ĐỀ CƯƠNG ôn tập môn NGỮ văn 8 học kì II năm học 2016 - Pdf 34

ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN NGỮ VĂN 8
HỌC KÌ II NĂM HỌC 2012 – 2013
A. VĂN BẢN
I.PHẦN THƠ HIỆN ĐẠI:
1. BÀI THƠ “NHỚ RỪNG” – THẾ LỮ:
* Đoạn 1: Tâm trạng uất ức, bực bội và thái độ căm hờn của con hổ khi bị bắt giam ở vườn bách thú.
* Đoạn 2,3: Nỗi nhớ về cuộc sống quá khứ huy hoàng khi còn là một vị chúa tể sơn lâm.
* Đoạn 4: Thái độ chán ghét thực tại tù túng,tầm thường,giả dối ở vườn bách thú.
* Đoạn 5: Khát vọng được tự do khi bị giam cầm.
*Ghi nhớ:
+ Nghệ thuật:
- Bài thơ tràn đầy cảm hứng lãng mạn.
- Hình ảnh thơ giàu chất tạo hình.
- Ngôn ngữ và nhạc điệu phong phú.
+ Nội dung:
- Bài thơ diễn tả sâu sắc nỗi chán ghét thực tại tầm thường,tù túng.
- Thể hiện niềm khát khao tự do mãnh liệt.
- Bài thơ khơi gợi lòng yêu nước thầm kín của những người dân mất nước thủa ấy.
2.BÀI THƠ “ÔNG ĐỒ” - VŨ ĐÌNH LIÊN.
* Hai khổ thơ đầu: Hình ảnh ông đồ trong thời kì đắc ý của ông,ông trở thành trung tâm của sự chú
ý,là đối tượng ngưỡng mộ của mọi người.
* Hai khổ thơ tiếp theo: Hình ảnh ông đồ thời tàn bị mọi người quên lãng.
* Khổ thơ cuối cùng: Niềm thương cảm chân thành của tác giả.
* Ghi nhớ:
+ Nghệ thuật :
- Thơ ngũ ngôn có giá trị nghệ thuật cao.
- Kết cấu bài thơ giản dị mà chặt chẽ.
- Ngôn ngữ bài thơ trong sáng ,bình dị.
+ Nội dung:
- Bài thơ thể hiện một tình cảnh đáng thương của ông đồ.
- Thể hiện niềm cảm thương chân thành trước một lớp người đang tàn tạ.

* Ghi nhớ:
+ Nghệ thuật :
- Bài thơ tứ tuyệt bình dị,giọng điệu thoải mái ,pha chút đùa vui hóm hỉnh.
+ Nội dung:
- Bài thơ cho thấy tinh thần lạc quan,phong thái ung dung của Bác Hồ trong cuộc sống cách mạng
đầy gian khổ ở Pác Bó.
- Với Bác làm cách mạng và sống hòa hợp với thiên nhiên là một niềm vui lớn.
6.BÀI THƠ “NGẮM TRĂNG” – HỒ CHÍ MINH.
* Ghi nhớ:
+ Nghệ thuật :
- Bài thơ tứ tuyệt giản dị mà hàm súc.
- Phong cách thơ trữ tình vừa cổ điển,vừa hiện đại
+ Nội dung:
- Bài thơ cho thấy tình yêu thiên nhiên đến say mê và phong thái ung dung của Bác Hồ ngay cả trong
cảnh ngục tù tối tăm.
7 .BÀI THƠ “ĐI ĐƯỜNG” – HỒ CHÍ MINH.
* Ghi nhớ:
+ Nghệ thuật :
- Bài thơ tứ tuyệt giản dị mà hàm súc.
- Vừa tự nhiên chân thực vừa chứa đựng tư tưởng sâu xa.
+ Nội dung:
- Từ việc đi đường núi đã gợi ra chân lí đường đời: Vượt qua gian lao chồng chất sẽ tới thắng lợi vẻ
vang.
B. VĂN NGHỊ LUẬN
1. VĂN BẢN “CHIẾU DỜI ĐÔ” – LÝ CÔNG UẨN.
* Ghi nhớ:
+ Nghệ thuật :
- Bài chiếu có sức thuyết phục mạnh mẽ vì nói được ý nguyện của nhân dân.
- Có sự kết hợp hài hòa giữa lí và tình.
+ Nội dung:

đôi với hành.
5. VĂN BẢN “THUẾ MÁU” – NGUYỄN ÁI QUỐC.
* Ghi nhớ:
+ Nghệ thuật :
- Những tư liệu xác thực,ngòi bút trào phúng sắc sảo.
- Có nhiều hình ảnh giàu giá trị biểu cảm.
- Giọng điệu vừa đanh thép vừa mỉa mai,chua chát.
+ Nội dung:
- Nguyễn Ái Quốc đã vạch trần bản chất của chính quyền thực dân đã biến người dân nghèo khổ ở
các xứ thuộc địa thành vật hi sinh để phục vụ cho lợi ích của mình trong các cuộc chiến tranh tàn
khốc.
BỐN KHÁI NIỆM : CHIẾU – HỊCH – CÁO – TẤU.
*CHIẾU:
Chiếu là thể văn do vua dùng để ban bố mệnh lệnh.Chiếu có thể viết bằng văn vần,văn biền ngẫu
hoặc văn xuôi.Được công bố và đón nhận một cách trang trọng.
* HỊCH:
- Hịch là thể văn nghị luận thời xưa,thường được vua chúa,tướng lĩnh hoặc thủ lĩnh một phong trào
dùng để cổ động,thuyết phục hoặc kêu gọi đấu tranh chống thù trong giặc ngoài.
- Hịch có kết cấu chặt chẽ,có lí lẽ sắc bén,có dẫn chứng thuyết phục.
- Đặc điểm nổi bật của hịch là khích lệ tình cảm,tinh thần người nghe.
* CÁO:
- Cáo là thể văn nghị luận cổ,thường được vua chúa hoặc thủ lĩnh dùng để trình bày một một chủ
trương hay công bố kết quả một sự nghiệp để mọi người cùng biết.
- Cũng như hịch,cáo là thể văn có tính chất hùng biện,do đó lời lẽ phải đanh thép,lí luận phải sắc
bén,kết cấu phải chặt chẽ,mạch lạc.
* TẤU:
- Tấu là một loại văn thư của bề tôi,thần dân gửi lên vua chúa để trình bày sự việc,ý kiến,đề nghị.
- Tấu có thể được viết bằng văn xuôi hay văn vần,văn biền ngẫu.
SO SÁNH ĐIỂM GIỐNG NHAU VÀ KHÁC NHAU GIỮA : CHIẾU - HỊCH – CÁO – TẤU


