Ảnh hưởng của điều kiện lao động tới sức khoẻ của công nhân lao động nữ trong ngành chế biến thuỷ sản - Pdf 20

LỜI CẢM ƠN
Để có được kết quả như ngày hôm nay, tác giả xin chân thành cảm ơn sự
dạy dỗ chỉ bảo tận tình của các thầy cô trong khoa Xã hội học , xin bày tỏ sự
cảm ơn đối với các bạn bè trong và ngoài lớp cũng như các cô chú trong Công
đoàn thuỷ sản Việt Nam , Ban giám đốc các nhà máy xí nghiệp chế biến thuỷ
sản trực thuộc Bộ thuỷ Sản và các công nhân đã giúp đỡ tác giả hoàn thành bài
viết này.
Đặc biệt tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với sự tận tình chỉ
bảo, giúp đỡ của cô giáo hướng dẫn , giảng viên Xã hội học Hoàng Thị
Nga
Do còn hạn chế về thời gian cũng như kinh nghiệm cho nên bài viết không
thể tránh khỏi những hạn chế thiếu sót, vì vậy tác giả rất mong nhận được sự
chỉ bảo đóng góp ý kiến của thầy cô và các bạn.
Xin chân thành cảm ơn!
1
PHẦN I: MỞ ĐẦU
I- Tính cấp thiết của đề tài
1- Lý do chọn đề tài
Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI- 1986, Đảng và Nhà nước ta quan
niệm phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị
trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN làm cho dân giàu
nước mạnh đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu về mặt vật chất và tinh thần của
nhân dân trên cơ sở giải phóng mọi năng lực sản xuất, phát huy mọi tiềm năng
của các thành phần kinh tế. Chính sách này đã thúc đẩy nhiều thành phần kinh tế
ngày càng phát triển. Nhờ vậy nền kinh tế đang ngày càng phát triển, đời sống
vật chất và tinh thần của người lao động được cải thiện đáng kể, nền kinh tế
quốc dân được tăng cao…
Bên cạnh đó, việc đảm bảo điều kiện lao động tốt cho người lao động là
mục tiêu lớn của Nhà nước ta trên con đường CNH- HĐH đất nước. Điều đó là
vô cùng quan trọng, bởi trong công cuộc đổi mới đất nước muốn nâng cao hiệu
quả sản xuất thì phải phát huy hết khả năng lao động sáng tạo của con người mà

xuất, đồng thời giúp người lao động có thể nhận thức đầy đủ về điều kiện lao
động và có những hành động tích cực trong việc cải thiện môi trường làm việc
của mình.
2.2.Ý nghĩa thực tiễn
Cho ta thấy thực trạng công việc của người lao động để tìm ra các giải
pháp, chính sách về lao động nhằm làm giảm các bệnh nghề nghiệp cũng như
bệnh thông thường, góp phần cải thiện môi trường làm việc, đảm bảo sức khoẻ
và tăng hiệu quả sản xuất.
3- Mục đích, đối tượng, khách thể, phạm vi và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu ảnh hưởng của điều kiện lao động tới sức khoẻ của nữ công
nhân trong ngành chế biến thuỷ sản từ đó tìm ra các giải pháp làm giảm khả
3
năng mắc các bệnh thông thường và bệnh nghề nghiệp, thực hiện chủ trương
“sức khoẻ cho mọi người”.
4
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là nghiên cứu khảo sát thực trạng
điều kiện lao động ảnh hưởng của điều kiện lao động tới sức khoẻ nữ công nhân
trong ngành chế biến thuỷ sản. Bao gồm các yếu tố như môi trường lao động,
khí hậu, điều kiện lao động…
3.3 Khách thể nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu là các nữ công nhân- Những người lao động trực
tiếp làm việc trong môi trường chế biến thuỷ sản.
3.4 Phạm vi nghiên cứu
.Phạm vi về không gian: Khảo sát xã hội học tại một số nhà máy chế
biến trực thuộc Bộ thuỷ sản (Công ty Xuất nhập khẩu đồ hộp thuỷ sản Hạ long )
.Phạm vi về thời gian: Đề tài tiến hành từ 1999 đến tháng 12 năm 2003.
3.5 Nhiệm vụ nghiên cứu
. Mô tả, phân tích thực trạng, các yếu tố của điều kiện làm việc ảnh hưởng tới

