GVHD: ThS. Nguyễn Hồng Thắm
1
PHẦN I : MỞ ĐẦU
I)
TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
1) Lý do chọn đề tài
Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI- 1986, Đảng và Nhà nước ta
quan niệm phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế
thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng XHCN làm cho dân
giàu nước mạnh đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu về mặt vật chất và tinh
thần của nhân dân trên cơ sở giải phóng mọi năng lực sản xuất, phát huy mọi
tiềm năng của các thành phần kinh tế. Chính sách này đã thúc đẩy nhiều thành
phần kinh tế ngày càng phát triển. Bên cạnh đó, việc đảm bảo điều kiện lao
động tốt cho người lao động là mục tiêu lớn của Nhà nước ta trên con đường
CNH- HĐH đất nước, Điều đó là vô cùng quan trọng, bởi trong công cuộc đổi
mới đất nước muốn nâng cao hiệu quả sản xuất thì phải phát huy hết khả năng
lao động sáng tạo của con người mà muốn làm được điều đó lại phụ thuộc rất
nhiều vào điều kiện lao động có thuận lợi hay không, điều kiện lao động
thuận lợi không những giúp đạt năng suất cao mà còn tạo tiền đề cho sự phát
triển toàn diện của người lao động, và trong sự phát triển toàn diện đó sức
khoẻ là cái vô cùng quan trọng.
Thực tế hiện nay có rất nhiều người lao động đang làm việc tại nhiều
ngành sản xuất độc hại mà điều kiện lao động chưa đảm bảo gây tác động trực
tiếp tới sức khoẻ lao động trong các lĩnh vực như: dệt may, vệ sinh môi
trường, thuỷ sản…Điều kiện lao động có vai trò quan trọng trong sản xuất xã
hội, sản xuất vật chất, điều kiện lao động được hình thành phụ thuộc vào mối
quan hệ giữa kinh tế và cơ sở kỹ thuật của sản xuất.
Trong sự nghiệp phát triển kinh tế của đất nước ngành thuỷ sản đóng một
2.2. Ý nghĩa thực tiễn
Cho ta thấy thực trạng công việc của người lao động để tìm ra các giải
pháp, chính sách về lao động nhằm nâng cao năng suất lao động, làm giảm
các bệnh nghề nghiệp cũng như bệnh thông thường, góp phần cải thiện môi
trường làm việc, đảm bảo sức khoẻ và tăng hiệu quả sản xuất.
3- Mục đích, đối tượng, khách thể, phạm vi và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu thực trạng điều kiện lao động của công nhân trong ngành chế
biến thuỷ sản từ đó tìm ra các giải pháp làm nâng cao năng suất lao động, cải
thiện điều kiện lao động cho công nhân ngành chế biến thủy sản.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
2
SV: Tạ Thị Kim Oanh
Lớp: QTKD TH 50B
GVHD: ThS. Nguyễn Hồng Thắm
3
Điều kiện làm việc của các công nhân trong các nhà máy chế biến
thủy sản Việt Nam, những người trực tiếp sản xuất ra sản phẩm, họ phải trực
tiếp gánh chịu những điều kiện lao động độc hại, nguy hiểm, những căn bệnh
của điều kiện lao động tạo ra.
3
PHẦN II: NỘI DUNG CHÍNH
CHƯƠNG I : CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐIỀU KIỆN LAO ĐỘNG CỦA
CÔNG NHÂN NGÀNH CHẾ BIẾN THỦY SẢN TẠI VIỆT NAM
I)
KHÁI NIỆM CHUNG
Quá trình lao động của con người bao giờ cũng diễn ra trong
một điều kiện sản xuất nhất định. Mỗi môi trường sản xuất khác nhau có các
nhân tố khác nhau tác động đến người lao động. tổng hợp những nhân tố ấy
chính là điều kiện lao động. Điều kiện lao động trong ngành chế biến thủy sản
là tập hợp các nhân tố của môi trường sản xuất có ảnh hưởng tới sức khỏe và
khả năng làm việc của người lao động.
Điều kiện lao động là nhân tố để tăng năng suất lao động, tăng
khả năng làm việc và bảo đảm sức khỏe, an toàn cho người lao động.
