TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM HUẾ
Khoa Lâm Nghiệp
KHÓA LUẬN
TỐT NGHIỆP
TÊN ĐỀ TÀI:
Nghiên cứu hiện trạng và đề xuất giải pháp quản lý rừng
ngập mặn ở vùng hạ lưu sông Thạch Hãn, tỉnh Quảng Trị
Sinh viên thực hiện : Trần Tuấn Anh
Lớp
: Quản lý TNR & MÔI TRƯỜNG 45A
Thời gian thực tập
: 04/01 – 08/05
Địa điểm thực tập
: Xã Gio Việt, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị
Giáo viên hướng dẫn : ThS. Võ Thị Minh Phương
Bộ môn
: Quản lý tài nguyên rừng và môi trường
Năm 2015
thái.Trong đó độ mặn và thổ nhưỡng giữ vai trò quan trọng nhất đối với sự phân
bố của các loài cây ngập mặn. Thành phần loài cây có sự thay đổi, tại vùng cửa
sông có quần xã Dừa nước (Nypa fruticans), các vùng có bãi bồi do tỷ lệ cát cao
hơn nên Vẹt dù (Bruguiera gymnorrhiza) thích nghi, còn ở những nơi đất ngập
triều cao thì có quần xã Giá (Excoecaria agallocha) là điển hình, lên càng xa
vùng các cửa sông thì độ mặn giảm nên có các quần xã Bần (Sonneratia ovata)
sinh sống và phát triển phù hợp.
Đa dạngsố lượng loài thực vật bắt gặp cây rừng ngập mặn ở vùng hạ lưu
sông Thạch Hãn là khoảng 10 loài, trong số đó có 8 loài (80%) thực vật ngập
mặn chính thức và 2 loài (20%) thực vật tham gia ở rừng ngập mặn, thuộc 9 họ
thực vật được tìm thấy ở RNM của 3 xã Gio Việt, Gio Mai huyện Gio Linh và
xã Triệu Phước huyện Triệu Phong thuộc tỉnh Quảng Trị, điều này chứng tỏ tính
đa dạng loài không cao, có thể do sự suy thoái về diện tích. Căn cứ vào phương
pháp đánh giá đơn giản nêu trên, thì rừng ngập của vùng hạ lưu sông Thạch Hãn
có độ đa dạng trung bình bởi vì số loài thực vật chính trong rừng khoảng dưới
10 loài cây ngập mặn. Tuy nhiên trong đó có các loài cây ngập mặn như Mắm
(Avicenniaofficinali)s, Bần (Sonneratia caseolaris), Vẹt dù (Bruguiera
gymnorrhiza), Dừa nước (Nypa fruticans), Ngọc nữ biển (Clerodendrum
inerme), Giá (Excoecaria agallocha) là những loài cây thân gỗ khác nhau và
chiếm phần lớn trong tổ thành tạo nên sự tập trung đa dạng của rừng ngập mặn ở
Quảng Trị. Nguyên nhân làm suy thoái diện tích rừng ngập mặn ở Quảng Trị là
do: Chuyển đổi mục đích sử dụng đất và phát triển nuôi trồng thủy sản là 2
nguyên nhân cơ bản. Khai thác cây rừng ngập mặn cho các mục đích dân sinh
(kè chắn, chuồng gia súc…) cũng là nguyên nhân quan trọng. Năng lực quản lý
của cán bộ cấp xã, thôn và nhận thức của cộng đồng về lợi ích của RNM còn ít
đối với họ, nên trách nhiệm quản lý chưa cao cũng là những nguyên nhân và cần
có chiến lược nâng cao nhận thức cho cộng đồng về vai trò của RNM trong xu
thế biến đổi khí hậu tại tỉnh Quảng Trị.
Việt Nam với bờ biển dài 3260 km, nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa,
hằng năm thường xuyên phải hứng chịu những cơn bão và triều cường gây thiệt
hại lớn. Đặc biệt trong những năm gần đây thiên tai bão lũ thường xuyên xảy ra
gây thiệt hại to lớn về sinh mạng và tài sản của người dân.
Biến đổi khí hậu toàn cầu là một trong những thách thức lớn nhất đối với
nhân loại trong thế kỉ 21 và hiện đang đe dọa toàn bộ các hệ sinh thái trên trái đất.
