Ảnh hưởng của truyền thông đại chúng tới sức khỏe sinh sản học sinh trường THPT Đại Mỗ - Pdf 34

I. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Thứ nhất, khi xã hội ngày càng phát triển, phương tiện truyền thông đại
chúng ngày càng phát triển và có những ảnh hưởng to lớn hơn tới các mặt
trong đời sống và sinh hoạt của con người trong việc cung cấp thông tin về
văn hóa, khoa học, chính trị và đặc biệt là thông tin về sức khỏe. Vai trò của
truyền thông đại chúng đối với cuộc sống của con người nói chung và sức
khỏe sinh sản vị thành niên nói riêng có một ý nghĩa vô cùng quan trọng trong
việc cung cấp cho các em những thông tin về sức khỏe sinh sản để giải đáp
những thắc mắc của các em. Để có thể nắm bắt toàn diện những kiến thức về
sức khỏe sinh sản đòi hỏi mỗi học sinh phải có kinh nghiệm trong việc tìm
kiếm thông tin trên phương tiện truyền thông đại chúng như Internet,
truyền hình, đài phát thanh, ấn phẩm... Truyền thông đại chúng đóng vai
trò quan trọng trong việc giúp các em tìm kiếm, giải đáp những thắc mắc
về sức khỏe sinh sản của chính các em để từ đó có những biện pháp cũng
như cách chăm sóc chính bản thân sao cho đúng đắn khoa học nhất.
Thứ hai, công tác dân số và sức khỏe sinh sản là một nội dung quan
trọng của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, góp phần nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực, nâng cao chất lượng cuộc sống của từng người, từng gia đình
và toàn xã hội. Đầu tư cho công tác dân số và sức khỏe sinh sản là đầu tư cho
phát triển bền vững, mang lại hiệu quả trực tiếp về kinh tế, xã hội và môi
trường. Ngay từ những năm 20 của thế kỉ XX, V.I.Lênin: “Cùng với việc xây
dựng chủ nghĩa xã hội, vấn đề quan hệ giới tính, vấn đề hôn nhân gia đình
cũng được coi là cấp bách”. Trong xu thế đổi mới, con người Việt Nam vừa
là động lực, vừa là mục tiêu thúc đẩy sự phát triển của kinh tế, văn hóa, xã
hội. Vấn đề con người luôn là vấn đề được xã hội quan tâm và coi trọng ở mọi
thời đại. Trong giai đoạn đổi mới hiện nay của đất nước ta, việc coi trọng chất
lượng cuộc sống của con người Việt Nam đã và đang trở thành mục tiêu,
chiến lược của sự phát triển kinh tế xã hội.Xã hội phát triển, kéo theo các mặt
1


chúng và sử dụng chúng sao cho có hiệu quả và khoa học hơn.
2


2. Mục đích nghiên cứu
Việc nghiên cứu về truyền thông đại chúng để giúp cho các em học
sinh có thêm những hiểu biết về truyền thông đại chúng nói chung và truyền
thông đại chúng liên quan đến sức khỏe sinh sản nói riêng. Và cũng để các
em biết được những tác động của truyền thông đại chúng đối với toàn xã hội,
đặc biệt là đối với việc cung cấp cho các em những tri thức về sức khỏe sinh
sản vị thành niên. Từ đó các em có thể khắc phục những hạn chế khi tìm kiếm
thông tin trên truyền thông đại chúng.
Thực hiện đề tài này sẽ hướng đến 3 mục đích sau:
Thứ nhất, là đưa ra những nét khái quát về truyền thông đại chúng và
sức khỏe sinh sản vị thành niên.
Thứ hai, tìm hiểu về việc tiếp nhận thông tin từ các phương tiện truyền
thông đại chúng của học sinh trường THPT Đại Mỗ.
Thứ ba, nêu ra những ảnh hưởng của truyền thông đại chúng đến việc
cung cấp cho các em học sinh trường THPT Đại Mỗ những kiến thức về sức
khỏe sinh sản, các yếu tố tiêu cực, những nguyên nhân xuất hiện chúng để từ
đó đưa ra các giải pháp hữu ích để các em sử dụng phương tiện truyền thông
đại chúng hiệu quả hơn, trang bị cho các em nhiều kiến thức hơn về sức khỏe
sinh sản để các em giải đáp những thắc mắc của bản thân, chuẩn bị cho cuộc
sống hạnh phúc tương lai.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu những vấn đề lý luận về truyền thông đại chúng và sức
khỏe sinh sản
Khảo sát ảnh hưởng của truyền thông đại chúng tới nhận thức về sức
khỏe sinh sản của các em trường THPT Đại Mỗ.
Đưa ra các nguồn thông tin về ảnh hưởng của truyền thông địa chúng