Hiện nay người sử dụng lao động đã quan tâm đến sức khoẻ của
người lao động hơn, tuy nhiên hiện nay ở một số doanh nghiệp chế biến thủy
sản của nước ta vẫn chưa đảm bảo những điều kiện lao động cần thiết cho
công nhân.
II)
CÁC NỘI DUNG CỦA ĐIỀU KIỆN LAO ĐỘNG
1) Điều kiện lao động ở mức độ nặng nhọc loại 1
Điều kiện lao động ở mức độ nặng nhọc loại 1 khi nó được thực
hiện trong điều kiện nhẹ nhàng, thoải mái, những công việc loại này thường
có tác dụng tập luyện, nâng cao khả năng làm việc và nâng cao khả năng làm
việc và góp phần nâng cao sức khỏe người lao động.
2) Điều kiện lao động ở mức độ nặng nhọc loại 2
Điều kiện lao động ở mức độ nặng nhọc loại 2 là điều kiện làm
việc phù hợp với điều kiện vệ sinh an toàn lao động và những tiêu chuẩn sinh
6) Điều kiện lao động ở mức độ nặng nhọc loại 6
Điều kiện lao động ở mức độ nặng nhọc loại 6 khi lao động
được tiến hành trong những điều kiện rất nặng nhọc, độc hại, các yếu tố vệ
sinh môi trường vượt tiêu chuẩn cho phép quá cao ở sấp sỉ ngưỡng chịu đựng
tối đa cho phép của cơ thể, thời gian làm việc quá dài.
6
SV: Tạ Thị Kim Oanh
Lớp: QTKD TH 50B
GVHD: ThS. Nguyễn Hồng Thắm
7
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG ĐIỀU KIỆN LAO ĐỘNG CÔNG NHÂN
NGÀNH CHẾ BIẾN THỦY SẢN TẠI VIỆT NAM
1. Vài nét về ngành thủy sản
1.1 Đặc điểm
Với đường bờ biển dài hơn 3.200 km; Việt Nam có vùng đặc quyền kinh
tế trên biển rộng hơn 1 triệu km2. Việt Nam cũng có vùng mặt nước nội địa
lớn rộng hơn 1,4 triệu ha nhờ hệ thống sông ngòi, đầm phá dày đặc. Vị trí địa
lý và điều kiện tự nhiên thuận lợi giúp Việt Nam có nhiều thế mạnh nổi trội
để phát triển ngành công nghiệp thủy sản. Từ lâu Việt Nam đã trở thành quốc
gia sản xuất và xuất khẩu thủy sản hàng đầu khu vực, cùng với Indonesia và
Thái Lan. Xuất khẩu thủy sản trở thành một trong những lĩnh vực quan trọng
của nền kinh tế.
Trong 11 tháng đầu năm 2010, mặc dù cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu
địa vì vậy nguồn cung thủy hải sản rất dồi dào và ổn định. Trữ lượng hải sản
ở Việt Nam ước tính có khoảng 4,2 triệu tấn và nguồn tái tạo là khoảng 1,73
triệu tấn.
Mở rộng diện tích nuôi trồng thủy sản và cải thiện khả năng khai thác đánh
cá xa bờ đã giúp sản lượng thủy hải sản Việt Nam không ngừng tăng trong
những năm qua. Mức tăng trưởng trung bình từ năm 2007-2009 là khoảng
11%. Đến hết tháng 11 năm 2010, sản lượng thủy sản đã đạt hơn 4,4 triệu tấn.
Ước tính hết năm nay sẽ đạt khoảng 4,9 triệu tấn, cao hơn năm 2009.
Theo ước tính của Tổ chức lương thực thế giới (FAO), nhu cầu thủy hải
sản trên thế giới ở mức cao. Đối với các nước công nghiệp phát triển, thị
8
SV: Tạ Thị Kim Oanh
Lớp: QTKD TH 50B
GVHD: ThS. Nguyễn Hồng Thắm
9
trường xuất khẩu chính của Việt Nam, mức tiêu thụ thủy hải sản là trên
30kg/người/năm. Trong khi đó, nhu cầu nội địa cũng đang tăng cao do đời
sống người dân ngày càng được cải thiện. Theo ước tính hiện nay là trên
20kg/người/năm. Như vậy, nhu cầu tiêu thụ các sản phẩm thủy hải sản là rất
tiềm năng. Đặc biệt bước sang năm 2011, khi cuộc khủng hoảng kinh tế đã
qua, đời sống người dân dần ổn định và nâng cao, nhu cầu tiêu thụ mặt hàng
thủy hải sản trên thế giới cũng như nội địa sẽ tăng lên.