- Đặc điểm nổi bật của
hịch là khích lệ tình
cảm,tinh thần người
nghe.
MỘT SỐ CÂU HỎI ĐỂ THAM KHẢO
CÂU 1: Phân tích để làm rõ cái hay của những câu thơ sau:
- Giấy đỏ buồn không thắm;
Mực đọng trong nghiên sầu…
- Lá vàng rơi trên giấy;
Ngoài giời mưa bụi bay.
Theo em, những câu thơ đó tả cảnh hay tả tình?
TL: - Bốn câu thơ đã thể hiện nỗi buồn tủi của ông đồ khi bị mọi người lãng quên,bằng nghệ thuật nhân
hóa tác giả đã cho người đọc thấy được các sự vật như giấy đỏ.mực tàu vô tri vô giác nhưng trở nên cò
hồn mang tâm sự của con người.
- Đây là những câu thơ tả cảnh nhưng chính là nói nỗi lòng,tức là mượn cảnh ngụ tình là miêu tả mà
biểu cảm,ngoại cảnh mà kì thực là tâm cảnh.
CÂU 2: Bài thơ “Quê hương” có những đặc sắc nghệ thuật gì nổi bật?Theo em bài thơ được viết theo
phương thức miêu tả hay biểu cảm,tự sự hay trữ tình?
TL : - Bài thơ có những đặc sắc nghệ thuật đó là: Sự sáng tạo hình ảnh thơ chân xác không tô vẽ.
- Bài thơ quê hương là một bài thơ trữ tình nhưng phần lớn số câu thơ lại là miêu tả và biểu cảm.
Phương thức biểu đạt bao trùm là biểu cảm.
CÂU 3:Em hiểu nhan đề bài thơ “khi con tu hú” như thế nào?Hãy viết một câu văn có 4 chữ đầu là
“khi con tu hú” để tóm tắt nội dung bài thơ.Vì sao tiếng tu hú kêu lại tác động mạnh mẽ đến tâm hồn
nhà thơ như vậy?
TL: - Nhan đề bài thơ “khi con tu hú” chỉ là một vế phụ của một câu trọn ý nhưng đã gợi mở mạch cảm
xúc của toàn bài thơ.
- Đặt câu: Khi con tu hú gọi bầy là khi mùa hè đến người tù cách mạng càng cảm thấy ngột ngạt
trong phòng giam chật chội,càng khát khao tự do cháy bỏng.
- Sở dĩ tiếng chim tu hú tác động mạnh mẽ đến tâm hồn nhà thơ Tố Hữu là vì: Đây chính là tín
hiệu của mùa hè rực rỡ,sự sống tưng bừng,của trời cao lồng lộng, của sự tự do.

- Cuộc ngắm trăng trong bài “Vọng nguyệt” diễn ra trong cảnh tù đày,giống như những cuộc ngắm
trăng ở các bài trong Nhật kí trong tù.Còn hình ảnh trăng thể hiện trong các bài thơ khác của Bác có khi
là vầng trăng xuân lồng lộng,tràn ngập cả bầu trời đầy ắp sắc xuân; có khi trăng đẹp tới kì ảo,lộng
lẫy.Tất cả đều cho thấy Bác Hồ có một tâm hồn nghệ sĩ,luôn mở ra giao hòa với trăng,một biểu tượng
của cái đẹp tuyệt vời,vĩnh cửu trong vũ trụ.
CÂU 8: Theo em, bài thơ “Đi đường” của Hồ Chí Minh có phải là bài thơ tả cảnh,kể chuyện không?Vì
sao?Hãy nêu vắn tắt nội dung ý nghĩa bài thơ.
TL: - Bài thơ “Đi đường” của Hồ Chí Minh không phải là tức cảnh hoặc tự sự mà chủ yếu thiên về suy
nghĩ,triết lí. Chỉ là những vần thơ giống như lời kể chuyện,tâm sự của chính Bác Hồ trong những ngày
tù đày nhưng đã nói lên thật sâu sắc,thuyết phục một chân lí,một đạo lí lớn.
- Bài thơ gồm 4 câu thơ rất bình dị mà cô đọng,rất tiết kiệm ngôn từ,ý và lời chặt chẽ,lô-gi1c,vùa tự
nhiên chân thực vừa chứa đựng tư tưởng sâu xa.Đây là một bài thơ hay,có tác dụng cổ vũ tinh thần con
người vượt qua khó khăn thử thách trên đường đời để vươn tới mục đích cao đẹp.
CÂU 9: Vì sao nói việc Chiếu dời đô ra đời phản ánh ý chí đọc lập,tự cường và sự phát triển lớn mạnh
của dân tộc Đại Việt?
TL: Dời đô từ vùng núi Hoa Lư ra vùng đồng bằng đất rộng chứng tỏ triều đình nhà Lí đủ sức chấm dứt
nạn phong kiến cát cứ,thế và lực của dân tộc Đại Việt đủ sức sánh ngang hàng phương Bắc.Định đô ở
Thăng Long là thực hiện nguyện vọng của nhân dân thu giang sơn về một mối,nguyện vọng xây dựng
đất nước độc lập,tự cường.
CÂU 10: Tại sao kết thúc bài chiếu dời đô Lí Thái Tổ không ra mệnh lệnh mà lại đặt câu hỏi: “Các
khanh nghĩ như thế nào?.Cách kết thúc như vậy có tác dụng gì?
TL: Cách kết thúc như vậy mang tính đối thoại,trao đổi,tạo sự đồng cảm giữa mệnh lệnh của vua với
thần dân.Bài chiếu dời đô thuyết phục người nghe bằng lí lẽ chặt chẽ và bằng tình cảm chân
thành.Nguyện vọng dời đô của Lí Thái Tổ phù hợp với nguyện vọng của nhân dân.