Bài viết có sử dụng các phương pháp:
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết
+

Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết

+

Phương pháp phân loại, hệ thống hóa lý thuyết

Các phương pháp này được sử dụng chủ yếu để nghiên cứu chương 1
phần cơ sở lý luận. Phần này dùng các phương pháp nghiên cứu lý thuyết để
thu thập những thông tin cơ sở lý luận nhằm giải thích và chỉ ra các khái
niệm cơ bản về truyền thông đại chúng và sức khỏe sinh sản, tìm hiểu đặc
điểm tâm ký lứa tuổi học sinh THPT, hệ thống, tổng hợp lại thông tin để trình
bày quá trình ra đời và phát triển của phương tiện truyền thông đại chúng.
4


- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
+

Phương pháp quan sát khoa học

+

Phương pháp điều tra an két

+




CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN
1.1. Cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu
1.1.1 Lý thuyết về truyền thông đại chúng
1.1.1.1 Khái niệm truyền thông
Truyền thông là quá trình liên tục trao đổi thông tin, tư tưởng, tình
cảm…. chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều người nhằm tăng
cường hiểu biết lẫn nhau, thay đổi nhận thức, tiến tới điều chỉnh hành vi và
thái độ phù hợp với nhu cầu phát triển của cá nhân, của nhóm, của cộng đồng
và xã hội.
Khái niệm trên được trích từ cuốn “Truyền thông lý thuyết và kĩ năng
cơ bản” do PGS.TS Nguyễn Văn Dững chủ biên, nxb chính trị Quốc Gia.
Khái niệm trên đã chỉ ra bản chất và mục đích của truyền thông như sau:
Về bản chất: Truyền thông là quá trình chia sẻ, trao đổi hai chiều, diễn
ra liên tục giữa chủ thể truyền thông và đối tượng truyền thông. Quá trình
chia sẻ, trao đổi hai chiều, diễn ra liên tục giữa chủ thể truyền thông và đối
tượng truyền thông. Quá trình chia sẻ, trao đổi hai chiều có thể hình dung qua
nguyên tắc bình thông nhau. Khi có sự chênh lệch trong nhận thức, hiểu
biết… giữa chủ thể và đối tượng truyền thông gắn với nhu cầu chia sẻ, trao
đổi thì hoạt động truyền thông diễn ra. Quá trình truyền thông vì vậy chỉ kết
thúc khi đã đạt được sự cân bằng trong nhận thức, hiểu biết… giữa chủ thể và
đối tượng truyền thông.
Về mục đích: Truyền thông hướng đến những hiểu biết chung nhằm
thay đổi thái độ, nhận thức, hành vi của đối tượng truyền thông và tạo định
hướn giá trị cho công chúng.
Hay ta có thể nói một cách ngắn gọn truyền thông là quá trình truyền
đạt thông tin. Ngay trong một bầy ong hay một bầy kiến cũng có truyền
thông. Đám ong thợ thường truyền đạt cho nhau những thông tin về loài hoa
mà chúng tìm được cũng như về khoảng cách và phương hướng mà chúng

chúng” như báo chí, phát thanh, truyền hình, internet, radio là nói tới những
công cụ kĩ thuật (hay các kênh) để nhờ đó người ta có thể thực hiện quá trình
truyền thông đại chúng. Còn khi nói tới “truyền thông đại chúng” là chúng ta
muốn nói tới một quá trình xã hội: quá trình truyền tải thông tin ra công
chúng thông qua các phương tiện ấy.
7