ảnh hưởng tới sức khoẻ nữ công nhân.
. Đặc điểm, tính chất của công việc tác động trực tiếp tới sức khoẻ nữ
công nhân.
. Những công nhân ngành chế biến thuỷ sản, đặc biệt là các nữ công nhân
thường mắc các bệnh ngoài da, khớp, tim mạch,hô hấp do các yếu tố của điều
kiện lao động gây ra.
.Nguy cơ mắc bệnh nghề nghiệp cao đối với công nhân làm việc lâu năm
(bệnh nghề nghiệp, bệnh phụ khoa, sức khoẻ sinh sản và một số bệnh thông
thường khác…)
6
6. Khung lý thuyết
ĐIỀU KIỆN KT- XH
ĐIỀU KIỆN LAO ĐỘNG
MÔI
TRƯỜNG
LAO ĐỘNG
CHÍNH SÁCH
XÃ HỘI
KỸ THUẬT
CÔNG NGHỆ
MÁY MÓC
SỨC KHOẺ NỮ CÔNG NHÂN LAO ĐỘNG
NĂNG SUẤT VÀ HIỆU QUẢ LAO ĐỘNG
GIẢI PHÁP
THIẾT BỊ
BHLĐ
7
PHẦN II : NỘI DUNG
CHƯƠNG 1.: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1.Tổng quan vấn đề nghiên cứu

động và vệ sinh môi trường).
3- Công trình nghiên cứu “Ảnh hưởng môi trường làm việc tới sức khoẻ của
công nhân công ty môi trường đầu tư Hà Nội” của Phạm Xuân Đạt- Giám đốc
công ty môi trường đô thị Hà Nội. Đề cập tới hai khía cạnh: môi trường lao động
và ảnh hưởng của nó tới sức khoẻ của người công nhân và môi trường xã hội-
ảnh hưởng của nó tới tinh thần của người công nhân.
4- Công trình nghiên cứu “Điều kiện lao động- điều kiện sinh hoạt của nữ
công nhân ngành Dệt” của kỹ sư Trần Thị Lan- Chủ tịch Công Đoàn ngành
công nghiệp nhẹ. Đề cập đến các yếu tố của điều kiện lao động như: nhiệt độ,
tiếng ồn, độ ẩm, tốc độ gió, độ bụi, ánh sáng, đặc điểm lao động và tổ chức lao
động…từ đó tác giả đã xem xét sự tác động của nó đến sức khoẻ bệnh tật của nữ
công nhân ngành dệt.
Trên cơ sở kế thừa có chọn lọc những kết quả nghiên cứu của các tác giả nói
trên, tác giả tiến hành khảo sát điều kiện lao động của ngành sản xuất thuỷ sản,
cụ thể là trong chế biến thuỷ sản- một ngành mà người lao động nữ phải làm
việc trong một môi trường không thuận lợi.
5- Đề tài “ Nghiên cứu khảo sát thực trạng điều kiện lao động ảnh hưởng đến
sức khoẻ người lao động chế biến thuỷ sản nhằm đề xuất cac giải pháp, cải thiện
điều kiện lao động, bổ sung danh mục bệnh nghề nghiệp” của Nguyễn Thị
Phương Lâm (Trưởng ban chính sách kinh tế xã hội - Công đoàn thuỷ sản Việt
Nam- Bộ Thuỷ Sản) làm chủ nhiệm đề tài-Tháng 7 năm 2002. Đề tài đã nghiên
cứu tại 13 cơ sở chế biến thuỷ sản đông lạnh ở cả ba miền :Bắc bộ, Trung bộ và
Nam Bộ. Mục đích của đề tài này là nghiên cứu, khảo sát điều kiện lao động ,
môi trường lao động, sức khoẻ và bệnh tật của người lao động ché biến thuỷ sản
9
bao gồm các yếu tố ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ người lao động trong quá trình
chế biến thuỷ sản (vi khí hậu, sinh học tư thế lao động và thao tác làm việc).
Khám và phân tích mối liên quan giữa tình hình sức khoẻ và bệnh tật. Đồng thời
đề tài cũng đề xuất các biện pháp cải thiện điều kiện lao động và đề nghị nhà
nước bổ sung một số bệnh nghề nghiệp đặc trưng của ngành vào danh mục bệnh

