hưởng lớn đến
năng suất, 10 – 15% là hút ở giai đoạn làm đòng, còn lại là từ giai đoạn làm
đòng đến chín.[f]
Qua nhiều năm nghiên cứu, Đào Thế Tuấn đã đi đến nhận xét: Cây lúa
được bón đạm thỏa đáng vào thời kỳ đẻ nhánh rộ thúc đẩy cây lúa đẻ nhánh
khỏe và hạn chế số nhánh bị lụi đi. Ở thời kỳ đẻ nhánh của cây lúa, đạm có vai
trò thúc đẩy tốc độ ra lá, tăng tỷ lệ đạm trong lá, tăng hàm lượng diệp lục, tích
lũy chất khô và cuối cùng là tăng số nhánh đẻ [25]
Tiềm năng năng suất thể hiện khả năng chịu đạm của cây, nhiều thí nghiệm

xuống, tuy lượng đạm tuyệt đối do lúa sử dụng vẫn tăng lên. [14]
Theo các công trình đã nghiên cứu, muốn đạt năng suất 50 tạ/ha/vụ cần bón
100 - 120 kg N/ha. Lượng đạm này lấy từ các loại phân vô cơ và hữu cơ bón cho
lúa [14].
Giống lúa miến ngọt ICSV 574 có thể trồng được ba vụ/năm tại Việt Nam,
ở mức phân bón 120N + 40 P2O5 + 40 K2O giống này đạt năng suất hạt 6,84
tấn/ha, năng suất thân cây + hạt đạt 65,05 tấn/ha, quy đổi được trên 2600 lít cồn
sinh học/ha/vụ. Năng suất sinh khối lúa miến ngọt ICSV 574 đạt 90 tấn/ha cao
hơn nhiều so với năng suất sinh khối ngô lai thông thường đạt 60 tấn/ha. Đây là
nguồn thức ăn ủ chua rất tốt dùng cho chăn nuôi và nguồn nguyên liệu sinh học
triển vọng [19].
Bón lượng đạm (120 kg, 90kg)/ha trên nền 60kg P2O5 + 60 kg K2O cho số
nhánh hữu hiệu, sự tích lũy chất khô và các yếu tố cấu thành năng suất, năng
suất thực thu cao hơn lượng đạm 60 kg [8].

20


Phần 3
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng nghiên cứu đề tài
3.1.1.

Cây trồng
Giống lúa sử dụng trong đề tài là giống Khang Dân 18, đang được trồng
phổ biến tại địa phương.

3.1.2.

Đất


Thời gian thực hiện: Vụ hè thu ( tháng 6/2014 – tháng 9/2014)

-

Địa điểm thực hiện: Phường Hương An, Thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên
Huế.
3.3. Nội dung nghiên cứu

-

Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng và dạng phân đạm đến sinh trưởng, phát
triển và năng suất lúa.

-

Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng và dạng phân đạm đến hiệu quả kinh tế
trong sản xuất lúa.

-

Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng và dạng phân đạm đến một số tính chất
hóa học đất.

21


3.4. Phương pháp nghiên cứu
3.4.1. Công thức thí nghiệm và sơ đồ bố trí thí nghiệm
Bảng 3.1. Các công thức thí nghiệm

40

D2N80

80

NH4Cl

D2N120

120

D3N0

0

D3N40

40

D3N80

80

Ca(NO3)2

D3N120

120
Bảng 3.2. Sơ đồ bố trí thí ngiệm


D1N0 D2N120 D1N0 D3N120

B

O
V


LNL3

- Kiểu bố trí theo kiểu ô lớn – ô nhỏ (Split - plot), 3 lần nhắc lại, 20 m2/ô thí
nghiệm. Liều lượng đạm bố trí ô nhỏ, dạng đạm bố trí ô lớn.
- Kỹ thuật bón phân
+ Bón lót :
10 - 15 ngày trước sạ: 100% vôi
22