Ngoài những giá trị về kinh tế và đa dạng sinh học thì rừng ngập mặn còn giữ một
vai trò quan trọng trong việc bảo vệ bờ biển, bờ sông, điều hòa khí hậu, hạn chế
xói lở, ổn định đất phù sa mới bồi, hạn chế sự xâm nhập mặn, bảo vệ đê điều,
nước biển dâng.Quảng Trị nằm ở phía nam của vùng Bắc trung Bộ, với tổng chiều
4
dài 75 km đường bờ biển và là vùng có giá trị quan trọng về phát triển kinh tế
biển. Rừng ngập mặn ở Quảng Trị luôn có vai trò quan trọng đối với người dân
sống ở các vùng ven biển, đặc biệt là các vùng cửa sông, nó không những góp
phần giảm thiểu thiệt hại của thiên tai do biến đổi khí hậu gây ra mà còn góp phần
phát triển kinh tế xã hội và an ninh quốc phòng vùng biển đảo.
Tuy nhiên, do cuộc chiến khóc liệt tại Quảng Trị trước đây và định hướng
phát triển kinh tế không bền vững trong thời gian sau chiến tranh đã tác động đến
hệ sinh thái rừng ngập mặn của tỉnh Quảng Trị và thực tế trong những năm gầy
đây RNM đang đứng trước nguy cơ bị thu hẹp về diện tích và suy thoái về đa
dạng sinh học. Vì vậy, việc phục hồi các hệ sinh thái rừng ngập mặn không những
có ý nghĩa về mặt bảo tồn đa dạng sinh học nguồn tài nguyên ven biển mà còn có
ý nghĩa quan trọng đối với việc ứng phó BÐKH và phát triển kinh tế biển đảo
trong chiến lược mới đây của cả nước nói chung và tỉnh Quảng Trị nói riêng.
Ngoài ra mất rừng ở khu vực thượng nguồn và suy thoái rừng là những lý
do chính gây nên hiện tượng suy kiệt đất, tạo nên hàng loạt các tác động tiêu cực
như lũ lụt và hạn hán nghiêm trọng, diện tích và chất lượng rừng ngập mặn ngày
càng giảm. Các nguồn lợi thủy sản củng đang suy giảm, đặc biệt là các hệ sinh
(RNM) như sau: “Rừng ngập mặn là những dạng cấu trúc thực vật đặc trưng của
vùng duyên hải nhiệt đới bảo vệ bờ, gồm các loại rừng: rừng bờ biển (Coastal
woodland), rừng thủy triều (Tidal forest) và rừng ngập mặn (Mangrove forest)”.
Theo quan điểm của Hogarth năm 1999 thì Rừng ngập mặn (RNM) được
hiểu là những cây thân gỗ hay cây bụi mà phát triển trong môi trường sống ngập
mặn.Với những vai trò to lớn như vậy bảo tồn rừng ngập mặn là một vấn đề
quan trọng để duy trì cân bằng hệ sinh thái và cải thiện chất lượng nước vùng
ven biển. Ðồng thời, hệ sinh thái này cũng có vai trò đặc biệt quan trọng trong
việc ứng phó biến đổi khí hậu (BÐKH). Rừng ngập mặn bảo vệ các nguồn nước
ngọt chống lại sự nhiễm mặn, bảo vệ đất đai khỏi sự xói mòn bởi sóng và gió và
góp phần ổn định bờ biển (Semesi, 1998).
Ngập mặn là môi trường sống độc nhiệt đới và thủy triều.
Theo quan điểm của giáo sư Phan Nguyên Hồng (Trung tâm nghiên cứu hệ
sinh thái RNM Việt Nam) thì rừng ngập mặn là kiểu rừng phát triển trên vùng
đất lầy, ngập mặn vùng cửa sông, ven biển dọc theo các sông ngòi, kênh rạch có
nước lợ do thủy triều lên xuống hằng ngày. RNM phát triển mạnh ở vùng nhiệt
đới có khí hậu nóng ẩm và một ít ở vùng cận nhiệt đới. Khác với cây rừng trên
6
đất liền và cây nông nghiệp chỉ sống ở những nơi nước ngọt, cây ngập mặn
(CNM) sống trên nền đất lầy ngập nước mặn định kỳ nên có tên gọi là CNM.
Hệ sinh thái là đơn vị chức năng cơ bản trong sinh thái học, trong đó bao
gồm các thành phần sinh vật và hoàn cảnh vô sinh, giữa các thành phần đó luôn
có ảnh hưởng qua lại đến tính chất của nhau và đều cần thiết cho nhau để giữ gìn
sự sống dưới dạng như đã tồn tại trên trái đất. Các hệ sinh thái là những hệ thống
mở (hở) trong quan hệ vật chất đi vào và đi ra, vì vậy đầu ra và đầu vào hệ sinh
thái là thành phần rất quan trọng.
