LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tôi xin chân thành cảm ơn thầy giáo TS. Vũ Văn Hùng, người đã
trực tiếp hướng dẫn, dìu dắt và giúp đỡ tôi những chỉ dẫn khoa học quý báu trong
suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn thạc sĩ này.
Qua đây, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy, cô giáo Khoa
Kinh tế chính trị, Phòng sau đại học – Trường ĐH Kinh tế- ĐHQGHN cùng toàn
thể các thầy cô giáo đã trực tiếp giảng dạy và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học
tập và nghiên cứu.
Tôi xin chân thành cảm ơn lãnh đạo, cán bộ phòng Thống kê, các cơ quan
thuộc UBND huyện Ý Yên, UNBD các xã: Yên Ninh, Yên Xá, Thị Trấn Lâm, Yên
Trị… và Ban giám hiệu trường THPT Đại An đã tạo điều kiện thuận lợi nhất giúp
tôi hoàn thành luận văn này.
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình và những người bạn thân
yêu đã luôn quan tâm, động viên, khích lệ và nhiệt tình tạo điều kiện tốt cho tôi
hoàn thành luận văn này.
Hà Nội, ngày 20 tháng 10 năm 2015
Tác giả luận văn
Ninh Thị Hồng
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu được
sử dụng trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng. Những kết quả
trình bày trong luận văn chưa từng được công bố trong một công trình nào khác.
Tác giả luận văn
Ninh Thị Hồng
MỤC LỤC
CCN
CNH, HĐH
CN-TTCN
CSXH
Cty TNHH MTV
Cty CP
KHCN
KT-XH
LNTT
LN
LLVTND
LTTP
NNNT
NHNN và PTNT
NTM
NVH
TDTT
TCMN
TTCN
TNHH
ONMT
PTBV
VLXD
UBND
Nguyên Nghĩa
Cụm công nghiệp
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Công nghiệp- Tiều thủ công nghiệp
Chính sách xã hội
2
3.2
Nội dung
Diện tích đất nông nghiệp của huyện qua các năm
Dân số 5 xã đông nhất và 5 xã thưa nhất năm 2012
Trang
59
60
Lao động và cơ cấu lao động phân theo ngành kinh tế
3
3.3
huyện Ý Yên
62
4
5
6
3.4
3.5
3.6
thay đổi bộ mặt nông thôn của nhiều vùng. Trong những làng nghề đó không thể
không kể đến các làng nghề của huyện Ý Yên, những làng nghề đem lại hiệu quả
kinh tế cao.
Giống như các làng nghề trong cả nước, làng nghề ở huyện Ý Yên, tỉnh Nam
Định cũng trải qua nhiều thăng trầm, nhất là trong thời kỳ hội nhập với thế giới. Có
nhiều làng nghề tồn tại và phát triển đã góp phần to lớn trong việc thúc đẩy chuyển
dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, phát huy được các nguồn lực tại địa
phương, theo đó, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm và nâng cao đời sống
của người dân, thu hẹp khoảng cách chênh lệch về phát triển giữa thành thị và nông
thôn, đẩy nhanh sự nghiệp xây dựng nông thôn mới. Nhưng cũng có những làng
1
nghề gặp nhiều khó khăn, phát triển cầm chừng, thậm chí có làng nghề đã và đang
bị mai một, dần suy giảm và nguy cơ biến mất. Vì vậy, khôi phục làng nghề truyền
thống và phát triển các làng nghề truyền thống thật sự là bài toán không dễ giải
quyết. Bên cạnh đó, phát triển làng nghề truyền thống hiện nay cần phải đặt trong
bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, sự cạnh tranh của các mặt hàng được sản xuất
trên công nghệ hiện đạo, duy trì số lượng làng nghề kèm với nâng cao chất lượng
hiệu quả sản xuất kinh doanh, kết hợp truyền thống và hiện đại trong sản xuất kinh
doanh, sản xuất kinh doanh gắn với bảo vệ môi trường… Hay nói cách khác, cần
phát triển làng nghề truyền thống theo hướng bền vững.
Để các làng nghề truyền thống phát triển theo hướng bền vững, trước tiên cần
có sự quản lý, quy hoạch từng làng nghề ở từng địa phương. Hiện tại tỉnh Nam
Định nói chung cũng như huyện Ý Yên nói riêng đang thực hiện kế hoạch ngắn hạn
và dài hạn nghiên cứu sự phát triển và đặc điểm của các làng nghề truyền thống.