Môi trường lao động là tổng thể các yếu tố bao quanh một sinh thể hay quần
thể sinh vật tác động lên cuộc sống. Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên
(đất đai, khí hậu), hệ sinh vật, động thực vật, cùng các yếu tố kinh tế xã hội (các
hoạt động sản xuất, các quan hệ, phong tục tập quán, văn hoá…) hay theo định
nghĩa của Luật Bảo vệ môi trường thì môi trường bao gồm: “các yếu tố tự nhiên
và các yếu tố vật chất, xã hội nhằm tạo ra quan hệ mật thiết với nhau bao quanh
con người, có ảnh hưởng đến sản xuất sự tồn tại và phát triển của con người tự
nhiên”
(Tôn Thiện Chiếu-Môi trường lao động một số ngành độc haị và thái độ của
họ-Viện XHH)
2.3. Sức khoẻ
Theo tổ chức y tế thế giới thì “sức khoẻ là trạng thái sảng khoái đầy đủ về
thể chất, tinh thần và xã hội”. Còn trong chiến lược Bảo vệ sức khoẻ nhân dân
1999- 2000 của Bộ y tế đã nêu rõ “sức khoẻ là trạng thái thoải mái đầy đủ về thể
chất, tâm hồn và xã hội chứ không chỉ bó hẹp vào nghĩa là không có bệnh hay
thương tật, đây là một quyền cơ bản của con người. Khả năng vươn lên đến một
sức khoẻ cao nhất có thể đạt được là mục tiêu xã hội quan trọng liên quan đến
toàn thế giới và đòi hỏi sự tham gia của nhiều tổ chức xã hội khác nhau chứ
không đơn thuần là lực của ngành y tế”.
2.4. Công nhân
“Công nhân là những người lao động chân tay, làm việc theo giờ công và
ăn lương theo sản phẩm”.
(Từ điển Tiếng Việt –NXB Đà Nẵng – 1998, trang 40)
11
2.5. Bệnh nghề nghiệp
“Là hiện tượng bệnh lý mang tính chất đặc trưng nghề nghiệp hoặc liên
quan tới nghề nghiệp do tác hại thường xuyên và kéo dài của điều kiện lao động
xấu”
(TừđiểnbáchkhoaViệtNam-T203-NXBHàNội)
12