CÂU 11: Phân tích lòng yêu nước,căm thù giặc của Trần Quốc Tuấn qua đoạn văn tác giả tự nói lên
nỗi lòng mình.
TL: Lòng yêu nước căm thù giặc của Trần Quốc Tuấn được thể hiện cụ thể :quên ăn,mất ngủ,đau đớn
đến thắt tim,thắt ruột.Thể hiện qua thái độ: uất ức,căm tức khi chưa trả được thù,sẵn sàng hi sinh để rủa

- Qua thực tế việc học của bản thân ta nhận thấy phương pháp học tập đúng đắn nhất đó là học tập
kết hợp với thưc hành.
Vì: Học tập là lĩnh hội tri thức còn thực hành là vận dụng tri thức đã học được vào trong thực tế cuộc
sống.

B. TIẾNG VIỆT
A. Lí Thuyết:
I. Câu nghi vấn:
* Đặc điểm hình thức:
- Câu nghi vấn là câu có những từ nghi vấn như: ai, gì, nào, sao, đâu, bao nhiều,
bao giờ, à, ư ,hử, hả, chứ, … không, đã…. chưa…. hoặc có từ hay (để nối các vế câu có
quan hệ lựa chọn).
- Khi viết, câu nghi vấn kết thúc bằng dấu chấm hỏi.
* Chức năng chính: dùng để hỏi


VD: - Bạn có khỏe không?
- Bạn đi hay mình đi?
* Chức năng khác của câu nghi vấn: Ngoài chức năng dùng để hỏi, câu nghi vấn còn có
một số chức năng khác như: cầu khiến, khẳng định, phủ định… đe dọa, bộc lộ cảm xúc…
Những trường hợp này không yêu cầu người đối thoại trả lời. Nếu không dùng để hỏi có
thể kết thúc bằng dấu chấm than, dấu chấm hoặc dấu chấm lửng.
VD: Câu nghi vấn dùng để bộc lộ cảm xúc:
- Em là ai cô gái hay nàng tiên?
- Những người muôn năm cũ,
Hồn ở đâu bây giờ?
II. Câu cầu khiến:
* Đặc điềm hình thức và chức năng:
- Câu cầu khiến là câu có những từ cầu khiến như: hãy, đừng, chớ, đi, thôi, nào…
hay ngữ điệu cầu khiến. Dùng để ra lệnh, đề nghị, khuyên bảo…