Khái niệm hệ sinh thái rất rộng và phức tạp, nó giải thích mối quan hệ bên
trong các thành phần sinh vật và hoàn cảnh vật lý trong hệ trao đổi năng lượng
sinh vật, đất đai, tiểu khí hậu được gọi là các thành phần của rừng.
2.1.3. Khái niệm đa dạng sinh học
Đa dạng sinh họcđược định nghĩa là sự khác nhau giữa các sinh vật sống
ở tất cả mọi nơi, bao gồm: các hệ sinh thái trên cạn, sinh thái trong đại dương và
các hệ sinh thái thuỷ vực khác, cũng như các phức hệ sinh thái mà các sinh vật
là một thành phần trong đó. Thuật ngữ đa dạng sinh học này bao hàm sự khác
nhau trong một loài, giữa các loài và giữa các hệ sinh thái khác nhau.
Thuật ngữ "đa dạng sinh học" được đưa ra lần đầu tiên bởi hai nhà khoa
học Norse và McManus vào năm1980. Định nghĩa này bao gồm hai khái niệm có
liên quan với nhau là:đa dạng di truyền (tính đa dạng về mặtdi truyền trong một
loài) và đa dạng sinh thái (số lượng các loài trong một quần xã sinh vật). Cho đến
nay đã có hơn 25 định nghĩa nữa cho thuật ngữ "đa dạng sinh học" này. Trong đó,
định nghĩa của tổ chức FAO (Tổ chức nông lương Liên hiệp quốc) cho rằng: "đa
dạng sinh học là tính đa dạng của sự sống dưới mọi hình thức, mức độ và mọi tổ
hợp, bao gồm đa dạng gen, đa dạng loài và đa dạng hệ sinh thái"
Các giá trị của đa dạng sinh học:
- R.Patrick,1983 cho rằng: Đa dạng sinh học gồm tính đa dạng, trạng thái
khác nhau về đặc tính hoặc chất lượng của sinh vật.
-
-
Sự đa dạng và tính khác nhau của các loài sinh vật sống và các phức hệ sinh
thái mà chúng tồn tại trong đó. Tính đa dạng có thể hiểu là một số lượng xác
định các đối tượng khác nhau và tần số xuất hiện tương đối của chúng. Đối với
đa dạng sinh học, những đối tượng này được tổ chức ở nhiều cấp độ, từ các hệ
sinh thái phước tạp đến các cấu trúc hoá học là cơ sở phân tử của vật chất di
truyền. Do đó, thuật ngữ này bao hàm các hệ sinh thái, các loài, các gen khác
nhau và sự phong phú tương đối của chúng. (theo OTA, 1987).
Đa dạng sinh học còn là sự đa dạng của các sinh vật trên trái đất, bao gồm cả sự
tồn và phát triển RNM vừa là điều kiện, vừa là yêu cầu cấp thiết nhất trong thời
gian biến đổi khí hậu lớn trên toàn cầu như hiện nay.
RNM phân bố chủ yếu ở các vùng cửa sông, ven biển nhiệt đới, chỉ có một
vài loài ở Á nhiệt đới. Theo tác giả Wahsh (1974) phân chia thảm cây ngập mặn
thế giới thành 2 nhóm chính:
-
Khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương gồm: Nam Nhật Bản, Philippins, Đông Nam
Á, Ấn Độ, Bờ biển Hồng Hải, Đông Phi, Australia, New Zealand, quần đảo phía
Nam Thái Bình Dương tới tận đảo Xamoa
-
Khu vực Tây Phi, Châu Mỹ bao gồm bờ biển Châu Phi phía Đại Tây Dương,
đảo Galapagos và Châu Mỹ.
RNM chỉ có thể mọc tốt ở những vùng có khí hậu ấm và ẩm, không sống
được ở những vùng lạnh. Trên thế giới có khoảng 16.670.000ha RNM với hơn
100 loài cây, trong đó châu Á chiếm 41% diện tích (khoảng 7 triệu ha), Châu
9
Mỹ có 5.781.000ha và Châu Phi có 3.402.000ha. Hai nước có diện tích RNM
lớn nhất là Inđônexia và Braxin (mỗi nước rộng hơn 3 triệu ha) (Phan Nguyên
Hồng và cộng sự, 1997).