động.
13
CHƯƠNG 2: ẢNH HƯỞNG CỦA ĐIỀU KIỆN LAO ĐỘNG TỚI
SỨC KHOẺ NỮ CÔNG NHÂN NGÀNH CHẾ BIẾN THUỶ SẢN
1. Vài nét về ngành thuỷ sản.
Ngành Thuỷ sản Việt Nam với hơn 40 năm xây dựng và phát triển, trong
những năm đổi mới đã nhanh chóng phát triển thành một ngành kinh tế mũi
nhọn, có vị trí quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước hiện
tại và tương lai.
Với 3260 km bờ biển, 12 đầm phá và các eo vịnh, 112 cửa sông, lạch,
4.000 hòn đảo lớn nhỏ ven biển, cùng với 2860 km sông ngòi, 450.000 ha ao
hồ, 90.000ha đầm lầy,Việt Nam có nguồn nhân lực dồi dào và khí hậu nhiệt đới
gió mùa quanh năm ấm áp đã tạo cho nước ta tiềm năng to lớn để phát triển thuỷ
hải sản.
Hàng năm, ngành Thuỷ Sản cung cấp 40% lượng đạm động vật cho nhu
cầu tiêu dùng của nhân dân trong cả nước. Kim ngạch xuất khẩu năm 2001 đạt
1,760 triệu USD, đứng thứ 3 sau dầu khí và dệt may và chiếm 10%- 14% tổng
kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Hiện có 272 cơ sở chế biến thuỷ sản, trong đó
có 246 cơ sở chế biến đông lạnh, với cơ cấu sản phẩm thay đổi đa dạng đã góp
phần giải quyết việc làm cho hàng chục ngàn lao động, tăng thu nhập, cải thiện
đời sống cho nông, ngư dân.
Theo số liệu của Cục Bảo vệ Nguồn lợi Thuỷ sản, ở Việt Nam hiện nay có
trên 5 triệu người sống ở các vùng ven biển, trong đó có 2,2 triệu người trực tiếp
làm nghề cá và dịch vụ nghề cá, số lao động trực tiếp đánh bắt là 427.000 người,
nuôi trồng là 560.000 người, dịch vụ khoảng 01 triệu người và chế biến là
250.000 người.
Hiện nay, ngành thuỷ sản đang trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn.
Bước vào thời kỳ đổi mới ngành thuỷ sản nhanh chóng phát triển thành một
ngành sản xuất hàng hoá quy mô lớn, đóng góp đáng kể cho sự phát triển chung
của đất nước. Sản lượng thuỷ sản tăng đáng kể trong 10 năm qua.

15
hiếm thấy công nhân chế biến thuỷ sản đông lạnh còn trực tiếp làm việc ở phân
xưởng sản xuất, đặc biệt là lao động nữ. Họ sớm bị mất khả năng lao động dẫn
đến nguy cơ mất việc làm, do trình độ văn hoá thấp nên họ không có cơ hội
được đào tạo chuyên môn khác để chuyển vị trí lao động.
Tuy nhiên công nhân ngành Thuỷ sản trong đó có công nhân chế biến
thuỷ sản đông lạnh được thực hiện chế độ theo Quyết định số 1453/ QĐ-
LĐTBXH, ngày 13/10/1995; Quyết định số 190/ QĐ - LĐTBXH, ngày3/3/1999;
Quyết định số 1629/ QĐ-LĐTBXH, ngày 26/12/1996 của Bộ Lao động Thương
binh Xã hội ban hành tạm thời danh mục nghề nặng nhọc độc hại nguy hiểm và
đặc biệt nặng nhọc độc hại nguy hiểm, nhưng số đông CN- LĐ không còn sức
khoẻ để lao động tiếp đến lúc nghỉ hưu (nữ đủ 50 tuổi, nam đủ 55 tuổi).
3. Điều kiện lao động sản xuất ngành chế biến thuỷ sản.
3.1. Môi trường lao động.
Trong lao động xản xuất ở bất kỳ ngành nào việc đảm bảo tốt điều kiện
lao động luôn là ưu tiên hàng đầu. Ngoài ra còn phải thường xuyên khảo sát các
yếu tố độc hại của môi trường sản xuất nhằm đánh giá thực tế mức độ ảnh
hưởng đến sức khoẻ người lao động .
Trong ngành chế biến thuỷ sản do đặc thù của công việc nên người lao
động phải phải làm việc trong các điều kiện thiếu vệ sinh, nhiều rủi ro nguy
hiểm. Họ thường xuyên phải tiếp xúc với các yếu tố bất lợi như lạnh ẩm nên
công nhân ở đây nhất là công nhân nữ gặp rất nhiều khó khăn.
Quá trình xản suất luôn gắn chặt với nước- môi trường có hàm lượng
muối có độ ăn mòn cao, phải chịu ảnh hưởng của các điều kiện tự nhiên rất khắc
nghiệt. ở các gian chế biến cơ bản đều có tiếng ồn đạt tiêu chuẩn vệ sinh cho
phép mặc dù vẫn còn một số điểm cao hơn tiêu chuẩn vệ sinh cho phép. Tuy
nhiên, ở các gian cấp đông và máy nén đều có tiếng ồn cao, thậm chí cao hơn rất
nhiều so với tiêu chuẩn vệ sinh cho phép. Cường độ chiếu sáng trong các gian
máy nén cũng còn nhiều điểm chưa đạt tiêu chuẩn.
16