* Khái niệm: Hành động nói là hành động được thực hiện bằng lời nói nhằm mục đích
nhất định.
* Các kiểu hành động nói thường gặp: Hỏi, trình bày (báo tin, kể tả, nêu ý kiến…) điều
khiển (cầu khiến, đe dọa…) hứa hẹn, bộc lộ cảm xúc…
VD: - Mấy giờ rồi Lan? (hành động hỏi)
- Con trăn ấy của vua nuôi đã lâu. (trình bày)
- Nay em giết nó, tất không khỏi tội chết. (điều khiển – đe dọa)
- Có chuyện gì anh ở nhà lo liệu. (hứa hẹn)
- Trời ơi, bong hoa này đẹp quá! (bộc lộ cảm xúc)
* Cách thực hiện hành động nói:
- Nếu kiểu câu và chức năng chính của nó (hành động nói) trùng với nhau, gọi là
cách dùng trực tiếp.
VD: A hỏi: - Mấy giờ cậu về? -> Câu nghi vấn thực hiện hành động hỏi
B đáp: - 10 giờ.
=> Cách dùng trực tiếp
- Nếu kiểu câu dùng không đúng chức năng của nó gọi là cách dùng gián tiếp.
VD: - Bạn có thể đóng cửa sổ giùm mình không? -> Câu nghi vấn thực hiện
hành động điều khiển.
=> Cách dùng gián tiếp.
VII. Hội thoại:
* Vai xã hội: Là vị trí người tham gia hội thoại đối với người khác trong cuộc hội thoại.
Vai xã hội được xác định bằng các quan hệ xã hội:
- Quan hệ trên – dưới: (tuổi tác, thứ bậc trong gia đình và xã hội)
- Quan hệ thân sơ (theo mức độ quen biết, thân tình)
* Lưu ý: Vai xã hội rất đa dạng và nhiều chiều nên khi tham gia hội thoại cần xác định
đúng vai của mình để chọn cách nói cho phù hợp.
* Lượt lời trong hội thoại:
- Trong hội thoại ai cũng được nói, mỗi lần tham gia hội thoại là một lượt lời.

- Tinh thần yêu nước cũng như các thứ của quý.
- Bổn phận của chúng ta là làm cho những của quý kín đáo ấy đều được đưa
ra trưng bày.
Hãy cho biết câu nào thực hiện hành động nói trực tiếp và câu nào thực hiện hành
động nói gián tiếp?
Câu 3: (5đ) Viết một đoạn văn ngắn (từ 8 đến 10 câu) chủ đề học tập. Trong đó có sử
dụng bốn kiểu câu (câu trần thuật, câu nghi vấn, câu cảm than, câu cầu khiến) đã học. Chỉ
rõ các kiểu câu đã sử dụng?
ĐỀ KIỂM TRA MỘT TIẾT TIẾNG VIỆT khối 8
Thời gian: 45 phút – Đề 2
Câu 1: (2đ) Thế nào là câu trần thuật? Cho ví dụ.
Câu 2: (3đ)
Có thể thay đổi trật tự từ trong câu sau theo những cách nào mà không làm thay đổi nghĩa
cơ bản của câu?
“Gõ đầu roi xuống đất,Cai lệ thét bằng giọng khàn khàn của người hút nhiều xái cũ”.
Câu 3: (5đ) Viết một đoạn văn ngắn (từ 8 đến 10 câu) chủ đề Quê hương. Trong đó có sử
dụng bốn kiểu câu (câu trần thuật, câu nghi vấn, câu cảm than, câu cầu khiến) đã học. Ghi
rõ số câu, chỉ rõ từng kiểu câu.
ĐỀ KIỂM TRA MỘT TIẾT TIẾNG VIỆT khối 8
Thời gian: 45 phút – Đề 3
Câu 1: (2đ) Thế nào là câu cầu khiến? Cho ví dụ.
Câu 2: (3đ)
a)Đặt ra một câu hành động nói gián tiếp.
Chỉ ra kiểu hành động nói trong câu đó.
b)Đặt ra một câu hành động nói trực tiếp.
Chỉ ra kiểu hành động nói trong câu đó.
Câu 3: (5đ) Viết một đoạn văn ngắn (từ 8 đến 10 câu) có sử dụng bốn kiểu câu (câu trần
thuật, câu nghi vấn, câu cảm than, câu cầu khiến), chủ đề tự chọn, chỉ ra từng kiểu câu
trong đoạn văn vừa viết.