Việc nghiên cứu và tìm hiểu sâu về thực trạng sản xuất của các làng nghề
truyền thống trên địa bàn huyện Ý Yên trong giai đoạn hiện nay, những đóng góp
của làng nghề truyền thống đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của huyện Ý Yên
- Định hướng và giải pháp phát triển làng nghề truyền thống theo hướng bền
vững trên địa bàn huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu quá trình phát triển của làng nghề truyền thống trên địa
bàn huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung
Đề tài tập trung đánh giá thực trạng và kết quả đạt được trong quá trình phát
triển làng nghề truyền thống trên địa bàn huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định, từ đó tìm
ra những luận cứ khoa học, đề xuất giải pháp phát triển các làng nghề theo hướng
bền vững.
- Phạm vi về không gian:
Nghiên cứu đánh giá quá trình phát triển các làng nghề truyền thống theo
hướng bền vững trên địa bàn huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định.
3
- Phạm vi về thời gian:
Nghiên cứu, đánh giá thực trạng phát triển làng nghề truyền thống theo hướng
bền vững trên địa bàn huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định giai đoạn 2011-2014; định
hướng và đề xuất giải pháp cho giai đoạn 2015-2020.
4. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và các phụ lục, luận văn được kết cấu thành 4 chương:
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu đề tài; Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát
triển làng nghề truyền thống theo hướng bền vững
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Chương 3: Thực trạng phát triển làng nghề truyền thống theo hướng bền vững
trên địa bàn huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định giai đoạn 2010-2015
làng nghề đang đứng trước những thách thức đặt ra trong tiến trình hội nhập kinh tế
quốc tế như: Đầu ra cho các sản phẩm, đào tạo nghề cho người lao động, ô nhiễm
môi trường làng nghề… Từ đó, tác giả đề xuất các giải pháp phát triển các làng
nghề theo hướng bền vững, các giải pháp đưa ra xoay quanh các vấn đề khắc phục
5
về môi trường, lấy tiêu chí môi trường là trọng tâm đánh giá mức độ phát triển theo
hướng bền vững của làng nghề như: quy hoạch làng nghề gắn với bảo vệ môi
trường, tăng cường công tác quản lý môi trường tại các làng nghề... Tuy nhiên, phát
triển làng nghề bền vững có nhiều yếu tố, cần thiết phải phối hợp đồng bộ nhiều
giải pháp để thực hiện.
+ Xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá phát triển bền vững tại một số làng
nghề truyền thống đồng bằng Bắc Bộ, của PGS.TS Nguyễn Trường Sơn, Tạp chí
Kinh tế và Phát triển Số 176, tháng 02 năm 2012.
Bài viết xây dựng hệ thống tiêu chí đầy đủ hơn để đánh giá phát triển theo
hướng bền vững tại các làng nghề. Hệ thống tiêu chí được đề xuất với các chỉ tiêu
cụ thể để đánh giá cả 3 khía cạnh của sự phát triển bền vững: kinh tế, xã hội và môi
trường. Tuy nhiên, tác giả mới chỉ dừng lại ở khía cạnh đưa ra các tiêu chí đánh giá,
chưa đưa ra được định hướng, giải pháp để thực hiện các tiêu chí đó.
+ Giải pháp phát triển bền vững làng nghề truyền thống ở Việt Nam phục vụ
du lịch, của Trịnh Xuân Hậu, Trịnh Vân Anh, Tạp chí Khoa học Đại học Sư phạm
TP.Hồ Chí Minh số 35, tháng 4 năm 2012.
Bài viết này mới chỉ tập trung nghiên cứu nội dung phát triển làng nghề truyền
thống phục vụ du lịch, một trong những hoạt động đã được khai thác trong nhiều
năm qua dựa trên tiềm năng truyền thống của các địa phương (chủ yếu là vùng nông
thôn) nước ta, từ đó đề ra các giải pháp phát triển bền vững làng nghề truyền thống
ở Việt Nam phục vụ du lịch.
+ Chính sách phát triển bền vững làng nghề truyền thống trên địa bàn huyện
nguyên nhân ảnh hưởng đến phát triển làng nghề. Từ đó đề xuất các giải pháp phát
triển làng nghề trên địa bàn huyện Nghi Lộc trong những năm tới.
1.1.2. Những khoảng trống cần tiếp tục nghiên cứu
Cho đến nay, đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về vấn đề phát triển
LNTT trên nhiều góc độ khác nhau. Song các công trình chưa đề cập tới các vấn đề:
- Chưa đi sâu vào nghiên cứu một cách toàn diện vấn đề phát triển LNTT trên
3 nội dung: kinh tế, xã hội và môi trường. Hay nói cách khác là phát triển LNTT
theo hướng bền vững.
