Ứng dụng GIS xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai tại phường ba đồn,thị xã ba đồn, tỉnh quảng bình - Pdf 34

PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá của mỗi quốc gia, là tư
liệu sản xuất đặc biệt. Đất đai không chỉ là yếu tố quyết định của mọi quá
trình sản xuất mà còn là thành phần quan trọng của môi trường sống, là
địa bàn phân bố các khu dân cư, các công trình kinh tế, xã hội và an ninh
quốc phòng [6 4]. C.Mác đã viết rằng: “Đất đai là tài sản mãi mãi với loài
người, là điều kiện cần để sinh tồn, là điều kiện không thể thiếu được để sản
xuất, là tư liệu sản xuất cơ bản trong nông, lâm nghiệp”. Ngay phần mở
đầu của Luật đất đai 1993 nước CHXHCN Việt Nam có ghi: “Đất đai là tài
nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần
quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân
cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh và quốc phòng. Trải
qua nhiều thế hệ nhân dân ta đã tốn bao công sức, xương máu mới tạo lập,
bảo vệ được vốn đất đai như ngày nay”.[63].
Hiện tại và trong tương lai công nghệ thông tin phát triển mạnh, nó
cho phép ta sử dụng để giải quyết các vấn đề phức tạp của kinh tế - xã hội
và đây cũng là yêu cầu tất yếu đặt ra. Để đáp ứng và khai thác tốt phương
pháp tiên tiến này trong ngành Quản lý đất đai thì yêu cầu cốt lõi đặt ra là
phải có sự đổi mới mạnh mẽ trong tổ chức cũng như chất lượng thông tin.
Thông tin đất giữ vai trò quan trọng trong công tác quản lý đất đai nó là cơ
sở cho việc đề xuất các chính sách phù hợp và lập ra các kế hoạch hợp lý
nhất cho các nhà quản lý phân bổ sử dụng đất cũng như trong việc ra các
quyết định liên quan đến đầu tư và phát triển nhằm khai thác hợp lý nhất
đối với tài nguyên đất đai. Theo BINNS “Hiểu biết đúng đắn các nguồn tài
nguyên thiên nhiên cùng với sự mô tả và ghi chép chính xác các tri thức đó
là yếu tố cần thiếttrước tiên đối với việc sử dụng hợp lý và bảo tồn chúng
một cách tốt nhất (Land Information Management)”[9]. Nước ta, hiện nay
đang trong công cuộc đổi mới chúng ta tiến hành công nghiệp hoá hiện đại
hoá đất nước, nền kinh tế chuyển sang nền kinh tế hàng hóaoá nhiều thành
phần phát triển theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước kéo theo

khoa Đất và Môi trường - trường Đại học Nông Lâm Huế, dưới sự hướng
dẫn trực tiếp của giáo viên: Th.S. Trần Thị Phượng giảng viên bộ môn
Công nghệ quản lýthông tin đất đai – khoa Tài nguyênN đĐất và Môi trường
nông nghiệpNN, tôi tiến hành nghiên cứu thực hiện đề tài:
“Ứng dụng GIS Xxây dựng cơ sở dữ liệu đất đai phục vụ công tác
quản lý đất đai tại phường Ba Đồn, – Thị xã Ba Đồn, – Tỉnh Quảng Bình”.
1.2. MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
1.2.1. Mục đích
-

-

XỨng dụng hệ thống thông tin địa lý (GIS) đểtrong việc xây dựng và quản lý
cơ sở dữ liệu đất đai cho phường Ba Đồn, thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình theo
thông tư 04/2013/TT – BTNMT.
Xây dựng cơ sở dữ liệu tài nguyên đất phục vụ cho công tác quản lý đất đai của
Thị xã Ba Đồn – Tỉnh Quảng Bình phù hợp với thông tư 04/2013/TT – BTNMT

2


và hoàn cảnh thực tiễn tại địa phươngQỨng dụng GIS trong quản lý cơ sở dữ
liệu đất đai bằng GIS.
1.2.2. Yêu cầu
-

-

-


Do chính sách cai trị của thực dân Ppháp, trên lãnh thổ Việt Nam tồn
tại nhiều chế độ quản lý điền địa khác nhau:
-