1.3. Cơ cấu mặt hàng thủy sản
Nam đứng thứ 3, chỉ sau Thái Lan và Indonesia thì năm 2009, đến hết tháng
9/2009 Việt Nam tụt xuống vị trí số 5 sau Êcuado và Trung Quốc. Ngoài ra,
các nhà nhập khẩu Mỹ đang tìm đến nguồn hàng từ các nước gần kề nhằm
giảm chi phí vận chuyển.
1
0
SV: Tạ Thị Kim Oanh
Lớp: QTKD TH 50B
GVHD: ThS. Nguyễn Hồng Thắm
1
1
Mặt hàng cá sa, cá batra chiếm khoảng 32% kim ngạch xuất khẩu: Trong
10 tháng đầu năm, cả nước xuất khẩu khoảng 500 tấn cá, đạt kim ngạch 1,12
tỷ đôla, giảm gần 9% về khối lượng và 10% về giá trị so với năm trước. Thị
trường lớn nhất của cá tra là EU, chiếm 40,8%; tiếp đó là Mỹ 10%; Asean
6,5%.
Các mặt hàng khác: như cá ngừ, bạch tuộc, mực đều giảm so với cùng kỳ
năm ngoái. Cá ngừ giảm 1,2% về lượng và 10,2% về giá trị. Mực và bạch
tuộc giảm 12,9% về khối lượng và 7,7% về giá trị.
1.4. Thị trường xuất nhập khẩu chính
Hiện nay, Việt Nam xuất khẩu sang khoảng 155 thị trường trên thế giới,
trong đó ba thị trường chính là EU, Mỹ và Nhật Bản, chiếm khoảng 60,6%
kim ngạch xuất khẩu. EU chiếm khoảng 26% thị phần hàng xuất khẩu của
dụng với mặt hàng nhập khẩu từ Việt Nam.
1
2
SV: Tạ Thị Kim Oanh
Lớp: QTKD TH 50B
GVHD: ThS. Nguyễn Hồng Thắm
1
3
Xuất khẩu sang Nhật Bản giảm 21,2% về khối lượng và 12,3% về giá trị.
Trong những năm gần đây, Việt Nam phải chịu áp lực cạnh tranh từ các nước
như Indonesia, Thái Lan, Trung Quốc, Hàn Quốc vào thị trường này. Trong
khi đó, nhà nhập khẩu Nhật ngày càng đòi hỏi khắt khe hơn về tiêu chuẩn
chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm.Hiện nay, việc kiểm tra 100% được
áp dụng với tất cả các lô hàng nhập khẩu từ Việt Nam. Tôm là mặt hàng chính
được xuất khẩu vào nước này. Hiện tại, Việt Nam đang đàm phán với phía
Nhật Bản. Sắp tới, nhiều khả năng, Nhật Bản sẽ áp dụng mức thuế 0% đối với
các sản phẩm tôm của Việt Nam.
Xuất khẩu sang Mỹ tình hình có khả quan hơn. 9 tháng đầu năm, thị
trường này suy giảm 3,2% về giá trị, tuy nhiên vẫn tăng 14,7% về khối lượng.