- Kết hợp học với hành sẽ khiến cho ta trở thành người toàn diện vì vừa có kiến thức
vừa có kĩ năng. Đó là cơ sở để phát triển khả năng.
III. Kết bài:
- Hiểu được tầm quan trọng của việc kết hợp giữa học và hành, cần áp dụng ngay từ
khi còn ngồi trên ghế nhà trường.
- Cần phải thực hiện học đi đôi với hành thế nào cho có hiệu quả?
Đề 2: Giải thích câu nói của M.Gor-ki: “Hãy yêu sách, nó là nguồn kiến thức. Chỉ có
kiến thức mới là con đường sống.”
I. Mở bài:
- Giới thiệu đôi nét về tiểu sử của M.Gor-ki và dẫn dắt đến câu nói.
II. Thân bài:
1. Tại sao sách là nguồn kiến thức và chỉ có kiến thức mới là con đường sống?
Sách là kho tang chứa đựng những hiểu biết và tâm tình của con người.


Sách là sản phẩm sang tạo từ lâu đời trong cuộc sống của con người.
Kiến thức là nguồn hiểu biết vô tận, là những thong tin, kinh nghiệm
được đúc kết qua nhiều thế hệ từ mọi lĩnh vực.
“Sách là nguồn kiến thức”:
+ Sách hội tụ, lưu giữ kiến thức mọi lĩnh vực
+ Sách lưu trữ kiến thức mọi thời đại.
“Chỉ có sách mới là con đường sống”:
+ Con đường sống là con đường phát triển của trí tuệ, kiến thức.
+ Sách giúp con người mở mang trí tuệ, bồi dưỡng nhân cách, tìm được con
đường sống đúng đắn và thành công.
+ Sách là công cụ, phương tiện để con người giao tiếp với nhau qua các thế hệ,
thời đại, giúp con người kế thừa và vươn tới các trình độ văn minh mới.
+ Có những cuốn sách mở ra con đường sống cho cả nhân loại.
2. Tại sao chúng ta phải yêu sách và yêu sách như thế nào?
Tại sao phải yêu sách?

- Nêu dẫn chứng về thành công của những người trẻ tuổi đóng góp cho đất
nước.
III. Kết bài:
- Suy nghĩ về nhiệm vụ của bản thân trong học tập, rèn luyện hôm nay và
những cống hiến ngày mai.
Nghị luận về lòng biết ơn "Ăn quả nhớ kẻ trồng cây "
Trình bày suy nghĩ của em về câu tục ngữ “ Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”
I/ Mở bài:
- Là người dân Việt, dù ở nơi nào trên mọi miền đất nước, cứ đến dịp tháng Ba âm lịch,người ta vẫn
luôn nhắc nhở nhau câu hát:
“ Dù ai đi ngược về xuôi
Nhớ ngày giỗ Tổ mùng Mười tháng Ba”
- Có thể nói “ Uống nước nhớ nguồn” là một truyền thống tốt đẹp ngàn đời của dân tộc Việt Nam. Nó là
bản sắc văn hóa mà thời gian cùng bao thăng trầm của lịch sử không thể làm phai mờ. Truyền thống ấy
được thể hiện rất rõ qua những câu hát dân gian, qua kho tàng ca dao tục ngữ – di sản văn hóa tinh thần
của dân tộc. Câu tục ngữ “ Ăn quả nhớ kẻ trồng cây” là một điển hình.
II/ Thân bài:
- Nội dung câu tục ngữ trên khá rõ ràng. Thưởng thức vị ngon của cây trái, ta phải nhớ đến công ơn của
kẻ trồng cây. Bao nhiêu năm qua, những người ấy đã đổ biết bao mồ hôi công sức chăm sóc, vun trồng
bón phân, tưới nước… để cho cây đơm hoa kết trái phục vụ cho đời.
- Tuy nhiên, đàng sau cách diễn đạt mộc mạc bình thường ấy còn chất chứa cả một bài học về đạo lý ở
đời. “ Quả” hiểu rộng ra còn có nghĩa là thành quả về vật chất, tinh thần mà ngày nay chúng chúng ta
đang hưởng thụ. “ Kẻ trồng cây” chính là những người tạo nên thành quả ấy. Trong cuộc sống hiện tại,
những thứ ta đang hưởng thụ từ cây bút, quyển vở chúng ta học, bộ phim chúng ta xem cho đến cuộc
sống tự do chúng ta đang có hôm nay đều nhờ công ơn của những người tạo ra nó. Hưởng thụ những
thành quả vật chất tinh thần ấy, mỗi người chúng ta phải biết ghi nhớ công ơn bằng tấm lòng trân trọng.
- Vì sao? Vì mọi thứ trên cuộc đời này không phải tự dưng mà có, tất cả được đánh đổi bằng mồ hôi
công sức, thậm chí bằng tính mạng của những người tạo dựng ra nó. Để có được một bát cơm ngon lành
thơm mùi lúa mới, người nông dân đã phải cực khổ “bán mặt cho đất bán lưng cho trời”, một nắng hai
sương trên cánh đồng nắng cháy. Biết bao câu ca dao thay lời của người xưa kể về cuộc sống canh điền:

hơn khi có nhiều người có học thức, có trình độ nhưng lại không biết gì về những nhân vật trong lịch sử
và những trang sử vàng của dân tộc bắt đầu từ thuở Hùng Vương dựng nước. Những con người đó
không biết rằng họ đang dần dần tự đánh mất chính mình.
III/ Kết bài:
- Hiểu được ý nghĩa giá trị của câu tục ngữ, ta càng tự hào với những gì mà mình đang có hôm nay. Từ
đó, ta càng phải có ý thức bảo vệ giữ gìn nhưng thành quả ấy, không những cho hôm nay mà cho cả mai
sau như lời Bác Hồ đã ân cần dặn dò khi đứng trước Đền Hùng:
- “ Các vua Hùng đã có công dựng nước, bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”.
NGHỊ LUẬN VỀ LÒNG BIẾT ƠN QUA HAI CÂU TỤC NGỮ “ĂN QUẢ NHỚ KẺ TRỒNG
CÂY” VÀ “UỐNG NƯỚC NHỚ NGUỒN”
Trong cuộc sống, đạo đức là một yếu tố rất quan trọng, nó thể hiện sự văn minh, lịch sự, nếp
sống, tính cách, và phần nào có thể đánh giá được phẩm chất, giá trị bản thân con người. Và có rất nhiều
mặt để đánh giá đạo đức, phẩm chất của con người. Một trong số đó là sự biết ơn, nhớ ghi công lao mà
người khác đã giúp đỡ mình. Đó cũng là một chân lí thiết thức trong đời thường. Chính vì vậy ông cha
ta có câu : Ăn quả nhớ kẻ trồng cây” hay Uống nước nhớ nguồn” .Cả hai câu tục ngữ trên đều mang một
triết lí nhân văn sâu xa. Đó là cần phải biết ơn những người đã mang lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc
cho chúng ta.
Câu đầu tiên mượn hình ảnh ăn quả” và trồng cây” ý muốn nói, khi được hưởng thụ những trái
ngọt, trái thơm, cần nhớ tới công sức, mồ hôi nước mắt của người đã làm ra nó. Điều đó được ẩn dụ
nhằm khuyên răn thái độ của mỗi con người xử sự sao cho đúng, cho phải đối với những người đã giúp
đỡ mình để không phải hổ thẹn với lương tâm. Hành động đó đã thể hiện một tư tưởng cao đẹp, một lối
ứng xử đúng đắn. Lòng biết ơn đối với người khác đó chính là một truyền thống tốt đẹp của ông cha ta
từ xưa tới nay. Đó cũng chính là biết sống ân nghĩa mặn mà, thuỷ chung sâu sắc giữa con người với con
người. Tất cả những gì chúng ta đang hưởng thụ hiện tại không phải tự dưng mà có. Đó chính là công
sức của biết bao lớp người. Từ những bát cơm dẻo tinh trên tay cũng do bàn tay người nông dân làm ra,
một hạt lúa vàng chín giọt mồ hôi mà. Rồi đến tấm áo ta mặc, chiếc giày ta đi cũng đều bởi những bàn
tay khéo léo của người thợ cùng với sự miệt mài, cần cù trong đó. Những di sản văn hoá nghệ thuật,


những thành tựu độc đáo sáng tạo để lại cho con cháu. Còn nhiều, rất nhiều những công trình vĩ đại nữa