Chế độ quản lý thủ điền thổ tại Nam kỳ
Chế độ bảo tồn điền trạch, sau đổi thành quản thủ địa chánh tại Trung kỳ
Chế độ bảo thủ để áp (còn gọi là để đương) áp dụng với bất động sản của
người pháp và kiều dân kết ước theo luật lệ Pháp quốc
Chế độ điền thổ theo sắc lệnh 29-3-1925 áp dụng tại Bắc kỳ
Chế độ điền thổ theo sắc lệnh 21-7-1925 (sắc lệnh 1925) áp dụng tại Nam kỳ
và các nhượng địa Pháp quốc ở Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng.
2.1.1.2. Thời kỳ từ sau cách mạng tháng tám năm 1945 đến năm 1979
2.1.1.2.1. Từ năm 1980 đến năm 1988
Quyết định số 201/CP ngày 01 tháng 07 năm 1980 của hội đồng Chính
phủ “về việc thống nhất quản lý ruộng đất và tăng cường công tác quản lý
ruộng đất trong cả nước”, đây được coi là văn bản đầu tiên quy định chế độ
quản lý đất đai thống nhất cả nước sau khi đất nước được thống nhất.
Quản lý nhà nước ruộng đất bao gồm các nội dung như sau:

-

Điều tra, khảo sát và phân bố các loại đất .
Thống kê, đăng ký đất đai.
Quy hoạch sử dụng đất.
Giao đất, thu hồi đất, trưng dụng đất.

4


-

Luật đất đai 1993 ra đời thay thế Lluật đất đai 1988. Luật đất đai 1993
khẳng định lại quyền sở hữu đất đai đồng thời quy định rõ nội dung quản
lý nhà nước về đất đai (7 nội dung). Phân định rõ đất đai thành 6 loại (đất
nông nghiệp, đất lâm7 nghiệp, đất đô thị, đất khu dân cư nông thôn, đất
chuyên dùng và đất chưa sử dụng). Luật quy định quyền của UBND các
cấp trong việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất và cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, quyền của Chính phủ trong việc giao đất theo hạng mức
đất và loại đất.
Luật đất đai 2003: Nội dung của luật gồm 7 chương 146 điều được nước
CHXHCN Việt Nam thông qua ngày 26 tháng 11 năm 2003, có hiệu lực từ
ngày 01/07 năm 2004. Luật này khắc phục tồn tại của luật đất đai 1993 và
các luật sửa đổi bổ sung năm 1998, 2001 đáp ứng yêu cầu quản lý sử dụng
đấtphù hợp với tiến trình hội nhập quốc tế.
Luật đất đai 2013: Nội dung gồm 14 chương 212 điều được CHXHCN Việt
Nam thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2013, có hiệu lực từ ngày 01/07/2014.
2.1.2. Nội dung quản lý nhà nước về đất đai
5


Nội dung về quản lý nhà nước về đất đai được quy định rõ tại điều 22
luật đất đai năm 2013 cụ thể [8]:
1. Ban hành văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai
và tổ chức thực hiện văn bản đó.
2. Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành
chính, lập bản đồ hành chính.
3. Khảo sát, đo đạc, lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng
đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất; điều tra, đánh giá tài nguyên đất;
điều tra xây dựng giá đất.
4. Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
5. Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích

tài nguyên đất đai và địa lý ; nội dung thông tin được phân loại theo đối
tượng địa lý như thuỷ văn, giao thông, dân cư, địa giới, hiện trạng sử dụng
đất, các công trình cơ sở hạ tầng …. Xét về các yếu tố cấu thành, chúng có
thể chia ra thành hai phần cơ bản là cơ sở dữ liệu bản đồ địa lý và cơ sở dữ
liệu đất đai. Thông tin về tài nguyên đất đai đuợc thể hiện bằng dữ liệu bản
đồ và dữ liệu thuộc tính có cấu trúc. Với cách nhìn bản đồ như một hệ cơ sở
dữ liệu, ta thấy rằng bản đồ là tập hợp các dữ liệu địa lý, các dữ liệu này mô
tả các đối tượng trong thế giới thực bằng vị trí toạ độ duới một hệ toạ độ
xác định, ngoài ra dữ liệu địa lý còn chứa đựng các thông tin về thuộc tính
của đối tượng. Việc xác định và ước đoán tài nguyên tự nhiên, môi trường
và đất đai sẽ cung cấp nhiều đối tượng phản ánh mới cho bản đồ.
Cấu trúc CSDLTNĐ: Về nguyên tắc một hệ thống thông tin của
ngành hợp lý nhất là có tổ chức dựa trên cơ cấu tổ chức của ngành chủ
quản, cơ cấu tổ chức được phân thành các cấp Ttrung ương và địa phương.
Thông thường các địa phương đóng vai trò là nơi thu thập, cập nhật các
thông tin chi tiết, cung cấp thông tin đầu vào cho toàn bộ hệ thống và cũng
sẽ là nơi quản lý và sử dụng chủ yếu các thông tin cshi tiết, còn cấp Ttrung
ương nhu cầu chủ yếu lại là các thông tin tổng hợp từ các thông tin chi tiết.
Có 4 phương án lưu trữ và quản lý dữ liệu bao gồm: Quản lý tập trung;
Phân tán bản sao; Phân tán dữ liệu; Phân tán dữ liệu chi tiết; Tập trung số
liệu tổng hợp. Căn cứ vào trình độ quản lý, mức độ ổn định của quy trình
quản lý, phân bố tần xuất sử dụng thông tin giữa các đơn vị để xác định
phương án thích hợp.
Chuẩn hoá CSDLTNĐ: cơ sở dữ liệu tài nguyên đất khi đưa vào sử
dụng phải được chuẩn hoá dữ liệu, đảm bảo tính thống nhất của cơ sở dữ
liệu khi chia sẻ cho nhiều đối tượng sử dụng hoặc hiệu chỉnh từ nhiều
nguồn khác nhau. Việc chuẩn hoá cơ sở dữ liệu phải đáp ứng được các nhu
cầu: Xác định thống nhất cho từng thể dữ liệu, xác định quy trình thống
nhất để chuyển các dữ liệu cũ về dạng chuẩn. Nội dung chuẩn hoá bao gồm:
Cchuẩn hoá thiết bị tin học (hệ điều hành, mạng, thiết bị phần cứng, chuẩn

gian, công nghệ GIS có thể nói là tập hợp hoàn chỉnh các phương pháp và
các phương tiện nhằm sử dụng và lưu trữ các đối tượng [9]..
Định nghĩa theo sự trợ giúp và ra quyết định: GIS có thể coi là một hệ
thống trợ giúp việc ra quyết định, tích hợp các số liệu không gian trong một
cơ chế thống nhất [9]..
Nói tóm lại theo BURROUGHT : “GIS như là một tập hợp các công
cụ cho việc thu nhập, lưu trữ, thể hiện và chuyển đổi các dữ liệu mang tính
chất không gian từ thế giới thực để giải quyết các bài toán ứng dụng phục vụ
các mục đích cụ thể”.
Người sử dụng
GIS
8


Phần mềm + cơ sở dữ liệu
Thế giới thực
Sơ đồ 1 : khái niệm về một hệ thống thông tin địa lý được thể
hiện như sau:

2.3.2. Các thành phần cơ bản của một Hệ thống thông tin địa lý
Một Hệ thống thông tin địa lý bao gồm những thành phần cơ bản
sau:
+
+
+
+