Trước năm 1969, trong số hơn 5000 thư mục nghiên cứu RNM thế giới
(Rollet, 1981) chưa có một tài liệu nào đề cập đến vai trò của RNM đối với hải
sản W.E. Odum là nhà khoa học người Mỹ đầu tiên tìm ra chuỗi thức ăn trong
dòng năng lượng ở vùng cửa sông Nam Florida khi trình bày luận án tiến sĩ ở
trường Đại học Miami (1969). Sau đó, Odum cùng với Heald (1972), Snedaker
và Lugo (1973) tiếp tục công bố một số tài liệu về vai trò của mùn bã thực vật
Tỷ lệ
(km2)
(%)
Nam và Đông Nam Á
75.173
41,5
Austrailia
18.789
10.4
Châu Mỹ
49.096
27.1
27.999,5
15.5
Đông Phi và Trung Đông
quả này củng giống với kết quả công bố của M.L.Wilkie và cs.(2003) trong báo
cáo “Sự thay đổi diện tích rừng ngập mặn thế giới”.
Năm 1987, theo kết quả của M.D.Spalding, F.Blasco và C.D.Field, thuộc tổ
chức hệ sinh thái rừng ngập mặn thế giới (ISME) rừng ngập mặn Việt Nam có
diện tích 272.300 ha.
Năm 1991, Viện Khoa Học Lâm Nghiệp Việt Nam công bố diện tích rừng
ngập mặn Việt Nam là 260.000 ha.
Năm 1995, các tác giả G.Kelleher, C.Bleakley và S.Well đả báo cáo diện
tích rừng ngập mặn Việt Nam hiện có 200.000 ha.
11
Năm 1996, tại hội nghị cấp vùng ECOTONE V: Sự tham gia của cộng đồng
bảo tồn, sử dụng bền vững và phục hồi rừng ngập mặn ở Đông Nam Á. Trong
báo cáo của Mai Sĩ Tuấn về “Xây dựng chiến lược quản lý rừng ngập mặn ở
Việt Nam” đả ghi nhận diện tích rừng ngập mặn Việt Nam đến năm 1996 có
154.000 ha.
2.3.2. Phân bố vùng rừng ngập mặn
Dựa trên các kết quả nghiên cứu về đặc điểm của các kiểu rừng ngập mặn,
điều kiện tự nhiên, địa lý và kinh tế xã hội, để thuận lợi trong việc quản lý và
thực hiện đề án “Phục hồi và phát triển rừng ngập mặn ven biển giai đoạn 2008
– 2015”, vùng ven biển nước ta có thể chia thành 5 vùng:
-
Vùng ven biển tỉnh Quảng Ninh và đồng bằng Bắc Bộ (QN&ĐBBB) gồm 5 tỉnh
(Quảng Ninh, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định và Ninh Bình).
-
Vùng ven biển Bắc Trung Bộ (BTB) gồm 6 tỉnh (Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh,
Tổng
diện
tích
Tổng
cộng
RTN
RT
1
Quảng Ninh và ĐBBB
88.340
37.651
19.745
17.905
50.689
2
Bắc Trung Bộ
5
Đồng Bằng sông Cửu Long
166.28
128.537 22.400
12
741
26.768
19.444
106.137 7.745
2
Toàn Quốc
323.71
2
209.741
57.610 152.131 113.972
(Nguồn: Rà soát, quy hoạch rừng phòng hộ ven biển – viện ĐTQHR – 2006)
Rừng ngập mặn Việt Nam chủ yếu tập trung ở các tỉnh đồng bằng sông
trong tổng số 12 quần xã ở khu vực nghiên cứu.
Nghiên cứu của Đào Văn Tấn (2005) về “Đặc điểm cấu trúc của một số
quần xã thực vật RNM tại huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An” đã thống kê được
tổng số có 40 loài thuộc 37 chi và 24 họ thực vật có mạch phân bố trong RNM
xã Diễn Kim, Diễn Bích và Diễn Vạn, trong có có 9 loài cây ngập mặn thực sự
và 31 loài cây tham gia và di cư vào RNM. Về công dụng có 20 loài làm dược
liệu, 16 loài có khẳ năng cho gỗ củi, 7 loài cho mật nuôi ong, 18 loài cho giá trị
bảo vệ môi trường, 2 loài ăn được và 3 loài có thể sử dụng vào công dụng khác.
