BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
ĐỀ CƯƠNG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CAO HỌC THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH: TRỒNG TRỌT
Tên đề tài:
THÀNH PHẦN, SỰ BIẾN ĐỘNG
SỐ LƯỢNG CỦA MỘT SỐ LOÀI SÂU HẠI CHÍNH
VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ CHÚNG TRÊN CÂY LẠC
Ở THỊ XÃ THÁI HÒA, TỈNH NGHỆ AN
Người thực hiện:
Nguyễn Minh Hải
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thị Thanh
VINH, 2013
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trên thị trường thương mại thế giới Lạc là một mặt hàng nông sản xuất
khẩu đem lại kim ngạch cao của nhiều nước trên thế giới, nên diện tích trồng lạc
không ngừng gia tăng và mở rộng. Riêng đối với nước ta, có nhiều vùng trồng
lạc cho năng suất cao như vùng duyên hải Bắc Trung Bộ, cây lạc đang là thế
mạnh của vùng. Và khi, sự biến đồi khí hậu toàn cầu được dự báo ảnh hưởng bất
lợi đến sản xuất nông nghiệp thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng thì Lạc là
một trong số những cây trồng tiềm năng được khuyến cáo sử dụng.
Lạc (Arachis hypogaea L.) là loại cây công nghiệp ngắn ngày, một trong
những cây lấy dầu có giá trị kinh tế cao. Sản phẩm chính của cây lạc là hạt – có
II. MỤC TIÊU ĐỀ TÀI
- Cung cấp các dẫn liệu khoa học về thành phần sâu hại và biến động số lượng
của một số loài chính trên trên cây lạc từ đó làm cơ sở cho công tác dự tính, dự
báo và đưa ra kế hoạch kiểm soát sâu hại trên đồng ruộng.
- Bước đầu cung cấp các dẫn liệu phòng trừ bằng thuốc hóa học đối với các
đối tượng sâu hại chính (rệp muội đen, sâu xanh) trên cây lạc trong điều kiện
thực nghiệm.
III. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
(1) Nghiên cứu thành phần loài sâu hại trên cây lạc
(2) Nghiên cứu biến động số lượng của một loài hại chính trên lạc (Sâu
khoang, sâu xám, rệp muội đen, bọ cánh cứng ăn lá).
(3) Sử dụng biện pháp hoá học để phòng trừ rệp muội đen, sâu xanh hại
lạc.
IV. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Những nghiên cứu nước ngoài.
2.1.1. Tình hình sản xuất lạc.
Cây lạc (Arachis hypogeae L.) được trồng phổ biến từ những miền khí
hậu nhiệt đới, bán nhiệt đới tới những vùng ở 40 0 vĩ Bắc và những vùng phía
Nam xích đạo. Đây là cây trồng có nguồn gốc từ vùng Gand Chaco thuộc phía
Nam châu Mỹ và được trồng ở Mexico từ thời tiền Columbian. Đến thế kỷ XVI
người Tây Ban Nha đưa đến miền Tây châu Phi, Philippines, Trung Quốc, Nhật
Bản, Malaixia, Ấn độ và Mandagasca. Các nước sản xuất lạc nhiều nhất thế giới
bao gồm Ấn Độ, Trung Quốc, Nigeria, Mỹ, Indonesia, Senegan, Malawi,
Brazin, Xu Dăng, Achentina. Trong thập niên 80, các nước này chiếm tới 80%
cả về năng suất lẫn sản lượng. Ấn Độ là nước có diện tích và sản lượng lớn nhất
trên thế giới (40,2% diện tích, 33% sản lượng), (Hill et al, 1985) [44]. Năng suất
lạc ở Ấn độ lại thấp dưới mức trung bình, năng suất lạc cao nhất ở Ixaren đạt 65
tạ/ha [27].
khoang, sâu cuốn lá ...Theo Smith, et al (1982) [52], trong số loài côn trùng gây
hại trên lạc, bộ cánh vẩy có số loài khá phong phú. Họ đã thống kê được trên 60
loài. Tuy nhiên có rất ít loài làm hạn chế đến năng suất lạc hoặc gây hại có ý
nghĩa kinh tế. Cũng theo tài liệu trên, nhóm chích hút có tới 100 loài, riêng bọ
trĩ có tới 19 loài gây hại trên lạc.
Ở vùng nhiệt đới, Hill, et al (1985) [44] đã thống kê được 48 loài sâu hại
trên lạc, trong đó có 8 loài sâu hại chủ yếu và 40 loài gây hại thứ yếu. Những
loài gây hại đặc biệt nguy hiểm như rệp đen (Aphis craccivora Koch), sâu
khoang (Spodoptera litura Fabr.), sâu xanh (Helicoverpa armigera Hubner), sâu
xám (Agrotis ifsilon Rotr), ban miêu (Epicauta impresicornic Pic) và các loài
Epicauta spp.