- Chưa đi sâu vào phân tích thực trạng phát triển các LNTT theo hướng bền
vững, và những thách thức của LNTT trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế. Các
7
công trình chưa đưa ra quan điểm có tính hệ thống để LNTT phát triển theo hướng
bền vững.
- Các công trình nghiên cứu về LNTT đã không xây dựng được định hướng
chiến lược cạnh tranh cho các LNTT để phát triển theo hướng bền vững. Chưa có
công trình nào đưa ra được hệ thống các giải pháp có tính tổng thể nhằm phát triển
các LNTT theo hướng bền vững trong bối cảnh cạnh tranh và hội nhập quốc tế.
- Đặc biệt đề tài lựa chọn huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định làm địa điểm nghiên
cứu với những đặc thù và điều kiện riêng thì chưa có công trình nào đề cập tới.
1.2. Cơ sở lý luận về phát triển làng nghề truyền thống theo hướng bền vững
1.2.1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của làng nghề truyền thống
1.2.1.1. Khái niệm làng nghề truyền thống
- Làng nghề
Nét điển hình trong đời sống kinh tế - văn hóa - xã hội của cộng đồng người
Việt từ bao đời nay gắn liền với nền văn minh lúa nước và cấu trúc làng xã điển
hình. Trải qua quá trình phát triển, làng xã đã thể hiện được vai trò quan trọng của
nó trong sản xuất và đời sống. Bằng sức lao động và trí tuệ của mình, người nông
- Phân loại làng nghề
+ Phân loại làng nghề theo thời gian hình thành và phát triển
Làng nghề truyền thống: là làng nghề có truyền thống được hình thành từ lâu
đời và còn tồn tại đến ngày nay. Đó là những thôn làng làm nghề thủ công có truyền
thống lâu năm, thường nhiều thế hệ, ít nhất cũng là hàng chục năm. Nhiều làng
nghề thậm chí đã nổi tiếng từ nhiều thế kỷ trước, tạo ra được những sản phẩm có
tính độc đáo, có độ tinh xảo cao, đã được tiêu thụ tại nhiều nơi khác nhau trên thế
giới. Dù nghề thủ công được du nhập vào làng bằng con đường nào thì sự phát triển
cũng diễn ra dưới hình thức có tồn tại một số hạt nhân (nghệ nhân, gia đình, dòng
họ…) làm nòng cốt, từ đó mở rộng ra phạm vi cả làng.
Làng nghề mới: là làng nghề được hình thành trong những năm gần đây, chủ
yếu trong thời kỳ đổi mới, thời kỳ chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường. Là những
làng nghề hình thành do sự lan tỏa của các làng nghề truyền thống hoặc được du
nhập từ các địa phương khác.
+ Phân loại làng nghề theo ngành sản xuất và loại hình sản phẩm
Theo đó làng nghề được chia thành 6 ngành chính: làng nghề thủ công, làng
nghề thủ công mỹ nghệ, làng nghề công nghiệp tiêu dung, làng nghề chế biến lương
9
thực, thực phẩm, làng nghề sản xuất vật liệu xây dựng, làng nghề buôn bán và dịch
vụ. Mỗi ngành chính gồm nhiều ngành nhỏ với những yêu cầu khác nhau về nguyên,
nhiên liệu, quy trình, công nghệ sản xuất và cả thị trường tiêu thụ sản phẩm.
-
Làng nghề truyền thống
Làng nghề truyền thống là làng nghề có nghề truyền thống được hình thành từ
lâu đời.
thức tuân thủ những ước chế xã hội và gia tộc.
Quan niệm về LNTT có nhiều cách hiểu khác nhau do tiếp cận nghiên cứu
khác nhau. Tuy nhiên có thể đánh giá LNTT dựa vào các tiêu chí sau:
+ Nghề đã xuất hiện tại địa phương từ trên 50 năm tính đến thời điểm đề nghị
công nhận;
+ Nghề tạo ra những sản phẩm mang bản sắc văn hoá dân tộc;
+ Nghề gắn với tên tuổi của một hay nhiều nghệ nhân hoặc tên tuổi của làng nghề.