-

-

cụ quản lý các thông tin địa lý ở những dạng dữ liệu khác nhau như Raster,
Vector, hay dạng bảng. MicroStation Geographics bao gồm các chức năng chính
sau đây:
- Thiết kế các đối tượng cơ sở (Feature-base Design)
- Xây dựng các đối tượng hình học (Geometry Clean up and
Validation)
- Tạo lập Topology và phân tích dữ liệu không gian (Topology and
Spatial
Analysis)
- Cung cấp công cụ quản lý cơ sở dữ liệu (Database Tools)
- Thành lập bản đồ chuyên đề và các chú giải (Thematic Mapping
and
Annotation)
- Quản lý bản đồ (Mapnagement)
- Tương thích với hệ Module GIS Environment (MGE compatibility)
Với ngôn ngữ phát triển MDL (MicroStation Development Language),
Microstation Geographics còn cung cấp cho những nhà phát triển phần
mềm và người sử dụng các công cụ mềm dẻo trong việc mở rộng các chức
năng của GIS.
MicroStation Geographics tổ chức cơ sở dữ liệu bản đồ trong các dự
án (Projects). Dự án là sự lựa chọn các đối tượng đặc trưng (Features),
nhóm loại đối tượng (Categories), các loại bản đồ (Maps) và các thuộc tính
khác được định nghĩa trong khi tổ chức các thông tin địa lý. Các thành
phần chính trong một dự án của MicroStation Geographics bao gồm:
-

Phân nhóm đối tượng (Category)
Phân lớp đối tượng (Feature)
Các lệnh thao tác xử lý (Command)
Các loại bản đồ (Maps)

chức năng phân tích dữ liệu như: Overlay, Network, … tạo nlên sức mạnh
trong khai thác dữ liệu địa lý trên cơ sở các phép toán không gian cũng như
khả năng mô hình hoá các đối tượng địa lý. Theo quan điểm của GIS thì
ArcInfor có ba chức năng: xây dựng cơ sở dữ liệu địa lý, phân tích và trình
bày dữ liệu địa lý. Ở Nước ta, ArcInfor không chỉ ứng dụng để xây dựng
bản đồ mà được ưa chuộng áp dụng trong các ngành như: Địa chất, Địa
chính, Nông nghiệp, Quy hoạch đô thị, …
MapInfo là một công cụ rất quan trọng trong việc xây dựng, quản lý,
cập nhật, xử lý, phân tích và mô hình hoá các đối tượng địa lý, MapInfo tổ
chức, quản lý cơ sở dữ liệu theo các lớp đối tượng địa lý trên máy tính bởi
các File dữ liệu với các phần mở rộng như sau:
-

[*.Tab]: Chứa các thông tin mô tả cấu trúc dữ liệu.
[*.Dat]: Chứa các thông tin nguyên thủyuỷ.
[*.Map]: Chứa các thông tin mô tả đối tượng không gian.
[*.ID: ]: Chứa các thông tin về chỉ số liên kết không gian và thuộc tính.
[*.Ind]: Chứa các thông tin về chỉ số đối tượng.
2.3.3.3. Phần mềm ArcGISMap
ArcGIS Map là phần mềm hệ GIS cũng giống như ArcInfo và
MapInfo, nó có chức năng như:
11


-

-

-


phim video, … để tăng thêm khả năng giải thích thông tin. Các thông tin
đầu vào được thực hiện trên cơ sở các tư liệu hiện có ở dạng tương tự và
các tư liệu ở dạng số. Các thông tin bản đồ ở dạng tương tự, các dữ liệu trên
giấy sẽ được đưa vào CSDL thông qua quá trình số hoá hoặc từ bàn phím
máy tính. Các dữ liệu kết quả được lưu trữ ở dạng số theo khuôn dạng
thống nhất. Các thông tin bản đồ cũng như thông tin thuộc tính ở dạng số
cần được chuẩn hoá trước khi đưa vào CSDL.
2.4.2. Xử lý dữ liệu

12


Sau khi đã nạp các thông tin đầu vào các phương tiện lưu trữ dữ liệu,
chúng ta cần tổ chức các dữ liệu theo một cấu trúc thống nhất. Mục tiêu của
công việc này là để bảo vệ thông tin, dễ tìm thông tin, dễ loại bỏ những thông
tin cũ và dễ bổ xung những thông tin mới. Quản trị cơ sở dữ liệu là hoạt động
của con người có sự trợ giúp của các phần mềm để hình thành một cấu trúc hợp
lý các dữ liệu đang được lưu trữ đang được lưu trữ, cấu trúc này phải đảm bảo
các điều kiện:
-