Lê Văn Hiển và Mai Sỹ Tuấn (2003) trong đề tài “Bước đầu nghiên cứu
năng suất rơi rụng và cấu trúc rừng tự nhiên tại Vườn Quốc Gia Xuân Thủy,
Giao Thủy, Nam Định” đã đưa ra một số nhận xét. Năng suất rơi rụng phụ thuộc
rất lớn vào thời tiết, năng suất của Bần chua luôn cao hơn mắm biển.Các loài
cây ngập mặn ra hoa và kết quả vào mùa mưa (tháng 5 – 9), để thuận lợi cho quá
trình nảy mầm của hạt. Tại Vườn Quốc Gia Xuân Thủy có 12 loài thực vật thuộc
9 họ, trong đó có 6 họ thuộc cây ngập mặn thực thụ và 3 họ thuộc cây tham gia
RNM. Mật độ cây rừng là 2,38 cây/m2 độ tàn che là 0,96 với loài cây chủ yếu
quyết định năng suất sinh học của rừng là Bần chua, Mắm biển, Sú và Trang.
Ở vùng nhiệt đới nóng ẩm và trên phù sa màu mỡ nên cây RNM thường
lớn nhanh và đạt kích thước to lớn tới hàng chục mét, trử lượng rừng lên tới
hằng trăm m3/ha. Ngược lại ở những vùng Á nhiệt đới, trên đất xấu RNM
thường có dạng trảng cây bụi với chiều cao cây rừng giới hạn ở mức độ một vài
mét và tổng sinh khối không vượt quá 50 tấn/ha. Tốc độ sinh trưởng cây RNM
trong những năm đầu thường tăng lên, đến khoảng năm thứ 10 – 15 tăng trưởng
ổn định và lại bắt đầu giảm dần. Vào khoảng 35 – 40 tuổi cây rừng chuyển sang
tuổi thành thục tự nhiên, kích thước cây rừng không tăng nữa và nó bắt đầu già
cỗi, gẫy đổ (Phan Nguyên Hồng, 1987; Lee, S.Y., 1999; Đỗ Đình Sâm, 2005).
Đa dạng sinh học cây RNM ở Việt Nam được nghiên cứu từ lâu và gắn liền
với những giai đoạn phát triển. Một số công trình tiêu biểu có:
Nguyễn Thị Ngọc Ẩn (2004), đã đề cập tới con người và sử dụng các
nguồn tài nguyên thiên nhiên như gỗ, các loài động thực vật… Chính con người
đã chuyển đổi nhiều diện tích đất và không gian vốn là nơi cư trú của động vật
hoang dã thành đất sử dụng cho sản xuất nông nghiệp, làm nhà ở, do vậy chỉ
tính riêng gia tăng dân số cũng là nguyên nhân của sự mất mát đa dạng sinh học.
Phan Nguyên Hồng và cộng sự (2004) thống kê được 51 loài cây ngập mặn
và cây tham gia RNM cùng 133 loài cây nội địa chuyển ra ven biển.
Lê Đình Thủy (2004) khi nghiên cứu về khu hệ chim ở khu bảo tồn thiên
nhiên đất ngập nước Ramsar Xuân Thủy đã kết luận đây là nơi dừng chân và trú
đông quan trọng của các loài chim nước di cư, hiện nay đã quan sát được 136
loài chiếm 16,4% tổng số loài chim Việt Nam (828 loài), 31 họ chiếm 38,27%
tổng số họ chim Việt Nam (81 họ) và 14 bộ chiếm 73,68% tổng số bộ chim Việt
Nam (19 bộ). Có 79 loài chim định cư chiếm 58% tổng số loài, có 57 loài di cư
15
chiếm 42% tổng số loài, trong khu bảo tồn cũng ghi nhận 9 loài chim bị đe dọa
và sắp đe dọa ở mức toàn cầu.
Đỗ Văn Nhượng (2001) nghiên cứu về thành phần loài động vật đáy ở
RNM cửa sông Hồng nói chung trong đó có Giao Thủy – Nam Định bao gồm
138 loài. Mật độ và sinh khối của động vật đáy ở trong RNM đa dạng và phong
phú hơn phía ngoài RNM.
Theo số liệu của Viện Lâm Nghiệp vùng đồng bằng sông Cửu Long cho thấy
tính đa dạng sinh học cao với 98 loài cây RNM; ngoài ra ở các hệ sinh thái đất
ngập nước có đến 36 loài thú, 182 loài chim, 34 loài bò sát và 6 loài lưỡng cư;
vùng biển và ven biển có đến 260 loài cá và thủy sản. So với nghiên cứu hệ sinh
thái rừng nói chung thì RNM chưa được chú trọng nghiên cứu cũng như chưa
hiểu biết hết các giá trị cũng như tiềm năng của hệ sinh thái rừng nhạy cảm này.