Điểm gây khó khăn với việc nhập khẩu vào thị trường này là biện pháp bảo
hộ sản xuất nội địa, với việc áp dụng mức thuế chống phá giá cao cho các sản
phẩm nhập khẩu chính của Việt Nam vào Mỹ như cá tra, cá basa, tôm. Đối
với mặt hàng cá tra, cá basa, do Mỹ xếp hai loại cá này vào loại cá da trơn, vì
1
4
SV: Tạ Thị Kim Oanh
Lớp: QTKD TH 50B
GVHD: ThS. Nguyễn Hồng Thắm
1
5
Hiện nay, hàng thủy sản Việt Nam ngày càng chiếm vị trí cao trên thị
trường quốc tế. Cả nước có khoảng 700 nhà máy chế biến thủy sản quy mô
công nghiệp. Mặt hàng thủy sản của Việt Nam cũng đã và đang có mặt ở
nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Mặc dù chịu nhiều ảnh hưởng
của suy thoái kinh tế toàn cầu, song nhiều mặt hàng thủy sản vẫn tìm được
chỗ đứng riêng cho mình và duy trì tốc độ tăng trưởng. Điển hình như trong
các năm 2009, 2010, Việt Nam là một trong năm quốc gia xuất khẩu tôm
đông lạnh lớn nhất vào thị trường Nhật Bản. Trong năm 2010, tổng giá trị
xuất khẩu thủy sản của Việt Nam có thể đạt hơn 4,5 tỷ USD, lượng xuất khẩu
tôm đông lạnh và hàng khô tăng mạnh, đạt 6,4% và 15,4%. Trong khi, cá tra,
basa, mặt hàng xuất khẩu chủ lực trong nhóm sản phẩm xuất khẩu chính của
Việt Nam lại giảm 8,6% song đây là sự nỗ lực không ngừng của ngành thủy
sản trong bối cảnh kinh tế toàn cầu đang gặp khó khăn. Hiện ngành thủy sản
đang kỳ vọng lớn vào bước đột phá của khoảng thời gian cuối năm để tăng
tốc cho xuất khẩu lĩnh vực này.
Thủy sản Việt Nam luôn là mặt hàng xuất khẩu chủ lực của ngành nông
triệu ha với sản lượng ước đạt 2,8 triệu tấn.Trong đó sản lượng cá tra chiếm tỷ
lệ cao nhất 1,2 triệu tấn, còn lại là tôm nước lợ 380.000 tấn, nhuyễn thể
180.000 tấn, cá nước ngọt truyền thống 990.000 ha...
+ Về nuôi cá mú, cá chẽm : diện tích nuôi khoảng 500 ha, đạt sản lượng
khoảng 1200 tấn, đây là đối tượng nuôi mới có hiệu quả cao.
+ Về trồng rong sụn, do thời tiết nắng nóng nên sản lượng chỉ đạt khoảng
3212 tấn, đạt 32 % kế hoạch năm và 29 % so với cùng kỳ.
+ Về nuôi tôm hùm : hiện tượng tôm hùm bị bệnh và chết diễn ra tại hầu
hết các địa phương tỉnh Khánh Hòa ( Bình Ba, Vạn Ninh, Nha Trang )
Sản lượng tôm thương phẩm đạt 473 tấn, đạt 38 % kế hoạch năm và 83 %
so cùng kỳ.
Giá tôm hùm cao vào sau tết ( 780-800. 000 đ/kg), sau đó giảm dần ( tháng
2 khoảng 700.000 đ/kg, tháng 3-4 giá khoảng 600-650.000 đ/kg, tháng 5-6-7
giá ổn định khoảng 690-720.000 đ/kg, tháng8 giá giảm hẳn 530-560.000
đ/kg, tháng 9 giá khoảng 500-520 .000 đ/kg )
Bộ Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn đang chỉ đạo các cơ quan liên
quan phải tập trung khẩn trương giải quyết bệnh tôm hùm giúp ngư dân khắc
phục, ổn định sản xuất.
1
6
SV: Tạ Thị Kim Oanh
Lớp: QTKD TH 50B
GVHD: ThS. Nguyễn Hồng Thắm
1
1
7
SV: Tạ Thị Kim Oanh
Lớp: QTKD TH 50B
GVHD: ThS. Nguyễn Hồng Thắm
1
8
nước
Chế biến thủy sản là quá trình chuyển hóa, bảo quản các nguyên liệu tươi
thủy sản thành các lại thực phẩm hải sản có dạng sống hoặc chín. Quá trình
chuyển hóa này có thể được thực hiện thông qua hệ thống chế biến thủ công
hoặc cơ giới hóa. Quy trình công nghệ chế biến sẽ trực tiếp ảnh hưởng đến
đặc điểm chi phí của các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực này. Tại các doanh
nghiệp chế biến thủy sản đông lạnh quy trình chế biến có thể được mô tả khái
quát như sau:
Tiếp nhận, rửa, phân loại, xử lý, sơ chế, kiểm tra, bao gói và cấp đông.