Lượng thông tin dư thừa là tối thiểu
Mối quan hệ giữa các dữ liệu là thống nhất
Dễ dàng tác động vào dữ liệu để thực hiện công việc quản trị dữ liệu như
tìm kiếm theo yêu cầu, cập nhật dữ liệu, giải các bài toán ứng dụng phổ
biến, hiển thị dữ liệu theo yêu cầu của người dùng.
Phần cơ sở dữ liệu chung là phần được quản lý riêng biệt, có những
mục tiêu riêng tạo cơ sở cho cả phần dữ liệu bản đồ và dữ liệu thuộc tính,
phần này bao gồm hệ quy chiếu, hệ toạ độ - độ cao, hệ thống ảnh phủ trùm,
hệ thống biên giới và địa giới, các dữ liệu thuyết minh về dữ liệu khác có

trưng. Cơ sở toán học cho chức năng này là đại số bản đồ. Chính ở điều này
làm cho các hệ GIS khác với các thiết kế khác và đây cũng là một tiêu
chuẩn đặc trưng để đánh giá về khả năng của một hệ GIS.
Các phép xử lý, phân tích của chức năng này dành riêng cho dữ liệu
không gian. Ngoài ra, GIS còn có khả năng phân tích không chỉ với dữ liệu
không gian mà còn phân tích cả hai loại dữ liệu không gian và phi không
gian trong mối liên hệ thống nhất với nhau. Các khả năng cơ bản của GIS
là:
-

Chuyển đổi hệ toạ độ, phép chiếu, nắn chỉnh bản đồ
Thực hiện các phép toán số học, logic, hình học, đại số
Chồng xếp, làm sạch, làm trơn, tách hoặc hợp các lớp thông tin không gian
và phi không gian
Phân loại các lớp thông tin trên bản đồ
Nội suy bề mặt cho điểm, đường, tạo bề mặt địa hình từ các đường đồng
mức, tạo ảnh phối cảnh ba chiều, tính toán độ dốc
Tính toán thống kê khoảng cách, mô hình hoá và kết hợp với các hệ chuyên
gia
Xác định chọn lọc vùng theo một tiêu chuẩn bất kỳ.
2.5. TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH ỨNG DỤNG GIS TRONG XÂY
DỰNG CƠ SỞ DỮ LIỆU TÀI NGUYÊN ĐẤT
2.5.1. Tình hình ứng dụng trên thế giới
Năm 1964 Canada đã xây dựng Hệ thống thông tin địa lý đầu tiên
trên thế giới có tên gọi là Canadian Geographical Information System. Song
song với Canada, tại Mỹ hàng loạt các trường đại học cũng tiến hành
nghiên cứu và xây dựng các Hệ thống thông tin địa lý. Tuy nhiên rất nhiều
hệ thống trong số đó đã không tồn tại được bao lâu do khâu thiết kế cồng
kềnh và giá thành quá cao. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu ở giai đoạn này
đã đưa ra những lý luận nhận định quan trọng về vai trò, chức năng của Hệ

những nghiên cứu khả thi về hệ thống CSDL này đã được tiến hành từ năm
1996.
Ở các nước trong khu vực Đông Nam Á, Liên Hợp Quốc chủ trì
chương trình Cơ sở hạ tầng về Thông tin Địa lý Châu Á -– Thái bình dương
(GIS Infastructure for Asia and the Pacific) bắt đầu từ năm 1995 tại
Malaysia. Với sự hình thành các nhóm nghiên cứu về: hệ quy chiếu và địa
giới hành chính, hệ thống pháp lý, bản đồ nền, chuẩn hoá thông tin, kể từ
năm 1997 chương trình này tập trung nghiên cứu xây dựng hệ quy chiếu hệ toạ độ khu vực và cơ sở dữ liệu không gian và khu vực. Nói tóm lại vấn
đề xây dựng các CSDL địa lý toàn cầu và khu vực đang là một nhu cầu lớn
15