Nghề truyền thống là những nghề tiểu thủ công nghiệp được hình thành, tồn
tại và pháy triển lâu đời trong lịch sử, được sản xuất tập trung tại một vùng hay một
làng nào đó và được lưu truyền từ đời này qua đời khác (truyền nghề), lưu giữ kỹ
thuật sản xuất (bí quyết nghề nghiệp), đúc kết kinh nghiệm.
Nghề truyền thống được lưu giữ trong một gia đình, một dòng họ, một làng
hay một vùng.
Nghề thủ công truyền thống không chỉ bó hẹp trong phạm vi làng nghề mà còn
mở rộng hơn nữa như xã nghề, phố nghề, phường nghề, hội nghề.
Phố nghề là kết quả của quá trình đô thị hóa và mở rộng thị trường mới và
những người thợ thủ công từ các làng nghề tụ họp lại trên cùng một địa điểm để sản
xuất hoặc kinh doanh.
Xã nghề để chỉ sự lan tỏa của nghề vượt khỏi phạm vu từ làng này sang làng khác.
Còn phường nghề, hội nghề là những thợ thủ công cùng nghề nhóm họp lại
thành một tổ chức có luật lệ riêng.
Ngoài ra còn phải nói đến tổ nghề là những người có đức, có công dạy hay
phát minh ra nghề. Tổ nghề thì không nhất thiết phải là người ở địa phương đó. Một
số làng nghề được suy tôn là thành hoàng làng hoặc được lập miếu thờ. Một nghề
có thể có thờ nhiều tổ nghề khác nhau ở vác vùng, một địa phương.
11
Như vậy, nghề truyền thống là những nghề phi nông nghiệp tồn tại trong một
12
Các sản phẩm làng nghề truyền thống nhằm phục vụ đời sống sinh hoạt và sản
xuất. Nó vừa có giá trị sử dụng, vừa có giá trị thẩm mỹ cao, vì nhiều loại sản phẩm
vừa phục vụ nhu cầu tiêu dùng, vừa là vật trang trí trong nhà, đền chùa, công sở
Nhà nước. Các sản phẩm thủ công mỹ nghệ Việt Nam có những nét riêng độc đáo
riêng, phản ánh phong tục, tập quán, văn hóa của từng vùng miền, địa phương, luôn
gắn liền với với tên địa danh làm gia nó như lụa Hà Đông, đồ gỗ Đồng Kỵ, gạch
Bát Tràng, chiếu Nga Sơn…
Mỗi sản phẩm của làng nghề là sự kết tinh của những bàn tay, khối óc của các
nghệ nhân. Từ những mảnh gỗ, gốc cây, vỏ sò, con ốc, con trai… cũng có thể tạo
nên những bức tranh tuyệt đẹp, có giá trị nghệ thuật cao, tất cả đều mang vóc dáng
dân tộc, quê hương, chứa đựng ảnh hưởng về văn hoá tinh thần, quan niệm về nhân
văn và tín ngưỡng, tôn giáo của dân tộc.
* Lao động chủ yếu là lao động thủ công
Đặc điểm nổi bật của các làng nghề truyền thống là sử dụng lao động thủ công
là chính, nhờ vào kỹ thuật khéo léo và tinh xảo của đôi bàn tay và đầu óc thểm mỹ,
sáng tạo của người thợ và các nghệ nhân. Họ tự quản lý, phân công lao động, thời
gian cho phù hợp với cả việc sản xuất nông nghiệp những lúc mùa vụ và với nghề thủ
công lúc nông nhàn. Trước kia do trình độ khoa học và công nghệ chưa được phát
triển thì hầu hết các công đoạn đều là các quy trình thủ công, giản đơn. Ngày nay,
cùng với sự phát triển của khoa học-công nghệ, việc ứng dụng khoa học, công nghệ
vào một số công đoạn sản xuất đã giảm bớt được lượng lao động thủ công, đơn giản.
Tuy nhiên, một số công đoạn trong quy trình sản xuất vẫn phải duy trì kỹ thuật thủ
công tính xảo. Việc dạy nghề trước đây chủ yếu theo phương thức truyền nghề trong
các gia đình từ đời này sang đời khác và chỉ khuôn lại trong từng làng. Sau hòa bình
lặp lại, nhiều cơ sở quốc doanh và hợp tác xã làm nghề thủ công truyền thống ra đời,
làm cho phương thức truyền nghề và dạy nghề đã có nhiều thay đổi, mang tính đa
dạng và phong phú hơn.