Ta mở Tivi xem cô dẫn chương trình đọc một câu truyện liên quan đến
chủ đề về sức khỏe sinh sản hay xem một trận bóng đá đó là một hành vi
được gọi là nằm trong quá trình truyền thông đại chúng. Thế nhưng nếu
chúng ta cũng mở màn hình tivi, nhưng lại để coi một cuốn băng video quay
cảnh đám cưới của bạn thì hành động này không thể được coi là nằm trong
quá trình truyền thông đại chúng, bởi lẽ đơn giản cuốn băn này chỉ được quay
và phát trong khuôn khổ sinh hoạt gia đình mà thôi. Nhưng nếu chúng ta xem
một cuốn băng quay video đám cưới của gia đình một diễn viên điện ảnh
chẳng hạn được phát trên kênh truyền hình, thì đó lại là một hành vi nằm
trong quá trình truyền thông đại chúng.
Nói cách khác, điều mấu chốt để xác định xem một hành vi có nằm
trong quá trình truyền thông đại chúng hay không không phải là cái màn hình
tivi hay cái đầu máy video, mà là cần xem xét xem hành vi ấy có nằm trong
quá tình truyền tải thông tin ra rộng rãi công chúng thông qua các phương tiện
truyền thông đại chúng hay không.
Người ta thường liệt kê các hoạt động sau đây có thể nẳm trong lĩnh
vực truyền thông đại chúng: báo chí, phát thanh, truyền hình, xuất bản… gần
đây chúng ta có thể kể thêm cả Internet. Tuy nhiên cần lưu ý rằng phương tiện
Internet có đặc điểm là có thể sử dụng cho cả ba loại truyền thông: truyền
thông liên cá nhân chẳng hạn gửi thư điện tử hay e-mail; truyền thông tập thể
chẳng hạn trang website mà chỉ có những người trong nội bộ một cơ quan hay
một công ty nới có thể truy cập được; truyền thông đại chúng chẳng hạn

bước vào tuổi dậy thì (13-14) cơ thể đã bắt đầu phát triển nhanh hơn mức
bình thường các em cao rất nhanh, có năm cao được 5-6cm. Còn ở các em
nam, chiều cao phát triển nhanh nhất bắt đầu khoảng 14-15 và tốc độ đạt 1020cm/năm.
Về cân nặng: Do có sự đột biến về cân nặng, ở nữ xảy ra hiện tượng
tăng vọt cân nặng sớm hơn các em nam và thường đạt ở mức ổn định ở tuổi
19 đối với nữ và 20 đối với nam, các em đã không còn giữ lại dáng vẻ trẻ con
nữa. giữa các phần của cơ thể như thân mình, chân tay, vai đã có tỷ lệ cân đối
hơn. Ở các em gái bắt đầu có sự tích mỡ ở ngực, chậu hông và dằng sau vai
tạo nên dáng vẻ nữ tính, mềm mại. Các em trai đã có sự phát triển và tích tụ
khối cơ làm cho thân thể trở nên cường tráng.

9


Cùng với sự biến đổi của chiều cao và cân nặng, cơ thể các em nam, nữ
ở độ tuổi dậy thì còn có một số biến đổi như: lông mu bắt đầu xuất hiện ở cả
hai giới và hệ lông phát triển chủ yêu là lông ngực, lông nách, lông tay chân
và râu ria ở các em nam. Ở nữ, vú chớm nở lúc 8 tuổi và tiếp tục phát triển
cho tới 13- 18 tuổi. Kinh nguyệt xuất hiện trong khoảng từ 9- 18 tuổi. Ở các
em nam, dương vật và tinh hoàn cũng phát triển mạnh và đạt mức hoàn chỉnh
vào khoảng 14-18 tuổi.
Như vậy tuổi dậy thì là cái mốc đánh dấu sự trưởng thành về sinh học
trong cơ thể vị thành niên. Những thay đổi cơ thể, hình dáng, đặc biệt là cơ
quan sinh dục làm phân biệt rõ giới tính nam hay nữ và các em bắt đầu có khả
năng sinh sản nếu có hoạt động tình dục.
• Đặc điểm tâm lý lứa tuổi vị thành niên.
Những biến đổi về mặt sinh lý đôi khi còn tác động đấn tâm lý của các
em, các em thường tò mò về cơ thể mình, về sự biến đổi nhanh chóng về hình
dáng, các cảm giác mới lạ và có nhu cầu điều chỉnh về những thay đổi mới
đó. Do không hiểu biết đầy đủ, các em thường không hài lòng với hình thể,