đựơc nhiều nước quan tâm nhằm giải quyết các vấn đề mang tính chiến
lược phát triển đối với mỗi quốc gia cũng như trên toàn cầu.
2.5.2. Tình hình ứng dụng ở Việt Nam
Ở nước ta, công nghệ GIS mới chỉ được chú ý trong vòng 10 năm trở
lại đây, tusy nhiên phần lớn mới chỉ dừng lại ở mức xây dựng cơ sở dữ liệu
cho các dự án nghiên cứu. Một số phần mềm lớn của GIS như ARCINFO,
MAPINFO, MAPPING OFFICE, … đã được sử dụng ở nhiều nơi để xây
dựng lại bản đồ địa hình, địa chính, hiện trạng trên phạm vi toàn quốc. Sự
kết hợp giữa công nghệ viễn thám và GIS đã bắt đầu được ứng dụng trong
một số nghiên cứu về nông lâm nghiệp như trong công tác điều tra quy
hoạch rừng (Viện điều tra quy hoạch rừng), công tác điều tra đánh giá và
quy hoạch đất nông nghiệp của viện quy hoạch, thiết kế nông nghiệp, …
Năm 1998 Tổng cục địa chính (nay là Bộ Tài nguyên và Môi trường)
đã xây dựng dự án khả thi xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về tài nguyên
đất (bao gồm cơ sở dữ liệu địa lý và cơ sở dữ liệu đất đai), mục tiêu của dự
án: Nghiên cứu phân tích thiết kế tổng thể hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia
về tài nguyên đất và kế hoạch triển khai dài hạn. Theo dự án, trong giai
đoạn 2000 -– 2010 sẽ tập trung xây dựng cơ sở hạ tầng thông tin cho cơ sở

dụng đất, đáp ứng yêu cầu phát triển lành mạnh, thông thoáng thị trường
bất động sản thông qua việc hỗ trợ quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội,
thu hút đầu tư, lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; đăng ký đất/bất động,
định giá đất/bất động sản. Sau khi hoàn thành xây dựng cơ sở dữ liệu quốc
gia về tài nguyên đất, hệ thống thông tin đất đai không chỉ đáp ứng yêu cầu
quản lý đất đai/thị trường bất động sản mà còn đáp ứng yêu cầu quản lý
nhà nước về Tài nguyên và Môi trường góp phần thực hiện thành công sự
nghiệp Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đất nước.

17


PHẦN 3:ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
3.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu là các thửa đất và các thông tin có liên quan đến
các thửa đất trên địa bàn pPhường Ba Đồn, Thị thị xXã Ba Đồn.
Các chức năng xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai của Phần mềm ArcGISRC
MAP 10.2
3.2.xây dựng bản đồ CSDL đất đai tại 1 tờ bản đồ địa chính thuộc phường
Ba Đồn.
PHẠM VI NGHIÊN CỨU
3.2.1.Phạm vi không gian
Đề tài nghiên cứu tại 1 tờ bản đồ địa chính thuộcđược thực hiện ở
phường Ba Đồn –, Thị Xã Ba Đồn –, Tỉnh Quảng Bình.
3.2.2. Phạm vi thời gian
Đề tài thực hiện trong khoảng thời gian từ ngày 8 tháng 1 năm 2015
đến ngày 8 tháng 54 năm 2015.
3.3. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
3.3.1. Đặc điểm tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và thực trạng phát triển