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng CNH, HĐH
Là một bộ phận của nền kinh tế, thu nhập của các làng nghề đóng góp vào
GDP của cả nước nói chung cũng như của tỉnh nói riêng.Tuy quy mô nhỏ bé nhưng
với số lượng lớn được phân bố khắp các vùng nông thôn nên mỗi năm các làng
14
nghề đã tạo ra một khối lượng hàng hóa lớn, đóng góp vào GDP của các tỉnh cũng
như của cả nước.
Hoạt động của các làng nghề đã tạo ra một khối lượng hàng hoá đa dạng và
phong phú, phục vụ cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, đóng góp cho nền kinh
tế quốc dân nói chung và cho địa phương nói riêng, là nhân tố quan trọng thúc đẩy
phát triển hàng hoá ở nông thôn.
Bên cạnh đó, việc phát triển các làng nghề còn góp phần không nhỏ vào
chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa,
việc đó thể hiện ở việc thay đổi về chất trong kinh tế khu vực nông thôn: tăng tỷ
trọng tiểu thủ công nghiệp, giảm tỷ trọng nông nghiệp, chuyển dịch cơ cấu lao
động. Trong quá trình vận động và phát triển các làng nghề đã có vai trò tích cực
trong việc tăng trưởng tỷ trọng của công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và du lịch
dịch vụ, thu hẹp tỷ trọng của nông nghiệp. Sự phát triển lan toả của làng nghề đã
mở rộng quy mô và địa bàn sản xuất, thu hút nhiều lao động đồng thời nó còn đóng
vai trò tích cực trong việc thay đổi tập quán sản xuất từ sản xuất nhỏ, độc canh,
mang tính tự túc, tự cấp sang sản xuất hàng hoá với sự hỗ trợ đắc lực của máy móc,
công nghệ, thiết bị mới. Tư duy kinh doanh theo hướng kinh tế hàng hóa, gắn sản
xuất với nhu cầu của thị trường sẽ là điều kiện thuận lợi cho sự hình thành và phát
triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong những làng nghề.
Sự phát triển của các làng nghề trong những năm qua đã thực sự góp phần thúc
đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng tăng cơ cấu ngành
công nghiệp dịch vụ, giảm cơ cấu ngành nông lâm ngư nghiệp, góp phần bố trí lực
Thu nhập từ nghề thủ công chiếm tỷ lệ lớn trong tổng thu nhập, đã đem lại cho
người dân các làng nghề cuộc sống đầy đủ hơn về cả vật chất và tinh thần. Tại các
làng nghề phát triển, số hộ có nhà cao tầng, có các loại đồ dùng tiện nghi đắt tiền
chiếm tỷ lệ khá. Đối với họ, ngành nghề đã trở thành biểu tượng của sự thịnh vượng
và phát triển trong tương lai.
Phát triển làng nghề còn tạo ra nguồn tích lũy khá lớn và ổn định cho ngân
sách địa phương cũng như các hộ gia đình. Vì vậy, có điều kiện huy động sự
đóng góp của người dân vào việc xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn. Đời sống
16
vật chất, tinh thần của người dân được cải thiện và từng bước nâng cao nên sức
mua của người dân có xu hướng tăng, tạo điều kiện phát triển thị trường sản
phẩm tiêu dùng, dịch vụ. Nhiều làng nghề có diện mạo của những làng được đô
thị hóa.
* Góp phần thu hút vốn nhàn rỗi ở nông thôn, tận dụng thời gian nông nhàn,
hạn chế di dân tự do
Các cơ sở kinh tế trong các làng nghề chủ yếu là hộ gia đình, mức đầu tư cho
một lao động và quy mô vốn cho một sở sản xuất, kinh doanh trong các làng nghề
không nhiều. Vì vậy, rất phù hợp với khả năng huy động vốn và các nguồn vật chất
của các hộ gia đình. Vốn đầu tư không lớn, trong điều kiện sản xuất thủ công thì đó
là một lợi thế để các làng nghề có thể huy động các loại vốn nhàn rỗi nhỏ trong dân
vào hoạt động sản xuất, kinh doanh. Mặc dù ở các làng nghề hiện nay, sản xuất
được tiến hành ở kinh tế hộ gia đình là chủ yếu, nhưng do tính phổ biến trong làng
nghề nên các cơ sở sản xuất vẫn thu hút nhiều lao động thời vụ, nông nhàn và cả lao
động trên hay dưới độ tuổi lao động vào quá trình sản xuất. Trẻ em có thể vừa học
vừa tham gia sản xuất dưới hình thức học nghề hay giúp việc. Lực lượng này chiếm
một tỷ lệ đáng kể trong tổng số lao động làm nghề. Việc phát triển làng nghề là một
giải pháp quan trọng nhằm khai thác các nguồn lực ở nông thôn, tạo điều kiện cho
làng nghề cũng chính là khung cảnh làng quê với cây đa, bến nước, sân đình, đền
chùa…các hoạt động lễ hội, phường hội, phong tục tập quán, đặc biệt tục thờ tổ
nghề. Hoạt động sản xuất và lễ hội đặc trưng ở các làng nghề cũng chính là một tài
nguyên du lịch nhân văn mà ở nhiều nơi đã khai thác nhằm phát triển loại hình du
lịch làng nghề bao gồm cả văn hóa vật thể (hàng lưu niệm) và văn hóa phi vật thể
(kỹ năng làm nghề, cảm nhận văn hóa nghệ thuật…). Khách du lịch đã có những
đánh giá tốt đối với các sản phẩm thủ công Việt Nam.