khác giới. Các em bắt đầu thích đọc sách viết về những mối tình say mê, xúc
động, thích bài hát, thích xem phim lãng mạn nói về tình yêu, quan tâm đến
các nhân vật trong truyện, trong phim làm quen ra sao? Thích nhau như thế
nào và học tập theo, thích tìm các clip nói về tình yêu hay các câu truyện
được phát sóng trên đại phát thanh…. Từ đó những rung cảm yêu đương
được tạo nên trong suy nghĩ, trong tưởng tượng. Trong một hoàn cảnh nào đó,
các mối quan hệ với bạn khác giới bỗng tạo nên những cảm xúc giới tính
mạnh mẽ khiến nhiều em ngộ nhận đó là tình yêu. Tình yêu dường như là một
mong muốn kì diệu trong giai đoạn này. Một số em yêu sớm và khi lý trí chưa
đủ giúp các em làm chủ được những rung cảm, đôi khi là quá mãnh liệt khiến
các em có thể có những hành vi sai trái trong quan hệ với bạn khác giới,
không thể từ chối quan hệ tình dục với người mình yêu.
Mặt khác, hiện nay trên các phương tiện truyền thông đại chúng các em
có thể nhanh chóng và dễ dàng tìm được những thông tin về sức khỏe sinh sản
nếu các em có những kiến thức nền tảng tốt và lành mạnh về sức khỏe sinh
11


sản thì các em sẽ dân hình thành những hành vi lành mạnh và có trách nhiệm
đối với bản thân cũng như cộng đồng. Ngược lại sẽ dẫn đến những hậu quả
khôn lường, những hành vi có vấn đề làm ảnh hưởng hoặc gây tổn hại đến
cuộc sống của bản thân hoặc nhứng người khác.
Như vậy, do không đồng bộ về sự phát triển nhanh chóng về mặt cơ thế
và sự thiếu kinh nghiệm, chưa ổn định về mặt tâm lý xã hội cũng như chịu
ảnh hưởng của các bộ phim, các clip, câu truyện trên các phương tiện truyền
thông địa chúng khiến các em có những xáo trộn mãnh liệt ở giai đoạn này.
1.1.3 Khái niệm sức khỏe sinh sản
Khái niệm sức khỏe sinh sản đã được chấp nhận và được chính thức
hóa trong phạm vi toàn thế giới từ “Hội nghị quốc tế lần thứ tư về dân số và
phát triển” họp tại Cai - rô, thủ đô của Ai Cập tháng 9/1994. Trong chương

đại chúng như tivi SKSS bao gồm những khía cạnh sau :
-

Sức khỏe thể chất : cơ thể khỏe mạnh , các cơ quan sinh dục nam ,

nữ không bị tổn thương và đảm bảo cho việc thực hiện chức năng tình dục và
sinh sản.
-

Sức khỏe tinh thần : cá nhân cảm thấy thoải mái với chính mình về

sức khỏe sinh sản và tình dục , biết thừa nhận những nhược điểm , không tự ti
, sống đoàn kết với mọi người.
-

Sức khỏe xã hội : đảm bảo sự an toàn cho xã hội , có mối quan hệ

tốt với cộng đồng
(Trích từ cuốn "Vị thành niên/Thanh niên cùng tìm hiểu quyền SKSS và
quyền SKTD")


Nội dung sức khỏe sinh sản:

Theo chương trình hành động của hội nghị quốc tế về dân số và phát
triển các vấn đề trọng tâm về SKSS được xác định ở những nội dung sau:
+ Làm mẹ an toàn, bao gồm cả việc chăm sóc khi mang thai, khi đẻ
và sau khi đẻ, cả mẹ và con đều an toàn.
+ Thực hiện kế hoạch hóa gia đình làm cho mức sinh sản phù hợp với
nhịp độ phát triển kinh tế giúp thực hiện quyền sinh sản.

truyền thông đại chúng, gia đình, bạn bè…..
Nội dung sức khỏe sinh sản của các em đang ở lứa tuổi 15 đến 18 cần
tập trung vào những điểm sau:
-

Những kiến thức về sự phát triển của con người

+ Về giải phẫu
+ Cấu tạo, chức năng của các cơ quan sinh dục
+ Tuổi dậy thì
+ Các bệnh lây truyền qua đường tình dục
+ Hành vi tình dục và văn hóa tình dục:
+ Giữ gìn vệ sinh, rèn luyện thân thể
+ Sức khỏe tình dục, phòng tránh thai, nạo phá thai

14


Căn cứ vào đặc điểm lứa tuổi và đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi để chia
thành những nội dung trọng tâm cần tập trung để truyền tải đến cho các em.
Từ đó, đề tài “Ảnh hưởng của truyền thông đại chúng đến sức khỏe
sinh sản của học sinh trường THPT Đại Mỗ” em xin được nghiên cứu về ảnh
hưởng của truyền thông đại chúng đến sức khỏe sinh sản trong hai nội dung
cụ thể như trên.
1.1.4 Khái niệm vị thành niên
Theo từ điển tiếng Việt thì “Vị thành niên là những người chưa đến
tuổi trưởng thành để chịu trách nhiệm về những hành động của mình”
Vị thành niên là một giai đoạn (một thời kì) trong quá trình phát triển
của con người bao gồm cả hai giới nam và nữ với đặc điểm lớn nhất là sự
tăng trưởng mạnh mẽ để đạt tới sự trưởng thành về cơ thể, sự tích lũy kiến

ngày nay phải được chuẩn bị cho một tương lai với những thách thức lớn hơn
vì nhiều vấn đề và những mối quan tâm mới đã phát sinh, như HIV/AIDS,
toàn cầu hóa, phân hóa mức sống… và những vấn đề khác. Nhận thức về
quan hệ tình dục, tình yêu, hôn nhân và sinh sản đang thay đổi. Điều này đòi
hỏi lớp trẻ phải có hiểu biết và được chuẩn bị kỹ càng trước khi đưa ra những
quyết định có ảnh hưởng đến tương lai của mình.
Có một thực tế là nhiều thanh thiếu niên bắt đầu quan hệ tình dục trong
khi không hiểu biết đúng đắn về sức khỏe sinh sản. Sự thiếu hiểu biết này có
thể đẩy các em gái vào nguy cơ có thai ngoài ý muốn, hoặc mắc các bệnh lây
truyền qua quan hệ tình dục, gồm cả HIV/AIDS. Giáo dục sức khỏe sinh sản
vị thành niên hay giáo dục giới tính, có thể giúp lớp trẻ có một cuộc sống lành
mạnh và hạnh phúc, ngăn ngừa những nguy cơ nói trên và nâng cao đời sống
và sức khỏe sinh sản sau này.
Hiện nay, trên thế giới cũng như tại Việt Nam đã bắt đầu có sự quan
tâm hơn tới việc giáo dục giới tính cho thanh thiếu niên. Bởi, giáo dục giới
tính là việc làm thiết yếu để giáo dục lớp trẻ sống lành mạnh và có ích hơn.
• Trên thế giới
Ngay từ thế kỷ XX, có những công trình nghiên cứu vấn đề này như
các công trình của V.V Phavrơ, D.N Zbancov, P.P Blonxki,…
16