nhân không tự rút chân ra khỏi ủng được. Triệu chứng này càng nặng nề cho
những chị em trước và sau khi sinh con.
Kết quả này cũng cho thấy: chu vi vòng bắp chân của nữ công nhân sau
ca làm việc tăng lên rõ rệt so với thời điểm trước ca. Tại một số vị trí làm việc
như bàn đóng gói sản phẩm, tủ cấp đông thấp làm cho công nhân phải cúi liên
17
tục gây mỏi cổ, mỏi chân, mỏi lưng. Mặt khác những công nhân chế biến thuỷ
sản phải làm việc điều khiển các thiết bị công nghệ nhập từ nước ngoài hoặc bàn
ghế làm việc không được thiết kế phù hợp vừa gây bất tiện, mỏi mệt, vừa tạo
yếu tố nguy hiểm mới tại vị trí làm việc.
Bên cạnh những đặc điểm của điều kiện lao động ở tư thế đứng kéo dài thì
đặc điểm công việc phải tiếp xúc trực tiếp, liên tục với nước đá, nước lạnh, với
sản phẩm được bảo quản ở nghiệt độ thấp hoặc phải làm việc trong các kho
đông lạnh từ -18°C đến - 40°C là một điều kiện rất khắc nghiệt, tuy đã được
trang bị quần áo lao động và có sử dụng phương tiện bảo vệ cá nhân như mũ,
găng tay, ủng, tạp dề chống nước hay quần áo, mũ bông nhưng điều đó không
thể giúp họ tránh được những ảnh hưởng xấu tới sức khoẻ…Người công nhân
lao động thường làm việc trong môi trường nhiệt độ thấp, lượng đá cây được sản
xuất ra phục vụ chủ yếu cho bảo quản và chế biến sản phẩm thuỷ sản chiếm gần
90% lượng đá cây sản xuất của cả nước.
Theo số liệu nghiên cứu của Viện Y học lao động- Viện khoa học kỹ thuật
Bảo hộ lao động- Tổng liên đoàn lao động Việt Nam (năm 1997-2000) (INT/95
M10/DAN) cho thấy việc khảo sát đo đạc tại trên 90% vị trí đo đạc điều kiện
lao động không thuận lợi có độ ẩm cao, 92% các điểm đi lại dễ trơn trượt,
trên60% vị trí làm việc là môi trường có hoá chất ăn mòn, trên 1/3 nơi làm việc
công nhân phải tiếp xúc với môi trường có tác nhân sinh học dễ gây tác hại đối
với da và niêm mạc như dị ứng, lở loét nấm ngứa, viêm quanh móng. Điều đó
cho thấy người lao động phải làm việc trong môi trường rất không thuận lợi.
Thực tế cho thấy, qua việc kiểm tra sức khoẻ định kỳ của công nhân: sức
khoẻ của lao động nữ chủ yếu ở loại II chiếm 59.7%, ngoài ra sức khoẻ của nữ

Phân xưởng tôm (Số mẫu đo n = 25)
Khu xếp hộp
Khu phân cỡ
Khu chế biến
Khu tiếp nhận
- Phòng máy
25,5 - 26,5
25,0 - 27,5
25,0 - 27,5
26,0 - 28,5
28,0 - 29,5
81,0 – 81,5
81,5 - 82,0
85,5 - 86,0
84,5 - 85,0
80,5 - 81,0
0,63 - 0,75
0,25 - 0,40
0,20 - 0,29
0,56 - 0,95
1,36 - 1,43
19

Trích đoạn Chính sách bảo hộ lao động
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status