Vùng Đông Nam châu Á có 37 loài sâu hại trên lạc trong đó 19 loài có
mức phổ biến cao (Waterhouse, 1993) [58]. Cũng theo tác giả (1997) [59] ở
vùng Tây Nam Thái Bình Dương, đã xác định được 157 loài sâu hại lạc trong số
160 loài thu được, có 46 loài quan trọng và có ít nhất 25 loài đã được đầu tư
nghiên cứu tỉ mỉ. Một số loài đã được áp dụng biện pháp phòng trừ có hiệu quả.
Tuy nhiên, tùy vào các vùng địa lý khác nhau mà thành phần loài cũng như các
loài sâu hại chính có khác nhau.
Ở Ấn Độ, theo đánh giá Ranga Rao, et al (1993) [49], sâu hại lạc có thể
giảm 15 - 20% năng suất.
Ở Thái Lan, Nualsri Wongsiri (1991) [47], cây lạc bị 34 loài sâu hại và 2
loài nhện hại tấn công. Trong đó, bộ cánh vẩy có 9 loài, bộ cánh đều 7 loài, bộ
cánh cứng và bộ cánh tơ mỗi bộ 6 loài, bộ cánh nửa 4 loài, bộ cánh màng và
cánh bằng mỗi bộ thu được 1 loài (kiến và mối).
Theo Wallis E. S, et al (1986) [56], trên cây lạc chỉ tính riêng sâu đục củ
và hại rễ đã có tới 15 loài, thuộc 12 họ, 9 bộ côn trùng.
Tại Trung Quốc, Ching Tieng Tseng (1991) [42] các loài gây hại ảnh
hưởng lớn đến hiệu quả kinh tế của sản xuất lạc gồm: Sâu khoang (Spodoptera
thấy trồng cây Hướng dương trên ruộng lạc ngoài việc có tác dụng dẫn dụ
trưởng thành sâu khoang và sâu xanh đến đẻ trứng thì đây còn là nơi đậu của
những loài chim đến bắt sâu. (Ranga Rao G. V, et al (1994) [50].
2.2. Những nghiên cứu trong nước.
2.2.1. Tình hình sản xuất lạc.
Việt Nam, lạc được phân bố trên 4 vùng chính: Trung du Bắc bộ, đồng
bằng Sông Hồng, Khu IV cũ và Đông Nam bộ. Bốn vùng này chiếm 74,9% diện
tích và 74% sản lượng, vùng lớn nhất là Đông Nam bộ chiếm 25% diện tích,
29% sản lượng. Tỉnh có nhiều lạc nhất là Nghệ Tĩnh chiếm 13,7% diện tích và
12,7% sản lượng. Tuy nhiên năng suất mới chỉ đạt 9,8 tạ/ha, thấp hơn năng suất
bình quân của thế giới là 1,2 tạ/ha, Lê Văn Diễn, (1991) [12].
Tác giả Đoàn Thị Thanh Nhàn (1996) và ctv [27] cho rằng, những năm
chiến tranh (1955 - 1975) diện tích lạc cả nước cao nhất chỉ đạt 86 nghìn ha,
ngay sau khi thống nhất đất nước, sản xuất lạc tăng nhanh và những năm 80
diện tích lạc đã vượt quá 200 nghìn ha với sản lượng trên 200 nghìn tấn. Đến
năm 1994 đã đạt 246 nghìn ha với sản lượng trên 300 nghìn tấn. Tuy nhiên năng
suất lạc vẫn chưa cao mới chỉ đạt 11,9 tạ/ha. Những vùng trồng lạc chính ở nước
ta: Vùng Trung du Bắc bộ (chiếm 10%), vùng khu IV cũ (chiếm 15 - 20%),
vùng Tây nguyên và Đông Nam bộ (chiếm 30 - 35%). Ngoài ra, vùng Nam
Trung bộ (Quảng Nam, Quảng Ngãi) cũng trồng lạc với diện tích tương đối lớn.
Năm 1994 các tỉnh có diện tích trồng lạc lớn là: Tây Ninh (31,7% nghìn ha),
Nghệ An (21,8 nghìn ha), Sông Bé (13,4 nghìn ha), Đắc Lắc (12,3% nghìn ha),
Thanh Hóa (11 nghìn ha).