1.2.2. Phát triển làng nghề truyền thống theo hướng bền vững
1.2.2.1. Khái niệm phát triển làng nghề truyền thống theo hướng bền vững
Phát triển là quy luật chung của mọi thời đại. Phát triển kinh tế bao hàm tăng
trưởng kinh tế và công bằng xã hội, giải quyết hài hòa các vấn đề xã hội, môi
trường. Tăng trưởng và phát triển kinh tế là điều kiện cơ bản đầu tiên để giải quyết
công bằng xã hội, là mục tiêu phấn đấu của nhân loại, là động lực quan trọng của sự
phát triển. Tuy nhiên vì mục tiêu kinh tế mà con người phải đối mặt với những hậu
18
quả do chính bản thân mình gây ra như: sự nóng lên của Trái Đất, thiên tai dịch
bệnh, lũ lụt, hạn hán, gia tăng các bệnh ung thư, bệnh nhiệt đới…và vấn đề tăng
trưởng bền vững đã được đặt ra.
Trong báo cáo “ Tương lai của chúng ta” do ủy ban Brundtland đã công bố
năm 1987:
“Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng được nhu cầu của hiện tại mà không
làm tổn hại đến khả năng đáp ứng đầy đủ nhu cầu của thế hệ tương lai”
Định nghĩa đã nhấn mạnh được hai yếu tố quan trọng nhất của phát triển bền
vững. Đó là vấn nạn môi trường và mối tương quan của nó với sự phát triển kinh tế;
và nhu cầu của sự phát triển đó đối với mục tiêu xóa đói giảm nghèo.
Phát triển theo hướng bền vững được hiểu là: “Một sự phát triển thỏa mãn
những nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không xâm hại tới khả năng đáp ứng những
nâng cao đời sống của người dân, tránh được sự suy thoái trong tương lai, tránh gây
nợ nần cho thế hệ mai sau. Biểu hiện:
Thứ nhất, tăng năng suất lao động. Năng suất lao động được đo bằng số lượng
sản phẩm làm ra trên một đơn vị thời gian hoặc rút ngắn thời gian làm ra sản phẩm.
Muốn năng suất lao động tăng lên cần phải ứng dụng khoa học công nghệ tiên tiến
vào quá trình sản xuất, sử dụng công nghệ hiện đại thay thế công nghệ cũ để tiết
kiệm tiêu hao năng lượng, giảm bớt chi phí mức độ nặng nhọc cho người lao động,
giảm thiểu ô nhiễm môi trường, nâng cao hiệu quả sử dụng tư liệu sản xuất. Giảm
bớt sự phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên trong quá trình sản xuất, nhờ đó mà hạ giá
thành sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường. Bên cạnh
đó cũng cần phải không ngừng mở rộng, nâng cao tay nghề cho đội ngũ lao động,
thực hiện công tác dạy nghề, truyền nghề, các chủ thể sản xuất kinh doanh được
trang bị các kiến thức về tiếp thị, maketing, biết tổ chức quản lý quá trình sản xuất.
Thứ hai, một LNTT phát triển theo hướng bền vững về kinh tế phải thúc đẩy
chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động nông thôn phù hợp với hướng phát
triển bền vững.
Trong quá trình vận động và phát triển các LNTT có vai trò tích cực trong việc
tăng tỷ trọng của công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ và giảm dần tỷ trọng
của nông nghiệp. Chuyển lao động từ sản xuất nông nghiệp có thu nhập thấp sang
ngành nghề phi nông nghiệp có thu nhập cao hơn.
20