Những năm 30, sức khỏe sinh sản được nghiên cứu toàn diện hơn về
nội dung, phương pháp và việc tổ chức thực hiện. A.X Makarenko khẳng định
vai trò cần thiết và quan trọng của giáo dục giới tính đồng thời đưa ra những
nguyên tắc, nội dung, phương hướng giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh.
Riêng Thụy Điển lần đầu tiên vào năm 1942, Bộ giáo dục Thụy Điển
quyết định thí điểm đưa giáo dục tình dục vào nhà trường đến năm 1956 thì
dạy phổ cập cho tất cả các bậc học từ tiểu học đến trung học.
Đến năm 1960, giáo dục giới tính mới được khẳng định, được nghiên

sức khỏe sinh sản là một cái gì đó rất xa lạ với các em học sinh.
Nội dung giáo dục giới tính được đề cập và phổ biến dưới nhiều hình
thức khác nhau ở những năm 80 của thế kỷ XX như: báo cáo khoa học,
chuyên đề, nội dung sinh hoạt ở các câu lạc bộ mà trong những người tham
dự có khá đông các em học sinh… dù rằng chưa chính thức và sâu sắc nhưng
vấn đề giáo dục giới tính nói chung, nội dung giáo dục giới tính cho học sinh
nói riêng bắt đầu là điểm nóng của nhiều ngành khoa học, nhiều nhà khoa
học. Đặc biệt hơn, vào ngày 24 tháng 12 năm 1984 chủ tịch hội đồng Bộ
trưởng Phạm Văn Đồng ký chỉ thị 176 a, trong đó nêu rõ: “Bộ giáo dục, Bộ
Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Tổng cục dạy nghề phối hợp với các tổ
chức có liên quan xây dựng chương trình chính khóa và ngoại khóa nhằm bồi
dưỡng cho học sinh những kiến thức khoa học về giới tính, về hôn nhân và
gia đình, về nuôi dạy con”.
Bộ giáo dục đã ra chỉ thị về việc giáo dục dân số và giáo dục giới tính
trong toàn bộ hệ thống trường học các cấp và các ngành học của cả nước với
khối lượng nội dung và chương trình tương ứng.
Đến năm 1985, các công trình nghiên cứu về giáo dục giới tính, nội
dung giáo dục giới tính, tình yêu, hôn nhân gia đình lần lượt được thừa nhận.
Nhiều nhà khoa học như: Trần Trọng Thủy, Đặng Xuân Hoài, Đức Uy, Phạm
Hoàng Gia, Nguyễn Thị Đoan… đã nghiên cứu những mặt khác nhau xung
quanh giáo dục giới tính như: nhu cầu, nguyện vọng, dư luận xã hội, nội
dung…Ngay sau đó, cũng năm 1985 Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp
phối hợp với công đoàn nhành Đại học tổ chức hội thảo về giáo dục giới tình
cho sinh viên các trường Đại học, tổ chức hai lớp tập huấn cho một số cán bộ
Đoàn, cán bộ Tuyên huấn… ở các trường Đại học và Trung học chuyên
18


nghiệp ở phía Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh về vấn đề giáo dục giới tính
nhằm hỗ trợ cho việc đưa các nội dung giáo dục giới tính đến với học sinh