Theo Tổng cục thống kê (2004) [31], diện tích trồng lạc phân bố cụ thể:
Vùng đồng bằng Sông Hồng 33,6 nghìn ha chiếm 12,98%, Đông Bắc bộ 34,4
nghìn ha chiếm 13,3%, Tây Bắc bộ 8 nghìn ha chiếm 3,1%, Bắc Trung bộ 79,2
nghìn ha chiếm 30,2%, Tây Nguyên 24,8 nghìn ha chiếm 9,6%, Đông Nam bộ
với giống lạc Sen, mặt khác khả năng chịu hạn và chịu sâu bệnh tốt hơn, giống
V79 cũng cho năng suất cao hơn giống lạc Sen từ 15 - 20%, Nguyễn Quỳnh
Anh (1995) [1].
2.2.2. Những nghiên cứu về sâu hại lạc.
Kết quả nghiên cứu của chuyên gia thuộc ICRISAT (1993) [45] cho thấy,
ở miền Bắc Việt Nam, có 51 loài sâu hại trên lạc. Trong đó, 47 loài hại trên
đồng ruộng, 4 loài hại trong kho. Các loài sâu gây hại tác hại đáng kể là sâu
khoang, sâu đục quả đậu đỗ, sâu xanh, bọ phấn, rầy xanh, bọ trĩ, rệp đen, sâu
cuốn lá và sùng trắng ...Còn ở miền Nam thu được 30 loài sâu hại trên lạc.
Trong đó, 28 loài hại trên đồng ruộng và 2 loài gây hại trong kho. Những loài
gây hại đáng kể ở miền Nam là sâu khoang, sâu xanh, sâu róm, sâu keo da láng,
sâu đục lá.
Theo kết quả điều tra cơ bản côn trùng năm 1967 - 1968 của Viện Bảo vệ
thực vật thì riêng miền Bắc đã có đến 45 loài sâu hại lạc khác nhau [33].
Tác giả Nguyễn Văn Cảm (1983) [4], ghi nhận 43 loài côn trùng hại lạc ở
một số tỉnh trồng lạc phía Nam Việt Nam.
Theo Lương Minh Khôi (1991a) [19], vùng Hà Nội có 21 loài thường
xuyên xuất hiện gây hại trên lạc. Trong đó có 10 loài gây tổn thất đáng kể về
kinh tế gồm: sâu xám, bọ trĩ, rệp đen, sâu cuốn lá, sâu khoang, sâu xanh, ban
miêu đen sọc trắng, rầy xanh lá mạ và sâu róm chỉ đỏ. Trong lạc xuân chủng loại
sâu nhiều hơn và thường xảy ra dịch. Các loài thường xảy ra dịch là sâu khoang
(ở thời kỳ đâm tia - Phát triển quả) và các loài quan trọng khác như sâu cuốn lá,
câu cấu và sâu róm. Ngược lại vụ hè thu các loài như rầy xanh, bọ trĩ hay phát
sinh mạnh ở đầu vụ còn cuối vụ thì sâu róm thường phát triển mạnh. Thời vụ
muộn thường bị sâu sâu hại nặng hơn vụ sớm.
Kết quả nghiên cứu của Phạm Văn Lầm (2002) [24], ở nước ta có 85 loài
sâu hại lạc thuộc 8 bộ, 30 họ. Ngoài ra còn có một số loài có kích thước cơ thể
nhỏ như rệp muội, rệp sáp, nhện nhỏ, bộ cánh tơ.
khoang (Spodoptera litura Fabr.), sâu róm (Euproctis sp.) có tần suất bắt gặp
cao.
Trịnh Thạch Lam (2006) [23] đã ghi nhận được 37 loài sâu hại lạc ở Nghệ
An. Trong đó có 6 loài có mức độ phổ biến cao gồm: rầy xanh lá mạ, sâu
khoang, sâu xanh, bọ trĩ vàng, câu cấu xanh nhỏ và sâu đục quả đậu rau.
Nguyễn Đức Khánh (2002) [18] cho biết trong 36 loài sâu hại lạc ở Hà
Tĩnh chỉ có 4 loài sâu hại chính đó là sâu đục quả đậu đỗ, sâu cuốn lá (Archips
asiaticus Walsingham), sâu khoang, sâu xanh.
Lê Văn Ninh (2002) [28] ghi nhân được 24 loài sâu hại lạc ở Thanh Hóa.
Ở thời kỳ cây con gây hại chính có sâu xám (Agrotis ifsilon Rotr) và dế mèn lớn
(Barachytrerpes portentorus Licht), giai đoạn sau thì sâu cuốn lá (Lamprosema
indicata Fabr.), sâu khoang, sâu xanh là những loài gây hại nặng hơn cả. Cũng
tại Thanh Hóa tác giả Trương Khắc Minh (2007) [26], những loài chủ yếu là rầy
xanh lá mạ, rầy xanh đuôi đen, sâu xanh, sâu khoang và sâu cuốn lá.
