phát triển làng nghề truyền thống trong quá trình đô thị hóa ở huyện từ sơn, tỉnh bắc ninh - Pdf 10

Đề tài
“Phát triển làng nghề truyền
thống trong quá trình đô thị hóa ở
huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh”
1
MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cám ơn ii
Mục lục iii
Danh mục các chữ viết tắt và ký hiệu iv
Danh mục các biểu v
2
1. MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Đô thị hóa là một trong những biểu hiện của sự phát triển kinh tế, xã
hội của một địa phương, một vùng hoặc một quốc gia. Kể từ khi nước ta thực
hiện chính sách mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực, tốc độ đô thị
hóa ở các thành phố, thị trấn, thị tứ diễn ra rất nhanh. Ở các khu vực này, các
trung tâm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, trung tâm thương mại, dịch vụ,
văn hóa, y tế, tài chính đã và đang xuất hiện ngày càng nhiều dẫn đến việc
tập trung dân cư, hình thành các thị trấn, thị tứ và đô thị.
Đẩy mạnh phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn có tầm quan
trọng hàng đầu đối với sự phát triển kinh tế xã hội của nước ta. Đặc biệt trong
nền kinh tế thị trường, vấn đề phát triển kinh tế nông thôn là cần thiết và có
vai trò quan trọng nhằm đưa nông nghiệp thoát khỏi tình trạng thuần nông, tự
cấp, tự túc, phát triển thành nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa và chuyển đổi
cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng giảm tỷ trọng nông nghiệp, tăng dần tỷ
trọng công nghiệp và dịch vụ. Và một trong những nội dung trọng tâm phát
triển nông nghiệp, nông thôn hiện nay là khôi phục và phát triển các ngành
nghề thủ công nghiệp, các làng nghề truyền thống trong khu vực nông thôn,
góp phần thu hút lao động dôi dư, giải quyết việc làm, đồng thời nâng cao thu

Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng đô thị hóa và các yếu tố ảnh
hưởng đến phát triển làng nghề truyền thống, trên cơ sở đó đưa ra định hướng
và các giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh phát triển làng nghề truyền thống
trong quá trình đô thị hóa trên địa bàn Huyện.
4
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về phát triển làng nghề truyền thống và
quá trình đô thị hóa.
- Đánh giá thực trạng phát triển và các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển
làng nghề truyền thống trong quá trình đô thị hóa ở huyện Từ Sơn
- Đề xuất định hướng và các giải pháp phát triển làng nghề truyền
thống trong quá trình đô thị hóa trong những năm tới.
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu phát triển của các làng nghề truyền thống trong quá trình
đô thị hóa trên địa huyện Từ Sơn.
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Nghiên cứu thực trạng đô thị hóa và phát triển làng nghề
truyền thống về tổ chức, quản lý, sản xuất, tình hình sử dụng lao động, đất
đai, tác động môi trường của các làng nghề truyền thống trong quá trình đô
thị hóa ở huyện Từ Sơn. Trên cơ sở phân tích những thuận lợi và khó khăn
đang gặp phải từ các làng nghề truyền thống để đưa ra các định hướng và giải
pháp phát triển phù hợp trong quá trình đô thị hóa.
- Về không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu 3 làng nghề truyền thống
trên địa bàn huyện: Làng nghề mộc mỹ nghệ Đồng Kỵ, làng nghề dệt Hồi
Quan và làng nghề sắt thép Đa Hội.
- Về thời gian: Đề tài thu thập số liệu thứ cấp trong thời gian từ năm
1999-2006 và số liệu điều tra năm 2006.
5
2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

- Loại nghề mà hoạt động độc lập với quá trình sản xuất nông nghiệp,
sản phẩm của nó thể hiện một trình độ nhất định của sự tách biệt thủ công
nghiệp với nông nghiệp, của tài năng sáng tạo và khéo léo của người thợ, tiêu
biểu là các sản phẩm nghề dệt, gốm, kim hoàn
2.1.1.2 Làng nghề
Cho đến nay có nhiều ý kiến khác nhau về khái niệm làng nghề, theo
giáo sư Trần Quốc Vượng thì: Làng nghề (như làng gốm Bát Tràng, Thổ Hà,
Phù Lãng, Hương Canh làng giấy vùng Bưởi, Dương Ổ làng rèn sắt
Canh Diễn, Phù Dực, Đa Hội ) là làng tuy vẫn có trồng trọt theo lối tiểu
nông và chăn nuôi nhỏ song đã nổi trội một nghề cổ truyền, tinh xảo với một
tầng lớp thủ công chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp, có phường, có ông
trùm, ông phó cả cùng một số thợ và phó nhỏ, đã chuyên tâm, có quy trình
công nghệ nhất định sống chủ yếu bằng nghề đó và sản xuất ra những mặt
hàng thủ công, những mặt hàng đã có tính mỹ nghệ, trở thành sản phẩm hàng
hóa và có quan hệ tiếp thị với một thị trường là vùng xung quanh và tiến tới
mở rộng ra cả nước rồi có thể xuất khẩu ra nước ngoài. Những làng nghề ấy ít
nhiều đã nổi danh từ lâu “dân biết mặt, nước biết tên, tên làng đã đi vào lịch
sử, vào ca dao tục ngữ” trở thành văn hóa dân gian [4].
Theo tác giả Bùi Văn Vượng thì “Làng nghề truyền thống là làng cổ
truyền thủ công, ở đấy không nhất thiết tất cả dân làng đều sản xuất hàng thủ
công. Người thợ thủ công nhiều trường hợp cũng đồng thời là người làm nghề
nông nhưng yêu cầu chuyên môn hóa cao đã tạo ra những người thợ chuyên
sản xuất hàng truyền thống ngay tại làng quê của mình ” [33].
7
Làng nghề là những làng sống bằng hoặc chủ yếu bằng nghề thủ công ở
nông thôn Việt Nam [29].
Vậy khái niệm làng nghề có thể bao gồm những nội dung sau: “Làng
nghề là một thiết chế kinh tế-xã hội ở nông thôn được cấu thành bởi hai yếu
tố làng và nghề, tồn tại trong một không gian địa lý nhất định, trong đó bao
gồm nhiều hộ gia đình sinh sống bằng nghề thủ công là chính, giữa họ có mối