Nguyên liệu tươi sau khi được đưa vào kiểm tả và tiếp nhận, được rửa
sạch, phân loại, xử lý và đưa vào sơ chế (tùy theo loại thủy sản, nếu là tôm sẽ
được bóc vỏ, bỏ đầu, còn cá sẽ cắt đầu và lấy nội tạng, tách và lột da cả hai
miếng phi lê có thể bằng thủ công hoặc máy). Thủy sản sau khi sơ chế sẽ
được rửa sạch và đưa vào cấp đông, thành phẩm thủy sản được chạy đông
dưới dạng Block hoặc những miếng phi lê rời (hàng IQE)
Quy trình công nghệ trên cho thấy đặc điểm cơ bản của các doanh nghiệp
chế biến thủy sản là sử dụng các nguyên liệu tươi được đánh bắt từ tự nhiên
công nhân lại phải nghỉ việc. Với điều kiện môi trường làm việc độc hại,
công việc không ổn định như vậy chi phí lao động của các doanh nghiệp
ngoài tiền lương trả cho người lao động theo sản phẩm hoặc theo ngày công,
còn phát sinh các chi phí tăng ca, bồi dưỡng độc hại và các khoản trích trước
tiền lương để chi cho người lao động vào cáckhoảng thời gian ngừng việc
trong năm. Đối với các doanh nghiệp chế biến thủy sản hiện nay nếu không
có chế độ đãi ngộ thỏa đáng sẽ không hấp dẫn được người lao động gắn bó
với công việc họ đang làm, điều này gây nên tình trạng thiếu lao động trong
ngành chế biến thủy sản, một thực trạng hiện nay của các doanh nghiệp chê
sbiến thủy sản là rất khó khăn trong việc tuyển dụng lao động, như vậy dẫn
đến tình trạng cạnh tranh không chỉ về vấn đề thị trường tiêu thụ, thị trường
nguyên liệu mà cả thị trường lao động.
Chế biến thủy sản công nghiệp thường gia tăng các biến phí như chi phí
nguyên liệu, lao động và bao bì. Ba thành tố này thường chiếm khoảng trên
80% tổng chi phí sản xuất . Xét về mặt kết cấu chi phí điều này còn tùy thuộc
vào giá nguyên liệu từng khu vực, mức lương trả cho người lao động và trình
độ công nghệ sản xuất đối với từng doanh nghiệp. Giá nguyên liệu thủy sản
trong năm thường không ổn định do tính mùa vụ của sản phẩm, khả năng
đánh bắt và điều kiện thời tiết khí hậu. Có những thời điểm được mùa nguyên
1
9
SV: Tạ Thị Kim Oanh
Lớp: QTKD TH 50B
GVHD: ThS. Nguyễn Hồng Thắm
2
0
SV: Tạ Thị Kim Oanh
Lớp: QTKD TH 50B
GVHD: ThS. Nguyễn Hồng Thắm
2
1
Trong khu vực chế biến đông lạnh, lao động nữ chiếm tới 83% và luôn sử
dụng các hóa chất sát trùng, độ lạnh chênh lệch giữa môi trường sản xuất với
nhiệt độ cơ thể rất lớn. Một số lao động do sức đề kháng kém đã bị ngất khi
làm việc. Theo kết quả khảo sát mới đây của Trung tâm Nghiên cứu môi
trường về điều kiện lao động tại 9 doanh nghiệp chế biến thủy sản đông lạnh
xuất khẩu, được biết độ ẩm vượt tiêu chuẩn vệ sinh cho phép tại khu sản xuất
là 79,86%. Độ ẩm không khí cao không những ảnh hưởng trực tiếp đến sức
khỏe, mà về lâu dài còn là nguyên nhân gây ra các bệnh: tai - mũi - họng, hô
hấp, da liễu... cho người lao động. Bên cạnh đó, việc làm của người lao động
không ổn định, lúc không có việc, lúc lại tăng ca đến nửa đêm. Để sử dụng tối
đa công suất máy móc, thiết bị có thời điểm doanh nghiệp phải bố trí công
nhân làm việc cả 3 ca. Thời gian lao động kéo dài, chế độ dinh dưỡng không
đủ đã làm cho người lao động bị thay đổi nhịp sinh học, dẫn đến sức khỏe suy
giảm.