Từ những kết quả nghiên cứu trên có thể thấy thành phần sâu hại trên lạc
là rất phong phú. Tùy từng vùng địa lý khác nhau thành phần sâu hại cũng khác
nhau. Các loài thường xuyên xuất hiện và gây hại có ý nghĩa kinh tế gồm sâu
khoang, sâu xanh, sâu cuốn lá, sâu đục quả đậu đỗ, rệp (Aphis craccivora Koch),
bọ trĩ, ban miêu (Epicauta sp.)...
Qua kết quả nghiên cứu về tác hại của sâu hại lạc chúng ta thấy thiệt hại
về năng suất lạc do sâu hại gây ra. Ngoài ra còn phụ thuộc vào điều kiện môi
trường, điều kiện canh tác, loài dịch hại gây ra... mà có sự khác nhau về thiệt
hại. Thiệt hại do sâu gây ra cho sản xuất lạc trung bình từ 10 - 30% nếu không
quản lý tốt.
2.2.5. Những nghiên cứu về biện pháp phòng trừ.
Canh tác kỹ thuật là một trong những biện pháp phòng trừ dịch hại quan
trọng, trong một số trường hợp nó có thể phòng trừ dịch hại một cách hoàn hảo
mà không cần đến sự hỗ trợ của các biện pháp khác [16].
kinh tế (lãi 393.000đ/ha), còn ngược lại phun thuốc trừ sâu khi mật độ sâu thấp
thì sản xuất có thể lỗ tới 133.000đ/ha.
Theo Nguyễn Thị Chắt (1996) [5, 6], các vùng trồng lạc phía Nam cần
thận trọng trong việc sử dụng thuốc BVTV để trừ sâu. Thời điểm phun thuốc
hợp lý nhất là giai đoạn 30 ngày và 60 ngày sau gieo trồng. Trong 3 loại thuốc
đã khảo nghiệm là (Atabron 5EC, Lenate 40SP và Centari WDG) trong phòng
trừ sâu khoang thì Atabron 5EC nồng độ 0,05%, Lenate 40SP nồng độ 0,1% đều
có khả năng phòng trừ sâu khoang trên lạc, còn riêng thuốc Centari WDG nồng
độ 10 - 20g/8 lít nước (0,5 - 1 kg/ha) thì hiệu lực thuốc chỉ biểu hiện ở 4 - 5
ngày sau xử lý.
Phạm Thị Vượng (1996a, 2000, 2003), [36], [39], [40] cho rằng trên
ruộng lạc các tỉnh phía Bắc chỉ nên phun thuốc sâu ở giai đoạn 45 ngày tuổi nếu
100% số cây bị hại và 70 ngày tuổi nếu sâu hại 70% cây và mật độ 2 con/cây.
Kết quả khảo nghiệm 3 loại thuốc (Kinalux, Sumicidin, NPV-BT) trong phòng
trừ sâu khoang cho thấy thuốc Kinalux ở nồng độ 1,5 lít/ha có hiệu quả cao nhất
đạt 90 - 100% ở 1 - 4 ngày sau phun, NPV- BT có hiệu lực trừ sâu cao nhất sau
8 ngày đạt 77,1%. Hiệu lực của thuốc BT đối với sâu đục quả cao nhất 22,4% và
44,45% đối với sâu xanh. Tuy hiệu lực sâu không cao song tác hại của chúng
đối với quần thể thiên địch trên ruộng giảm 3 lần so với Sumicidin. Đối với rệp
đen (Aphis craccivora Koch) thì thuốc Ofatox cho hiệu lực cao nhất dạt 97,9% ở
3 ngày sau phun, tiếp theo là chế phẩm thảo mộc AV5 đạt 85,76% ở 5 ngày
phun và dầu khoáng HD3 đạt 82,7% ở 1 ngày sau phun.
Ngoài các biện pháp trên thì việc sử dụng bẫy pheromon để dự tính dự
báo sự phát sinh của sâu hại để từ đó quyết định thời điểm phòng trừ hiệu quả
cũng là một hướng đi được nhiều nhà khoa học quan tâm. Năm 1990 Lương
Minh Khôi [19], đã thí nghiệm 7 loại pheromon đối với sâu khoang do Liên Xô
sản xuất và kết quả thu được cho thấy các loại pheromon đều ít nhiều có tác
dụng thu hút sâu khoang vào bẫy và có tính chuyên tính rất cao.
đỏ (Acarina), ngoài ra còn có sâu vẽ bùa, sâu cuốn lá, sâu róm,... cũng gây hại
đáng kể.
Ananthakscishnan (1984) đã liệt kê danh sách 82 loài bọ trĩ quan trọng gây
hại trên 76 loài cây trồng khác nhau, trong đó có nhiều loài đa thực hại trên cây
họ đậu và cây có dầu.