Cuốn sách “Giáo dục giới tính vì sự phát triển của vị thành niên” của
bác sĩ Đào Xuân Dũng, nxb Hà Nội, 2002 đã cho thấy sự cần thiết phải giáo
dục giới tính cho trẻ ở độ tuổi vị thành niên.
PGS.TS Hoàng Bá Thịnh chủ biên cuốn sách “Một số nghiên cứu về
sức khỏe sinh sản ở Việt Nam sau Cai-rô” của NXB Chính trị quốc gia.
Trường Đại Học Y Thái Bình với báo cáo kết quả đề tài nghiên cứu sức
khỏe sinh sản vị thành niên ở 5 tỉnh của Việt Nam nghiên cứu cho biết tỉ lệ trẻ
vị thành niên có được thông tin từ nhà trường trong các lĩnh vực sức khỏe
sinh sản.
Tuy nhiên, chưa có đề tài nào nghiên cứu về ảnh hưởng của truyền
thông đại chúng đến sức khỏe sinh sản của học sinh THPT Đại Mỗ. Các
phương tiện truyền thông đại chúng ảnh hưởng đến nhận thức, thái độ, hành
vi của các em về sức khỏe sinh sản ra sao? Đề tài nghiên cứu của em sẽ làm
rõ vấn đề trên.
1.2.2 Lịch sử phương tiện truyền thông đại chúng
• Truyền hình (Tivi)
Truyền hình là một phương tiện thông tin đại chúng khá quen thuộc với
mọi người dân, dùng để truyền tải mọi thông tin, âm thanh, hình ảnh mà con
người quan tâm. Truyền hình đã xuất hiện rất lâu trong đời sống và giữ vai trò
quan trọng không thể thiếu được.
Truyền hình xuất hiện vào đầu thế kỷ thứ XX và phát triển với tốc độ
như vũ bão nhờ sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật và công nghệ, tạo ra một
kênh thông tin quan trọng trong đời sống xã hội. Ngày nay, truyền hình là
phương tiện thiết yếu cho mỗi gia đình, mỗi quốc gia, dân tộc. Truyền hình
trở thành vũ khí, công cụ sắc bén trên mặt trận tư tưởng, văn hóa cũng như
lĩnh vực kinh tế xã hội. Ở thập kỉ 50 của thế kỉ XX, truyền hình chỉ được sử
dụng như là công cụ giải trí, rồi thêm chức năng thông tin. Dần dần truyền
hình đã trực tiếp tham gia vào quá trình quản lý và giám sát xã hội, tạo tập và
định hướng dư luận, giáo dục và phổ biến kiến thức, phát triển văn hóa, quảng

dục an toàn, các biện pháp tránh thai an toàn…. Trên các chương trình truyền
hình phát sóng theo khung giờ thì sẽ có thêm được rất nhiều kiến thức bổ ích
cũng như tạo cho bản thân một vốn hiểu biết về sức khỏe sinh sản.
21


Như vậy, cùng với các phương tiện truyền thông đại chúng khác truyền
hình là một kênh thông tin hữu hiệu cung cấp cho tất cả các đối tượng xem
truyền hình đặc biệt là các bạn thanh thiếu niên những kiến thức bổ ích về sức
khỏe sinh sản thông qua các chuyên đề được truyền tải dưới dạng tình huống
hay hình ảnh, các kênh chữ hay quảng cáo.


Internet

Xu thế toàn cầu hóa đang diễn ra trên thế giới đã và đang tác động to
lớn vào sự phát triển của ngành truyền thông nói chung. Sự phát triển của
Internet là một trong những yếu tố quan trọng làm cho việc chuyển tải thông
tin tới các khu vực trên thế giới một cách dễ dàng và tiện lợi.
Chúng ta hãy nhìn lại lịch sử hình thành và phát triển của nó để thấy
được xu hướng phát triển của Internet ngày nay là một sự tất yếu.
Thời kỳ phôi thai của Internet bắt nguồn từ việc năm 1969 Bộ Quốc
phòng Mĩ xây dựng dự án ARPANET đây là nghiên cứu tiên tiến, nghiên
cứu về lĩnh vực mạng, với ý đồ là chia sẻ thông tin giữa các trung tâm nghiên
cứu và sẽ có khả năng tự định đường truyền tin ngay sau khi 1 phần mạng đã
được phá hủy.
Trong 10 năm từ năm 1972 đến năm 1982, các nhà khao học cùng một
số các trường đại học tại Mĩ, Anh, Na-Uy… đã nhiều lần cải tiến, thay đổi,
nâng cấp các đời mạng ARPANET liên kết 40 máy thông qua các bộ xử lí
giao tiếp giữa các trạm cuối, thiết lập giao thức bắt tay, phát minh ra E- mail