2.3.4. Diễn biến rừng ngập mặn
Phá RNM và đắp bờ kè làm đầm nuôi trồng thủy sản ngăn cản sự lưu thông
2006;Đỗ Đình Sâm, 2005)
Có nhiều nguyên nhân làm cho diện tích rừng bị giảm sút, trong đó nguyên
nhân chủ yếu là do chiến tranh, phá rừng để lấy đất canh tác nông nghiệp và gần
đây là để nuôi trồng thủy sản. Tuy nhiên rừng ngập mặn chỉ thực sự tàn phá
trong những năm gần đây khi nghề nuôi tôm xuất khẩu trở thành mũi nhọn trong
kinh tế thị trường. Theo số liệu của Phân viện ĐTQHR Nam Bộ, tính đến 1993
diện tích rừng ngập mặn tại bán đảo Cà Mau chỉ còn 43.000ha, trong đó diện
tích các vuông tôm từ 3.000 ha năm 1983 lên gần 200.000 ha năm 1993. Hầu hết
các vuông tôm này đều có nguồn gốc từ rừng ngập mặn. Đến năm 1999 diện tích
suy giảm tới 62% so với năm 1982.
2.3.5. Công tác quản lý rừng ngập mặn
Năm 1996, Viện nuôi trồng thủy sản II trong chương trình phối hợp với Úc
đã thực hiện chương trình PN12, trong đó kết hợp giữa nuôi tôm và trồng RNM.
Chương trình đã khảo sát đánh giá về chất lượng nước và môi trường tại 12
17
điểm theo phương thức Lâm – Ngư kết hợp ở RNM đồng bằng sông Cửu Long.
Nghiên cứu này tập trung vào phân tích về các yếu tố gây ô nhiễm môi trường,
còn các vấn đề liên quan đến đặc điểm tình hình rừng, các diễn biến lâm sinh,
tình hình kinh tế - xã hội và hiệu quả của nó trong phương thức lâm ngư kết hợp
chưa được quan tâm đầy đủ.
Trung tâm nghiên cứu RNM Cà Mau thuộc Viện Khoa Học Lâm Nghiệp
phía Nam cũng đã triển khai nhiều đề tài nghiên cứu về giao đất giao rừng, xây
dựng mô hình sản xuất kết hợp rừng – tôm. Các phương án và dự án được triển
khai và đã có một số thành công nhất định trong thực hiện phục hồi rừng và
quản lý tài nguyên rừng. Tuy nhiên theo đánh giá của nhiều tác giả thì nhiều
chương trình dự án quản lý dự án RNM chưa thành công. Nguyên nhân được
đưa ra đó là việc quy hoạch sử dụng đất mang tính chủ quan, nguồn vốn ít, cùng
với chủ trương chính sách của địa phương chưa đồng bộ…đã dẫn đến thất bại
2.4. Vai trò về sự đa dạng sinh học ven biển
Rừng ngập mặn có nhiều thức ăn cho động vật nên có nhiều loài động vật
quý. Nhiều tài liệu cho thấy rừng ngập mặn Cà Mau trước đây có nhiều hươu,
nai, rắn, kì đà phong phú vì chúng thích ăn trứng chim và chim non, khỉ sống
thành từng đàn trong rừng.
Rừng ngập mặn là hệ sinh thái rất hữu ích, nó tạo ra vật chất hữu cơ để cung
cấp cho nhiều loài sinh vật (Odum and Heald, 1975; Lee, 1989). Các vật chất hữu
cơ này có thể có ảnh hưởng đến chuỗi thức ăn vùng ven biển (Alongi, 1990).
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, sản phẩm phân hủy từ vật rụng rừng ngập
mặn có thể là nguồn cung cấp cacbon chính cho chuỗi thức ăn vùng ven biển
nhiệt đới và cận nhiệt đới (Odum và Heald, 1972; Malley, 1978; Robertson và
Daniel, 1989; Daniel và Robertson, 1990).
Rừng ngập mặn là nơi thu hút nhiều loài chim nước và chim di cư, tạo
thành các sân chim lớn với hàng vạn con dơi quạ, trong mùa sinh sản. Ở tỉnh Cà
Mau có 10 sân chim, dơi quạ, trong đó sân chim lớn nhất là Tân Khánh rộng 130
ha được coi là sân chim lớn nhất Đông Nam Á. Rừng ngập mặn Việt Nam có
nhiều loài chim quý hiếm của thế giới như các loài Cò thìa, Già dẫy, Hạc cổ
trắng…(Võ Quý, 1984).