Ở Đài Loan theo thống kê của Chen (1987) có 156 loài bọ trĩ được phát
hiện trên các cây trồng khác nhau, trong đó có 70 loài gây hại trên cây lạc, đặc
biệt có 11 loài thường xuyên xuất hiện và phá hoại đáng kể. Tác giả cũng đã đưa
ra khoá phân loại tới họ, họ phụ và loài của những đối tượng gây hại phổ biến.
Ở Úc cũng đã ghi nhận được 422 loài thuộc bộ cánh tơ (Thysanoptera)
trong đó có 8 loài mới phát hiện.
Ranga Rao và Wightman (1993)[93] khi điều tra thành phần loài bọ trĩ hại
lạc ở ICRISAT cho biết có 3 loài bọ trĩ là sâu hại chủ yếu cho lạc là Scirtothrips
dosalis; Thrips palni và Frankliniell schultrei.
Theo kết quả điều tra, có tới 2500 loài rầy xanh phá hoại lạc và trên hầu
hết cây trồng. Tại Ấn Độ, loài Empoasca kerri (Pruthi) là loài sâu hại lạc
quan trọng, còn ở Mỹ, loài rầy xanh E. fabae (Harris) là loài gây hại có vai
trò kinh tế cho các vùng trồng lạc ở phía Nam. Ở Châu Phi loài E. dolichi
(Paoli), còn ở các vùng trồng lạc Đông - Nam Châu Á thì rầy xanh Orosius
argentatus là loài có vai trò quan trọng bởi vì nó chính là vectơ truyền các
bệnh virut cho cây lạc.
Ranga Rao và Wightman (1993) cho biết, sâu chích hút họ bọ rầy
(Jasidae) có thể truyền 14 loại virut khác nhau, họ rệp muội (Aphididae) truyền
48 loại virut, họ Aleyrodidae truyền 18 loại,... chúng gây các bệnh nguy hiểm
cho lạc như bệnh chết chồi, bệnh “hoa hồng”,...
Theo Armes và ctv (1992) thì sâu khoang (S. litura), sâu xanh (H.
armigera), đã kháng được thuốc hoá học. Như vậy, việc sử dụng thuốc hoá học
đơn thuần sẽ không còn hiệu quả trong phòng chống những đối tượng gây hại
quan trọng này.
Nhiều nghiên cứu cũng đã xác định được đặc tính sinh học, sinh thái học
vụ sau.
Ngày nay, con người nhận thấy rằng có hàng loạt các biện pháp kỹ thuật
hạn chế được mật độ và tác hại của sâu hại lạc trong đó biện pháp canh tác thể
hiện vai trò rõ rệt. Tuy nhiên, hiệu quả của biện pháp này đối với dịch hại còn
phụ thuộc vào đặc điểm của hệ thống trồng trọt như sự đa dạng hoá cây trồng,
cây hàng năm, cây lâu năm,...
Chế độ xen canh được nhiều tác giả đề cập tới, Risch và ctv (1983) đã đưa
ra mối tương quan giữa tính đa dạng hoá cây trồng với mức độ miễn dịch hại.
Kỹ thuật trồng xen lạc giữa các hàng ngô, kê hoặc lúa,... thường được thực hiện
ở vùng trồng lạc ở Châu Phi. Bằng việc trồng xen như vậy mật độ bọ trĩ, rầy
xanh, sâu vẽ bùa và một số loài sâu hại khác trên lạc giảm đi rõ rệt (Wightman
và Amin, 1988). Các nghiên cứu cũng cho biết trồng lạc xen đậu hoặc mía, kê,...
làm giảm tỷ lệ nhiễm virut hại lạc, tăng năng suất cho lạc. Bởi vậy làm tăng lợi
tức trên một đơn vị diện tích.
Wightman và Ranga Rao (1994) cho biết tại Ấn Độ, người nông dân đã
biết áp dụng biện pháp canh tác phòng trừ sâu hại. Họ đã hiểu biết chức năng
của một số cây dẫn dụ sâu hại, chẳng hạn trồng cây thầu dầu để thu hút sâu
khoang trưởng thành đến đẻ trứng và người ta có thể thu gom, trừ diệt trứng
trước khi nở. Thêm nữa, những nghiên cứu cũng phát hiện thấy cây hoa hướng
dương trên đồng lạc không chỉ làm cây dẫn dụ sâu khoang, sâu xanh đến đẻ
trứng mà còn là nơi đậu của những loài chim đến bắt sâu hại trên lạc.
Tác động của kỹ thuật làm đất đến sâu hại lạc cũng đã được nghiên cứu.