trái đất một cách trực tiếp.
Đài Phát thanh - Truyền hình Hà Nội là cơ quan truyền thông báo chí
trực thuộc Ủy ban Nhân dân Thành phố Hà Nội. Đài được thành lập ngày 14
tháng 10 năm 1954, sau ngày Hà Nội được chính quyền Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa tiếp quản, khi đó chỉ có chức năng phát thanh. Hiện nay, truyền
hình Hà Nội có 6 bản tin thời sự về thành phố và 4 bản tin thế giới trong ngày.
Kể từ ngày 10 tháng 10 năm 1998, hệ thống Phát thanh - Truyền hình Hà Nội
phát sóng liên tục trên 18 giờ 30 phút mỗi ngày với trên 100 chuyên đề,
chuyên mục. Ngoài hai lĩnh vực chính là truyền thanh và truyền hình, đài còn
thành lập báo điện tử Hà Nội vào ngày 14 tháng 10 năm 2002.
Ngày 10 tháng 11 năm 2013, đài đưa vào sử dụng Trung tâm kĩ thuật
TD-PS tại thôn Phú Đô, xã Mễ Trì, huyện Từ Liêm với cột ăng ten cao 250m,
phủ sóng toàn vùng Trung du và đồng bằng Bắc Bộ.
Theo lộ trình số hóa Đài sẽ ngừng phát sóng Analog từ ngày
31/12/2015 và sẽ chuyển sang phát sóng kĩ thuật số công nghệ DVB-T2
23


Không chỉ dừng lại ở các bản tin về thể thao đài phát thanh truyền hình
Hà Nội còn có các mảng tin về kinh tế, mảng tin về giáo dục và pháp luật,
mảng tin về phim truyện, âm nhạc, mảng tin về sức khỏe và đời sống, mảng
tin về an ninh được chia thành các khung giờ phát song riêng để phủ song
trong các bảng tin.
Mảng tin về sức khỏe và đời sống và mảng tin về chuyên mục các câu
truyện về tình yêu có lẽ là những mảng tin thu hút được phần đông sự chú ý
của các độc giả ở độ tuổi vị thành niên. Trong các bản tin này sẽ có các câu
truyện về tình yêu, cũng như cung cấp cho các bạn thanh thiếu niên những
thông tin bổ ích về sức khỏe sinh sản để các em có thể tích lũy lại làm kinh
nghiệm cho bản thân mỗi khi mình gặp phải những tình huống như các nhân
vật trong bản tin.

+
+
+
+
+
+

Ấn phẩm về sức khỏe
Ấn phẩm về tình bạn
Ấn phẩm về tình yêu, tình bạn
Ấn phẩm về văn hóa - du lịch
Ấn phẩm trong lĩnh kinh doanh
……………………
Những ấn phẩm như báo, tạp chí cũng là những phương tiện truyền

tải thông tin về sức khỏe sinh sản hữu hiệu tới độc giả là các em đang trong
độ tuổi vị thành niên. Nội dung về sức khỏe sinh sản đăng tải trên báo và tạp
chí được thể hiện dưới nhiều dạng bài viết khác nhau. Thực tế cho thấy, có
những bài được đăng tải dưới dạng ký sự, ngoài ra, nhiều bài viết rất ngắn
gọn, chỉ giới thiệu về cấu tạo, những chức năng và nhiệm vụ, giải phẫu, các
biện pháp phòng tránh thai.
Như vậy, lịch sử phương tiện truyền thông đại chúng về sức khỏe sinh
sản giúp cho bạn đọc có thể hiểu về sự ra đời của phương tiện thông tin đại
chúng cùng sự phát triển không ngừng của các phương tiện này và hiệu quả
hoạt động của từng phương tiện trong lĩnh vực sức khỏe sinh sản nói riêng.
1.2.3 Vài nét về đối tượng và địa bàn nghiên cứu
1.2.3.1 Địa bàn nghiên cứu
Trường THPT Đại Mỗ được thành lập theo Quyết định 5073/QĐ-UB
ngày 27 tháng 4 năm 2002 của Uỷ ban Nhân dân Thành phố Hà Nội. Trường
nằm trên địa bàn Thôn An Thái- xã Đại Mỗ - huyện Từ Liêm Hà Nội.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status