Rừng ngập mặn đóng vai trò quan trọng trong chu trình dinh dưỡng, là
nguồn cung cấp chất hữu cơ để tăng năng suất vùng ven biển, là nơi sinh đẻ, nuôi
dưỡng, hoặc nơi sống lâu dài cho nhiều hải sản có giá trị như tôm, cá, cua, sò.
RNM được sử dụng làm củi đốt, vật liệu làm nhà ở nông thôn, và quan
trọng hơn đây chính là nơi sinh sản, nuôi dưỡng, và cung cấp thức ăn cho nhiều
loài tôm cá có giá trị thương phẩm cao (Lee, 1995; Rasolofo, 1997; Slim và
cộng sự, 1997; Athithan và Ramadhas, 2000). Những nghiên cứu gần đây nhất
cho thấy rằng RNM góp phần gia tăng sản lượng của nhiều quần thể thủy sinh
vật sống gần dãy san hô ngầm (Mumby và cộng sự, 2004). RNM còn cung cấp
chất hữu cơ và dinh dưỡng như chất đạm và lân cho vùng ven biển từ sự phân
hủy của vật rụng, từ đây hình thành chuỗi thức ăn từ những mảnh vỡ vụn của vật
19
Với vai trò vừa là nơi bảo vệ, nuôi dưỡng con non, con giống vừa cung
cấp thức ăn, RNM đóng góp một cách đáng kể vào sản lượng thủy sản.
Quanh năm lá rơi xuống kênh rạch và trên sàn rừng, rồi lại được nước triều
mang đi, quá trình phân hủy cũng diễn ra liên tục, kể cả mùa khô, mùa mưa.
Ở những vùng đất cao, lá rơi xuống chưa được nước triều mang đi ngay
thì chúng lại bị phân hủy tại chỗ, phần lớn do các loài động vật đất (ốc, sò,
20
còng…) trên sàn rừng. Sản phẩm của quá trình phân hủy này hầu hết là các chất
hữu cơ dễ tan, tập trung ở các lớp đất mặt. Sau một thời gian, lá tiếp tục rơi và
các hợp chất hữu cơ tăng lên dần. Cuối cùng khi toàn bộ khu vực ngập nước
triều, các chất hữu cơ này theo nước triều tràn ra kinh rạch, cửa sông, làm giàu
thêm nguồn thức ăn cho cả một vùng cửa sông và vùng biển nông.
Chỉ trong vài chục năm trở lại đây, một diện tích đáng kể rừng ngập mặn
ở Cà Mau đã bị khai phá làm đầm tôm quảng canh. Hậu quả là vẻ đẹp cảnh quan
mất đi kèm theo hang chục ngàn ha đất bị hoang hóa. Nhiều kênh rạch trước đây
là nơi cung cấp thức ăn, nơi nuôi dưỡng ấu trùng tôm cá, nay bị cát vùi lấp, khí
hậu oi bức và khắc nghiệt cùng nạn ô nhiễm bao trùm cả một vùng rộng lớn.
Một ví dụ điển hình là việc mất rừng do chất độc hóa học của Mỹ đối với rừng
ngập mặn ở miền Nam Việt Nam. Hàng chục ngàn ha rừng bị phá trụi, đất bị
phơi dưới ánh nắng mặt trời, nồng độ muối trên lớp đất mặt Cần Giờ có nơi lên
đến 35 – 40%. Thảm thực vật rừng mất đi ảnh hưởng đến toàn bộ sinh thái, các
điều kiện tự nhiên cũng như khí hậu của khu vực. Sau khi phục hồi rừng, cảnh
quan và khí hậu để thay đổi theo chiều hướng tốt và thành phố Hồ Chí Minh coi
đây là lá phổi của thành phố.
Sự phát triển của rừng ngập mặn và mở rộng diện tích đất bồi là 2 quá
trình luôn luôn đi kèm nhau, trừ một số trường hợp đặc biệt. Nhìn chung những
bãi bồi có điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu phù hợp, có nguồn giống và được bảo
vệ đều có cây ngập mặn. Các dãy rừng ngập mặn đều có thể thấy trên đất bùn
lượng tăng trưởng bình hằng năm là 4 – 6 m 3/ha/năm. Loài Vẹt tách tăng trưởng
về đường kính là 0,48 cm/năm, chiều cao là 0,64 m/năm (Viện ĐTQHR, 1985).