Yadav (1981) chỉ ra rằng cày đất sâu có thể làm giảm tác hại của sùng đất, đặc
biệt vào giai đoạn nhộng. Trong một thí nghiệm khác khi so sánh kỹ thuật trồng
lạc có làm đất và không làm đất, Mack và ctv (1990) cho biết ở những nơi
không làm đất thì số lượng sâu hại và thiên địch bị ảnh hưởng rõ rệt.
Những nghiên cứu gần đây của trung tâm ICRISAT về rệp và nhện đỏ trên
lạc cho thấy mưa lớn hoặc tưới nước theo phương pháp phun mưa đã làm ảnh
biết ở nước ta có 17 loài sâu hại chính trên sinh quần ruộng lạc bao gồm: nhóm
sâu phá hại hạt giống (4 loài), nhóm sâu phá hại cây non (3 loài) và nhóm sâu
phá hại lá (10 loài). Công trình còn nghiên cứu tập tính, vòng đời, giới hạn về
nhiệt độ và biện pháp phòng trừ 4 loài sâu hại chính: sâu xám (Agrotis ypsilon),
sâu khoang (Spodoptera litura), sâu xanh (H. armigera), rệp (Aphis
medicaginis).
Kết quả nghiên cứu trên đồng lạc vùng Hà Nội cho thấy có 21 loài sâu hại
thường xuyên xuất hiện, trong đó có 10 loài gây hại đáng kể, nhiều hơn cả là bọ
trĩ Thrip sp., rệp, sâu cuốn lá, sâu khoang, sâu xanh, sâu róm,... Sâu khoang có
mật độ cao ở giai đoạn lạc đâm tia, còn bọ trĩ, rệp và rầy xanh thường gây hại
nặng ngay đầu vụ lạc hè thu. Đáng lưu ý là vào trung tuần tháng 4, trung tuần
tháng 5 mật độ các loài sâu hại đạt đỉnh cao và nông dân chỉ tiến hành phòng trừ
bằng thuốc hoá học (Lương Minh Khôi và ctv, 1991).
Điều tra trong 2 năm 1991- 1992, Lê Văn Thuyết và nnk (1993) đã tìm
thấy 15 loài sâu thường xuyên gây hại Hà Bắc và Nghệ Tĩnh. Nhóm sâu chích
hút (như rệp, bọ trĩ, rầy xanh,…) phát triển mạnh, còn sâu ăn lá không nhiều
(riêng Nghệ Tĩnh sâu Maruca testulatis Geyer phát triển mạnh).
Nhóm sâu chích hút chưa được ghi nhận trong danh mục điều tra năm
1967-1968 và người nông dân hiểu biết về chúng quá ít. Theo tài liệu của
ICRISAT, nhóm sâu này gây hại làm giảm 17-30% năng suất và là môi giới
truyền bệnh virut cho lạc.
Kết quả điều tra cho thấy có 4 loài phổ biến là Aphis craccivora Koch,
Emposasca flavescens Fabr., Scirtothrips dorsalis Hood và Parabemisia
myricae Kuwana thường phát sinh và phá hại nặng từ trung tuần tháng 4 đến
đầu tháng 5 đạt đỉnh cao về số lượng (tương ứng lúc bộ lá lạc cần thiết nhất
cho việc đạt năng suất cao).
Công trình cũng nghiên cứu được sự phát sinh và gây hại của sâu chính
trên đồng ruộng như sâu ăn lá (M. testulatis) gây hại lá, hoa, ngọn. Sâu xuất hiện
đồng ruộng, 4 loài gây hại trong kho. Bộ cánh vảy và cánh cứng có số loài gây
hại nhiều nhất là 14 loài (chiếm 27.5% tổng số loài), bộ cánh thẳng 9 loài, các
bộ còn lại mới chỉ xác định được 1- 4 loài. Trong số đó có 8 loài gây hại đáng kể
là sâu khoang (Spodoptera litura), sâu đục hoa và quả đậu (Maruca testulatis),
sâu xanh (Helicoverpa armigera), bọ phấn (Bemisia sp.), rầy xanh (Empoasca
motti), bọ trĩ (Scirtothrips dorsalis), rệp (Aphis craccivora) và sâu đục lá
(Aproaerema modicella). Ngoài ra sùng trắng (Lepidita sp.) cũng gây hại đáng
kể ở một số vùng đất bãi ven sông.
Ở Miền Nam, xác định được 30 loài sâu hại thuộc 19 họ của 8 bộ trong
đó có 28 loài gây hại trên đồng ruộng và 2 loài gây hại trong kho. Bộ cánh
vảy có số loài nhiều nhất 11 loài (chiếm 36.67% tổng số loài gây hại), các bộ
còn lại có từ 1- 4 loài.