4.1. Môi trường lao động
Trong quá trình phát triển triển kinh tế xã hội, nhiều khu công nghiệp,
nước thải vệ sinh công nghiệp và nước thải sinh hoạt.
- Nước thải sản xuất là loại nước dùng để rửa thủy sản trong sản xuất.
- Nước thải vệ sinh công nghiệp là loại nước dùng để vệ sinh tay chân
công nhân trước khi vào ca sản xuất, nước dùng để rửa dụng cụ chế biến, thiết
bị, máy móc và sàn nhà phân xưởng mỗi ngày...
- Nước thải sinh hoạt từ hoạt động sinh hoạt của cán bộ, công nhân viên
trong các xí nghiệp. Đây cũng là lượng nước thải rất đáng kể vì trong xí
nghiệp chế biến thủy sản thường có số lượng công nhân khá đông, do đó nhu
cầu nước cho các hoạt động sinh hoạt khá lớn.
. Ô nhiễm nước thải chế biến thủy sản nhiều khi chưa phát hiện ngay do
lúc đầu các kênh rạch còn khả năng pha loãng và tự làm sạch nhưng với
lượng thải được tích tụ ngày càng nhiều thì dần dần nó làm xấu đi chất lượng
nguồn nước mặt ở sông rạch, ao hồ và khu dân cư. Ngoài ra nước thải của
ngành chế biến còn khả năng lan truyền dịch bệnh từ các xác thủy sản bị chết,
thối rữa…Chính vì vậy ảnh hưởng do nguồn nước thải từ các xí nghiệp ngành
chế biến thủy sản gây ra là rất lớn nếu không được xử lý sẽ góp phần làm gia
tăng mức độ ô nhiễm môi trường trên sông rạch, ở các khu vực nhà máy sản
xuất.
- Theo nghiên cứu môi trường làm việc tại các Công ty chế biến thủy sản
Việt Nam thì hàm lượng chất chloramine B đều rất cao. Đây là chất oxy hóa
mạnh có khả năng khử trùng tốt, giá rẻ nên thường được sử dụng khử trùng
trong các nhà xưởng và dụng cụ chế biến thủy sản. Chất chloramine B có thể
2
2
SV: Tạ Thị Kim Oanh
Lớp: QTKD TH 50B
âm ỉ như bị kim đâm”. Đối với nhiều công nhân làm lâu năm, bệnh viêm mũi
như là thứ bệnh kinh niên không thể trị dứt.
2
3
SV: Tạ Thị Kim Oanh
Lớp: QTKD TH 50B
GVHD: ThS. Nguyễn Hồng Thắm
2
4
Nhiều công nhân trong ngành còn bị dị ứng khi ngửi mùi khử trùng, nhiều
công nhân bị chóng mặt, choáng váng và xỉu vì mùi khử trùng.
Công nhân ngành chế biến thủy sản luôn phải làm việc trong môi trường
làm việc khó khăn, còn nhiều bất cập, ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe công
nhân.
- Cường độ làm việc của công nhân ngành chế biến thủy sản là cao, ở
nhiều doanh nghiệp chế biến thủy sản, công nhân phải làm việc từ 6h sáng
đến 6h chiều mới tan ca và có khi làm đến tận 10h đêm. Bên cạnh đó, vẫn có
các xí nghiệp chế biến thủy sản có lực lượng lao động thời vụ, trả công theo
sản phẩm, ngoài ra chẳng có chế độ đãi ngộ nào khác.
- Đời sống của công nhân lao động trong ngành chế biến không được đảm
bảo, họ không có điều kiện chăm lo cho sức khỏe và các nhu cầu khác. công
nhân chế biến thủy sản biến con tôm, con cá thành sản phẩm có giá trị cao
đem lại giàu có cho xí nghiệp và đất nước nhưng tương lai của họ thì chưa
5
SV: Tạ Thị Kim Oanh
Lớp: QTKD TH 50B