Sử dụng phần mềm GIS (Arcmap) để thực hiện xây dựng cơ sở dữ
liệu đất đai của phường Ba Đồn phù hợp với yêu cầu quản lý và sử dụng
đất đai dựa trên các chính sách của Nnhà nước về đất đai; thông tư 04/2013
– TT/BTNMT và hoàn cảnh thực tiễn của địa phương. Do thời gian thực tập
và thực hiện đề tài là có hạn nên không thể nghiên cứu và xây dựng trọn vẹn cơ
sở dữ liệu đất đai như Luật đất đai qui định, nên đề tài chỉ đề cập và xây dựng cơ
sở dữ liệu địa chính, cơ sở dữ liệu quy hoạch sử dụng đất và cơ sở dữ liệu điều
tra cơ bản về đất đai.
3.3.4. Quản lý và cung cấp thông tin phục vụ công tác quản lý đất đai
Khai thác tính năng của phần mềm ArcMap trong việc cung cấp các
thông tin trong Hệ thống cơ sở dữ liệu đã xây dựng nhằm phục vụ cho công
tác quản lý đất đai, đưa ra các ví dụ cụ thể.
3.4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.4.1. Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
- Số liệu thứ cấp thu thập được từ phòng TN&MT thị xã Ba Đồn, bao gồm
các loại sổ sách phục vụ công tác xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai: sổ địa chính,
sổ mục kê, sổ cấp giấy….Số liệu thứ cấp phải được cung cấp từ chuyên viên
quản lý đất đai của phòng TN&MT để đảm bảo tính chính xác:
+ Thu thập bản đồ: phường Ba Đồn có một hệ thống bản đồ tương đối đầy
đủ, dựa vào yêu cầu của đề tài tôi đã tiến hành liên hệ với cán bộ phòng tài
nguyên thị xã Ba Đồn thu thập được các bản đồ: bản đồ hiện trạngang sử
dụng đất năm 2010, bản đồ địa chính được chỉnh lí biến động năm 2013,
bản đồ hệ thống thủy lợi, bản đồ mạng lưới giao thông.

19


+ Thu thng đất năm 2010, bản đồ địa chính được chỉnh lí biến động năm 2013,

bản đồ hệ thống thủy lợi, bản đồ mạng lưới giao thông.cán bộ phòng tài nvà sn

Phương pháp đối soát thực địa.
Phương pháp nhập số liệu.
Dùng phần mềm Microstation và các phần mềm như: Famis,
Geovec, Mrfclean, Mrfflag để sửa lỗi cho các bản đồ
Sử dụng phần mềm MapInfo để thực hiện chuyển đổi dữ liệu
Dùng phần mềm ArcMap để xây dựng CSDL.
Phương pháp xử lý và phân tích số liệu
Phương pháp xử lý, phân tích dữ liệu thuộc tính và dữ liệu không gian: khi đã
thu thập được đầy đủ dữ liệu cần thiết để tiến hành xây dựng cơ sở dữ liệu cần
xử lý và phân tích dữ liệu không gian và dữ liệu thuộc tính có trùng khớp với
nhau không, có đúng với thực tế không thông qua việc đó để chuẩn hóa lại thông
tin sẽ có trong cơ sở dữ liệu.Dùng phần mềm của ArcGIS (ArcMap)10.2 để tiến
hành xây dựng cơ sởdữ liệu tài nguyên đất.
Dùng phương pháp phân tích và xử lý số liệu
SXử dụng phần mềm Excel trong việc tính toán và thống kê số liệu: để tiến
hành liên kết dữ liệu không gian và dữ liệu thuộc tính cần tiến hành tổng hợp và
sửa chữa trên phần mềm trung gian để tiện cho công tác nhập dữ liệu, excel là
phần mềm thích hợp có khả năng tổng hợp và sửa chữa nhanh chóng, chính xác
và excel cũng có thể liên kết với phần mềm ArcGIS 10.2.
Tiến hành xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai thông qua các công cụ có trong phần
mềm ArcGIS 10: export data; join; merge… Quy trình thành lập cơ sở dữ liệu
bản đồ được thể hiện chi tiết theo hình 3.1.
20


Thu thập dữ liệu
Dữ liệu thuộc tính
Các bản đồ giấy
Các điểm đi GPS
Nhập

file đề cươn
4.1.1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiênVHÁI QUÁT V pháp nghiên ciu của
em
Thị xã Ba Đồn nằm ở phía Bắc tỉnh Quảng Bình, được thành lập trên cơ sở
điều chỉnh địa giới hành chính của huyện Quảng Trạch. Tọa độ địa lý của thị xã
nằm khoảng từ 106015’ – 106034’ Kinh Đông; 17042’ – 17059’ Vĩ Bắc, có vị trí
tiếp giáp như sau:
-