Các loài gây hại quan trọng nhất ở các tỉnh phía Nam là sâu khoang
(Spodoptera litura), sâu xanh (Helicoverpa armigera), sâu róm (Plusia sp.), sâu
keo da láng (Spodoptera exigua), sâu đục hoa và quả đậu (Maruca testulatis)
(Ngô Thế Dân và nnk, 2000).
Nguyễn Văn Cảm (1983) đã ghi nhận được 43 loài côn trùng hại lạc tại một
số tỉnh trồng lạc ở Miền Nam Việt Nam. Nguyễn Thị Chắt và ctv (1996) cho
biết, tại vùng chuyên canh lạc như Trảng Bàng, Gò Dầu – Tây Ninh, Đức Hoà Long An, Củ Chi – T.P. Hồ Chí Minh, trong vụ đông xuân 1995- 1996 diện tích
lá lạc bị hại tới 81% và năng suất bị giảm 18 - 30% do sâu khoang (S. litura)
gây nên. Nông dân ở các vùng này thường phun thuốc hoá học từ 10-15 lần/vụ.
Các nghiên cứu cho thấy sâu khoang là đối tượng gây hại quan trọng nhất
trên lạc ở nước ta, chúng có thể gây hại từ 70- 80% diện tích lá và đã từng phát
triển thành dịch trên các vùng trồng lạc tại miền Đông Nam Bộ. Chúng không
chỉ là loài sâu hại chính trên cây lạc mà cả trên cây đậu tương và nhiều cây trồng
khác.
Ngoài ra, sâu xanh (Helicoverpa armigera) và sâu keo da láng
(Spodoptera exigua) cũng gây hại đáng kể ở miền Nam Trung Bộ và Đông
động thành phần loài sâu hại trên lạc là biện pháp phòng trừ bằng phun
thuốc hoá học.
4.4. Biện pháp phòng trừ sâu hại lạc ở Việt Nam
Thành phần sâu hại lạc trên sinh quần ruộng lạc rất phong phú (gồm 99
loài), nên khả năng gây hại của chúng là rất lớn. Để hạn chế sức phá hoại của
chúng đã có nhiều công trình nghiên cứu về các biện pháp phòng trừ sâu hại lạc
đã được công bố. Trong hàng loạt biện pháp được đưa ra thì cho đến nay hầu hết
người dân ở các địa phương đều sử dụng biện pháp hoá học là chủ yếu và phun
từ 8-15 lần/vụ ở phía Nam và 2-5 lần/vụ ở phía Bắc. Bởi đây là biện pháp dễ sử
dụng, tiêu diệt nhanh, dễ cơ giới hoá,… những ưu điểm này giúp người dân tiêu
diệt sâu hại kịp thời, hiệu quả tuy nhiên tác hại của nó là không lường trước
được.
Để hạn chế việc dùng thuốc hoá học, từ năm 1991-1994 viện BVTV đã tiến
hành một số thí nghiệm phòng trừ và cho thấy số lần phun thuốc trừ sâu hại lạc
chỉ cần tiến hành 2 lần/vụ vào lúc sau mọc 30-35 ngày và 50-60 ngày là đủ để
hạn chế mật độ sâu hại dưới ngưỡng gây hại kinh tế.
Theo nghiên cứu của Phạm Thị Vượng, Lương Minh Khôi (1991) ở hợp
tác xã Nam Thịnh (Diễn Châu - Nghệ An) dùng thuốc Wofatox (0.8 kg ai/ha)
phun 2 lần trong vụ lạc: lần một ngày 2/4 và lần hai ngày 24/4 theo điều tra phát
hiện tình hình sâu hại lạc. Kết quả cho thấy ở nơi xử lý thuốc có số lượng sâu
giảm đi rõ rệt: rệp giảm 98,3%, sâu ăn lá giảm 98.4%, bọ trĩ giảm 84%, năng
suất lạc tăng từ 2.2 – 32.3% so với đối chứng tương ứng tăng từ 40.3 – 463
kg/ha thu nhập của người dân tăng tới 393.600đ/ha. Song khi mật độ sâu hại
thấp thì việc phòng trừ không mang lại hiệu quả kinh tế mà lãng phí
133.000đ/ha (tiền thuốc và công phun thuốc). Kết quả trên cùng với kết quả thí
nghiệm trước đây của Viện BVTV (1989-1990).
Phun thuốc trừ sâu làm tăng năng suất lạc song chi phí bảo vệ thực vật
cũng nhiều vì vậy không những hiệu quả kinh tế đạt không cao lắm mà còn
không những về mặt kinh tế mà còn khía cạnh vệ sinh môi trường, cân bằng
sinh thái.
Ngày nay, việc phòng trừ sâu bệnh sẽ không đạt hiệu quả cả về kinh tế và
môi trường nếu không sử dụng biện pháp khác. Trong phòng trừ sâu hại, sử
dụng thiên địch tự nhiên là một thành tố quan trọng đóng góp cho sự thành công
của biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) và bảo vệ môi trường.