Trước sạ: 100% lân + 100% phân chuồng
+ Bón thúc :
@ Lần 1: 8 - 10 NSS: 40% N + 50% K2O
@ Lần 2: 18 - 20 NSS: 35% N
@ Lần 3: 42 - 45 NSS: 25% N + 50% K2O
3.4.3. Chỉ tiêu theo dõi
3.4.3.1. Về cây
Thời gian sinh trưởng: Gieo - Bắt đầu đẻ nhánh, đẻ nhánh rộ, kết thúc đẻ
nhánh, làm đòng, trổ bông, thu hoạch
- Chiều cao cây và sinh khối khô và tươi: Đo từ mặt đất đến lá hoặc bông
cao nhất (không kể râu) vào các giai đoạn đẻ nhánh, làm đòng, thu hoạch. Mỗi ô


x 100

- Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất.
23


+ Số bông/m2 (bông): Đếm những bông có từ 15 hạt trở lên trên 5 điểm
khác nhau (mỗi điểm 0,2m2) rồi cộng lại.
+ Số hạt trên bông (hạt): Đếm tổng số hạt có trên bông của 5 cây/1ô rồi
lấy giá trị trung bình.
+ Số hạt chắc trên bông (hạt): Đếm tổng số hạt chắc có trên bông của 5
cây/1ô rồi lấy giá trị trung bình.
+ Tỷ lệ hạt chắc (%) = [(Số hạt chắc/bông)/(Tổng số hạt/bông)] x 100
+ P1000 hạt (gam): Mỗi công thức lấy 3 mẫu ở 3 tầng khác nhau (trên,
giữa, dưới), mỗi mẫu 1000 hạt. Mỗi mẫu chia 2 lần cân, mỗi lần 500 hạt, sai số
giữa 2 lần cân không vượt quá 2%, sau đó tính trung bình.
+ Năng suất lý thuyết (tấn/ha):
NSLT (tấn/ha) = (Số bông/m2) x (Số hạt chắc/bông) x (P1000 hạt)/105
+ Năng suất thực thu (tấn/ha):
Sản phẩm thu hoạch ở các lần nhắc lại để riêng (2m 2/ô) và đem phơi khô
(độ ẩm 13% theo qui định của IRRI), quạt sạch và cân lấy khối lượng của từng
lần nhắc lại và tính trung bình.
* Về đất: Tính chất lý hóa học đất trước và sau thí nghiệm: Mẫu đất hỗn
hợp được lấy đại diện trên 5 điểm theo đường chéo góc tại các ruộng được lựa
chọn cho nghiên cứu trước và sau khi thực hiện thí nghiệm ở tầng 0 – 20 cm, sau
đó trộn đều và phơi khô trong không khí và tiến hành rây qua rây 2mm. Phân
tích các chỉ tiêu theo các phương pháp như sau: pH KCl (pH met, tỷ lệ 1:5), OC
(Wakley Black), N tổng số (Kjeldahl), P 2O5 tổng số (So màu trên quang phổ kế),
K2O tổng số (Quang kế ngọn lửa) , NH 4+, NO3- (Kjeldahl) và CEC (Kjeldahl),


-

-

Làm cỏ và tỉa dặm: tiến hành tỉa dặm khi lúa có 4 đến 5 lá đồng thời kết hợp làm
cỏ đợt một. Trước bón thúc lần hai tiến hành làm cỏ sục bùn, cỏ bờ cho ruộng
thông thoáng.
Điều tiết nước: khi lúa giai đoạn cây con giữ mực nước khoảng 3 - 6 cm, thời kì lúa
đẻ nhánh cần mực nước thấp hơn, thời kì làm đòng và trổ bông giữ mực nước 5 - 7
cm, khi lúa bước vào thời kì chín thì rút dần nước đến khi thu hoạch phải tháo cạn
nước.
Phòng trừ sâu bệnh: phòng trừ theo nguyên tắc phòng là chính, trừ khi cần thiết.
Biện pháp phòng: xử lý hạt giống, là sạch cỏ dại, dọn sạch mầm mống cỏ dại
trên đồng ruộng.
Biện pháp trừ: khi sâu bệnh xuất hiện với mật độ dày trên đồng ruộng có
khả năng ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển, năng suất thì bắt buộc phải
dùng biện pháp trừ bằng thuốc.
3.6. Diễn biến thời tiết vụ Hè Thu năm 2014 tại tỉnh Thừa Thiên Huế
Sự sinh trưởng và phát triển của cây trồng nói chung và cây lúa nói riêng
chịu sự tác động của rất nhiều yếu tố, trong đó khí hậu thời tiết là một yếu tố hết
sức quan trọng. Nắm bắt được các yếu tố thời tiết sẽ giúp chúng ta có thể lý giải
một số khác biệt trong thí nghiệm mà sự khác biệt về yếu tố thí nghiệm khác
không thể giải thích được.
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status