Phía Đông giáp Biển Đông;
Phía Tây giáp huyện Tuyên Hóa;
Phía Nam giáp huyện Bố Trạch;
Phía Bắc giáp huyện Quảng Trạch.
Thị xã Ba Đồn có tổng diện tích tựư nhiên là 16.318,28 ha với 16 đơn vị
hành chính, bao gồm 6 phường và 10 xã. Trong đó phường Ba Đồn là trung tâm
của Thị xã và là nơi đặt các cơ quan hành chính của Thị xã.
Thị xã nằm trên các trục giao thôong huyết mạch Bắc – Nam, Quốc lộ 12A,
có đường sắt, đường sông và đường biển, cách khu kinh tế Hòn La 30km về phía
Nam, cách thành phố Đồng Hới 40 km về phía Bắc… đây là điều kiện rất thuận
lợi để Ba Đồn phát triển kinh tế và giao lưu văn hóa xã hội.
Đặc điểm địa hình địa mạo


o
o
o

Địa hình củauat Thị xã Ba Đồn chia thành các dạng sau:
Đồng bằng
Ven biển

-

-

Sông chính chảy qua địa phận Ba Đồn là sông Gianh với chiều dài khoảng 15
km, ngoài ra còn có các hệ thống sông nhỏ khác như sông Rào Nam, sông Kênh
Kịa, sông Rào Tường… với diện tích lưu vực là 3.067 ha.
Chế độ thủy triều của biển và các cửa sông ven biển chịu ảnh hưởng của chế độ
bán nhật triều.
Các nguồn tài nguyên

a.

Tài nguyên đất
Tổng diện tích tự nhiên của toàn thị xã là 16.318,28 ha. Trong đó đất nông
nghiệp là 10.988,32 ha; đất phi nông nghiệp là 4.354,53 ha; đất chưa sử dụng là
975,43 ha. Chia thành các nhóm đất sau: nhóm đất cát, nhóm đất phèn, nhóm đất
phù sa, nhóm đất xám, nhóm đất tầng mỏng.

b.
-

-

c.

Tài nguyên nước
Nguồn nước mặt: nằm trong vùng có lượng mưa tương đối dồi dào (2.100 -–
2.300 mm/ năm) và hệ thống sông suối khá nhiều nên dòng chảy của các sông
suối trong khu vực cúng khá dồi dào, ngoài ra còn có nhiều công trình hồ, đập.


-

Thuận lợi
Thị xã Ba Đồn nằm ở vị trí là các điểm giao thoa giữa 2 miền Nam – Bắc, có
tuyến quốc lộ 1A, tuyến đường sắt Bắc – Nam, quốc lộ 12A chạy qua.
Có đường biển dài 10 km, có cửa biển, cảng cá, cảng hàng hóa cho phép phát
triển tổng hợp kinh tế biển.
Tài nguyên đất có nhiều nhóm, loại đất và với các tiểu vùng khí hậu đặc thù cho
phép để phát triển một nền nông nghiệp đa dạng.
Tài nguyên khoáng sản tuy không phong phú nhưng có ý nghĩa quan trọng trong
sự phát triển công nghiệp xây dựng của thị xã.
Nhiều di tích lịnh sử, danh lam thắng cảnh tạo điều kiện phát triển các ngành
nghề du lịch và dịch vụ
Khó khăn
Khí hậu khắc nghiệt, bão tố, mưa lớn kéo dài, gió mùa Tây nam khô nóng, lũ,
lụt, hạn hán, cát bay, nhiễm mặn… đã gây thiệt hại không nhỏ cho sản xuất và
đời sống sinh hoạt của nhân dân.
Địa hdình hơi thấp và chia cắt dễ bị ngập lụt gây khó khăn trong việc đầu tư xây
dựng, cải tạo đồng ruộng và bố trí cơ sở hạ tầng. Chất lượng đất nhiều khu vực
xấu do hiện tượng nhiễm mặn, xói mòn rửa trôi và sa mạc hóa.
Hệ thống các sông suối, thảm thực vật suy giảm hạn chế đến khả năng điều tiết
nguồn nước và bảo vệ môi trường.
Vị trí xa trung tâm kinh tế lớn, nguồn tài nguyên trữ lượng nhỏ, phân tán hạn
chế đến khả năng phát triển và thu hút đầu tư.
Còn nhiều hạn chế về nguồn lực con người và tài chính trong quá trình phát triển
kinh tế - xã hội.
4.1.3. Kinh tế - xã hội

a.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status