NGHỊ LUẬN VỀ CÂU NÓI CỦA BÁC HỒ “CÁC VUA HÙNG………”
Trong cuộc đời hoạt động cách mạng, Bác Hồ luôn luôn tâm niệm cội nguồn dân tộc. Người
thường nhắc nhở toàn Đảng, toàn dân ta phải phát huy truyền thống con cháu Lạc Hồng, giữ gìn giang
sơn gấm vóc, phấn đấu đưa nước ta sánh ngang với các cường quốc năm châu!Ngày 18/2/1946, hơn 5
tháng sau ngày đọc “Tuyên ngôn độc lập”, Hồ Chủ tịch ký sắc lệnh số 22 CNV/CC cho công chức cả
nước được nghỉ ngày Giỗ tổ Hùng Vương mồng 10 tháng 3 âm lịch hằng năm để tưởng nhớ tổ tiên.
Ngày 18/9/1954, trước Đền Hạ thuộc Đền Hùng, Phú Thọ, Bác Hồ đã nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ
Đại đoàn quân Tiên Phong chuẩn bị về tiếp quản Thủ đô. Bác căn dặn: “Các vua Hùng đã có công dựng
nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”! Lời Bác dạy không chỉ đối với quân đội, mà còn đối
với toàn Đảng, toàn dân. Ngày nay, càng suy ngẫm lời Bác, chúng ta càng thấm thía tâm huyết của
Người đối với đất nước và dân tộc, càng thấy tầm nhìn xa trông rộng của vị lãnh tụ thiên tài.


Bác Hồ khẳng định và tôn vinh “Các Vua Hùng đã có công dựng nước”. “Công dựng nước” của
các Vua Hùng thật to lớn! Lịch sử mấy ngàn năm của dân tộc ta luôn luôn phải đấu tranh chống những
tên giặc ngoại xâm vô cùng hung hãn. Trong quá trình dựng nước và giữ nước đầy gian khổ, hy sinh,
dân tộc ta đã tạo nên một truyền thống đoàn kết, anh dũng, kiên cường, thông minh, sáng tạo, và có tinh
thần độc lập, tự chủ. Vì thế, dân ta đã làm nên biết bao chiến công oai hùng, dựng nên đất nước, khẳng
định chủ quyền và bồi đắp bản sắc dân tộc.
Các Vua Hùng là những người đầu tiên viết nên những trang sử vẻ vang ấy, và truyền nối cho
muôn đời con cháu đến hôm nay và cả mai sau. Vậy nên, tưởng nhớ và biết ơn các Vua Hùng là đạo lý
“Uống nước nhớ nguồn” của mỗi người dân Việt Nam ta, thể hiện niềm tự hào và tự tôn dân tộc một
cách chính đáng, đồng thời để tăng thêm sức mạnh cho chúng ta, phấn đấu đưa đất nước tiến tới văn
minh và giàu mạnh.Mỗi tấc đất này đều phải đổi bằng núi xương, sông máu và mồ hôi của các thế hệ
người Việt Nam ta. Bởi vậy, “Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”! Đấy là bổn phận, là tình cảm,
là trách nhiệm và nghĩa vụ thiêng liêng của tất cả những ai mang dòng máu Lạc Hồng. Đấy là lẽ đương
nhiên, là điều tất yếu. Với Bác Hồ, “giữ nước” trước hết là quyết tâm chiến đấu, hy sinh để bảo vệ toàn
vẹn lãnh thổ, bảo vệ nền độc lập, thống nhất và chủ quyền của đất nước. Trước ngày Tổng khởi nghĩa
tháng 8/1945, Bác từng nói: “… Dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn, cũng phải kiên quyết giành cho
được độc lập!”


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status