Nhìn chung các lâm phần tự nhiên có mật độ cây cao thì lượng tăng trưởng hàng
năm cũng đạt tới 15 – 20 m3/ha/năm.
Các loại gỗ của rừng ngập mặn thích hợp với nhiều công dụng: phần lớn
được dùng làm cột kèo, xẻ ván làm sàn nhà, đóng các đồ dùng thông thường của
địa phương. Ở nhiều nước cũng dùng làm gỗ tà vẹt, chống lò.
Than Đước, Vẹt được ưa chuộng, phần lớn than đều ít khói, nhiệt lượng
cao: 1kg than đước cho 6.675 kcal và than Vẹt là 6.375 kcal. Than Đước còn
được dùng trong kĩ nghệ luyện kim. Loại than cốc vàng được dùng để chạy máy
tàu trong thời đại chiến thế giới thứ II.
Các cây ở rừng ngập mặn cũng cung cấp một lượng củi quan trọng, nhiều
loại cho củi tốt, nhiệt lượng cao ít khói. Trước đây nhân dân vùng ven biển
Quảng Ninh, Hải Phòng, Nam Định, Ninh Bình thường dùng củi lấy từ rừng
ngập mặn. Như ở Hải Phòng năm 1960 đã khai thác 18.000 tấn củi từ RNM ở
đảo Đình Vũ và vùng lân cận. Việc phát triển trồng rừng ở bãi lầy ngập mặn ven
biển sẽ tạo ra một nguồn cung cấp củi đáng kể. Từ năm 1978 đến nay ngành
Lâm Nghiệp thành phố Hồ Chí Minh đã trồng được 20.000ha rừng Đước trên
đất bị chất độc hóa học tàn phá, không những đã cải tạo môi trường ở đây mà
22
còn cùng cấp một lượng lớn củi cho nhân dân thành phố, bình quân mỗi ha rừng
10 tuổi tỉa thưa lấy được 6 – 7 ster củi và gỗ.
Một sản phẩm quan trọng khác của rừng là Tanin. So với các loài thực vật
khác, lượng Tanin của vỏ nhiều cây ngập mặn khá cao và chất lượng tốt. Tỉ lệ
Tanin ở các loài biến động từ 4,6 – 35,5%. Tanin được dùng trong công nghệ
thuộc da, nhuộm vải sợi, nhuộm lưới đánh cá, làm keo dán, trong công nghệ
dược phẩm, kỹ nghệ in…tùy từng vùng mà khai thác các loại vỏ khác nhau.
-
Xác định thành phần các loài cây ngập mặn trên địa bàn nghiên cứu.
-
Nắm được các kỹ thuật đã gây trồng và các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng và
phát triển của cây ngập mặn như tác động người dân, các yếu tố tự nhiên, các
yếu tố khác…
-
Đề xuất biện pháp quản lý, bảo tồn và phát triển RNM tại hạ lưu sông Thạch
Hãn
3.2. Nội dung nghiên cứu
-
Đặc điểm điều kiện tự nhiên của khu vực nghiên cứu (vị trí địa lí, khí hậu, địa
hình, đất đai, tài nguyên…).
-
Điều kiện kinh tế xã hội của khu vực nghiên cứu (dân số, tình hình sản xuất
nông lâm nghiệp, cơ sở hạ tầng, nguồn thu nhập của người dân…).
-
Đặc điểm rừng ngập mặn vùng hạ lưu sông Thạch Hãn, tỉnh Quảng Trị
-
Thực trạng gây trồng các loài cây ngập mặn tại địa bàn nghiên cứu.
-
Đề xuất một số giải pháp quản lý, bảo tồn và phát triển rừng ngập mặn tại địa
bàn nghiên cứu.
3.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.3.1. Đối tượng nghiên cứu
-
Thảm thực vật rừng ngập mặn tại khu vực hạ lưu sông Thạch Hãn, tỉnh Quảng
Trị.
3.3.2. Phạm vi nghiên cứu
a. Phạm vi về thời gian:Đề tài nghiên cứu được thực hiện trong thời gian từ
ngày 05/01/2015 đến 08/05/2015
b. Phạm vi không gian
Đề tài nghiên cứu tại khu vực hạ lưu sông Thạch Hãn, tỉnh Quảng Trị.
3.4. Phương pháp nghiên cứu
3.4.1. Phương pháp thu thập số liệu
3.4.1.1. Thu thập số liệu thứ cấp
-
Thu thập thông tin, kế thừa các tài liệu đã có về rừng ngập mặn.
-