Vấn đề bảo vệ kẻ thù tự nhiên khi dùng thuốc hoá học mang ý nghĩa rất lớn
trong việc duy trì cân bằng môi sinh. Tuy nhiên, trong thời điểm hiện nay, việc
từ bỏ hoàn toàn biện pháp hoá học diệt trừ sâu hại và chỉ nhờ vào quá trình tự
nhiên để điều hoà số lượng quần thể sâu hại dưới ngưỡng gây hại kinh tế nhìn
chung khó thực hiện. Vì vậy, cần thiết phải xây dựng hệ thống quản lý dịch hại
tổng hợp bảo vệ cây trồng, bao gồm: Kỹ thuật canh tác, sinh học và hoá học trên
cơ sở các mối quan hệ đã được xác lập trên sinh quần đồng ruộng.
Biện pháp đấu tranh sinh học thu hút được sự chú ý của nhiều nhà khoa học
bảo vệ thực vật, biện pháp này đòi hỏi cần có sự hiểu biết về sinh học, sinh thái
của các loài côn trùng có ích, từ đó mới có chiến lược bảo vệ, khai thác và lợi
dụng chúng trong bảo vệ thực vật. Đây là biện pháp có hiệu quả, ý nghĩa cao
nhất về cả kinh tế và khoa học.
Các loài kẻ thù tự nhiên phần lớn là những loài đa thực và hoạt động di
chuyển nhanh, rộng do đó chúng có thể lan sang các cánh đồng khác mặc dù ở
đây đã dùng thuốc. Điều này cho chúng ta một suy nghĩ thiết thực hơn đó là
Chiến lược IPM không thể tiến hành đơn lẻ ở từng cây trồng trên một vùng nào
đó mà phải là chương trình IPM theo hệ thống luân canh cây trồng của từng
vùng trên những quy mô rộng, chỉ có như vậy biện pháp IPM mới thành công
như mong muốn và mang lại hiệu quả kinh tế cho sản xuất.
Trong những năm gần đây đã có một số tác giả quan tâm và thử nghiệm
biện pháp IPM trên cây lạc và bước đầu thu được kết quả đáng khích lệ.
Sâu khoang rất thích đẻ trứng trên lá hướng dương, dựa vào đặc điểm này
các chuyên gia ICRISAT đã khuyến cáo sử dụng hướng dương trồng xen với lạc
để làm cây dẫn dụ sâu khoang đến đẻ trứng rồi thu trứng và sâu non hoặc chỉ
của chúng ở giai đoạn cây con, làm tăng năng suất lạc và bảo vệ được sinh vật
có ích ngay từ đầu vụ (Phạm Thị Vượng, 1998).
Trên cơ sở điều tra xác định các loài sâu bệnh hại chính trên lạc, đặc
điểm phát sinh, phát triển và gây hại của chúng các chuyên gia ICRISAT và
các viện nghiên cứu ở Việt Nam đã đề xuất quy trình phòng trừ tổng hợp sâu
bệnh hại lạc để giảm số lần phun thuốc, giảm chi phí sản xuất, bảo vệ môi
trường sinh thái và côn trùng có ích, tăng thu nhập cho người sản xuất. Quy
mô áp dụng càng rộng thì hiệu quả của biện pháp IPM càng cao. Tuy nhiên
cho đến nay việc tiếp cận IPM trên cây lạc vẫn còn hạn chế do thiếu nhiều
thông tin và những điểm trình diễn để thuyết phục nhân dân áp dụng biện
pháp này.
V. VẬT LIỆU, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
5.1. Vật liệu nghiên cứu
+ Cây trồng: Giống lạc L23, L14, L26.
+ Thuốc hóa học
Dụng cụ nghiên cứu
Dụng cụ thu bắt: Vợt, ống hút, túi nilon, khay, hộp đựng mẫu.
Dụng cụ để nuôi sinh học: Hộp nuôi, lồng lưới, chậu trồng cây, đĩa
petri.
Dụng cụ thí nghiệm: ống đong, bình phun thuốc.
Dụng cụ khác: Kính lúp cầm tay, ẩm nhiệt kế, panh, dao, kéo, bông,
giấy, bút, cồn 70 0, Sổ ghi chép, bút chì,...
5.2. Đối tượng nghiên cứu
+ Giống lạc:
+ Các đối tượng sâu hại trên ruộng lạc như rệp muội đen; sâu khoang, sâu
xám; sâu xanh; bọ cánh cứng ăn lá,...
5.3. Thời gian nghiên cứu: Từ năm 10/2012 đến 9/2013.
Nội dung nghiên cứu