- Làng nghề truyền thống chuyên sản xuất các mặt hàng phục vụ cho
sản xuất và đời sống như: rèn, mộc, nề, đúc đồng, nhôm, gang sản xuất vật
liệu xây dựng
- Làng nghề truyền thống chuyên sản xuất các mặt hàng cho nhu cầu
thông thường như: dệt vải, dệt chiếu cói, làm nón, may mặc
- Làng nghề truyền thống chuyên chế biến lương thực, thực phẩm như:
xay xát, làm bún, chế biến hải sản
2.1.2 Đặc điểm làng nghề truyền thống
2.1.2.1 Đặc điểm kỹ thuật, công nghệ và sản phẩm
+ Đặc điểm kỹ thuật, công nghệ
- Đặc điểm, đặc trưng đầu tiên của nghề thủ công truyền thống là kỹ
thuật thủ công mang tính truyền thống và bí quyết dòng họ. Công cụ sản xuất
chủ yếu là thô sơ do chính người thợ thủ công chế tạo ra.
- Công nghệ truyền thống không thể thay hoàn toàn bằng công nghệ
hiện đại mà chỉ có thể thay ở một số khâu, công đoạn nhất định. Đây là một
trong những yếu tố tạo nên tính truyền thống của sản phẩm.
9
- Kỹ thuật công nghệ trong các làng nghề truyền thống hầu hết là thô
sơ, lạc hậu.
- Thông qua sự phát triển của khoa học, kỹ thuật, đã tạo ra sự kết hợp
giữa công nghệ truyền thống và công nghệ hiện đại trong quá trình sản xuất.
+ Đặc điểm về sản phẩm
- Sản phẩm làng nghề truyền thống rất đa dạng và phong phú, nó có thể
được sản xuất hàng loạt hoặc sản xuất đơn chiếc. Việc sản xuất hàng loạt sản
phẩm giống nhau chỉ dừng lại ở quy mô nhỏ hoặc vừa. Bên cạnh đó, sản
phẩm mang tính đơn chiếc thường là sản phẩm mỹ nghệ cao cấp, bởi những
nét hoa văn, những phần tinh của chúng luôn được cải biến thêm thắt nhằm
thu hút sự thưởng thức của những người sành chơi. Nhìn chung, trong sản
phẩm của làng nghề truyền thống vẫn tồn đọng những hao phí lao động sống,
đó là lao động thủ công của con người.

thủ công mỹ nghệ. Người nước ngoài rất ưa chuộng hàng thủ công mỹ nghệ
Việt Nam và trầm trồ về những nét đẹp hài hoà, chứa đựng nhiều điển tích,
hoa văn tinh tế và tính chất dân gian của sản phẩm làng nghề qua bàn tay
khéo léo của thợ thủ công. Sản phẩm gốm sứ, đồ mộc được tiêu thụ với khối
lượng ngày càng lớn ở Đài Loan, Úc, Nhật Bản Sản phẩm mỹ nghệ khảm
trai, ốc, mây tre đan được tiêu thụ rộng khắp ở châu Âu Khách du lịch nước
ngoài thường bỏ ra hàng giờ, nhiều lần để ngắm nhìn và lựa chọn những món
quà đặc sắc được làm từ hòn đất, cành tre, khúc gỗ, xương thú, sừng, thổ cẩm,
sợi đay, bẹ ngô, kim loại đơn sơ như cuộc sống đời thường của người Việt
Nam nhưng rất có hồn.
11
+ Đặc điểm về tổ chức sản xuất
Trong lịch sử phát triển làng nghề truyền thống, hình thức tổ chức sản
xuất phổ biến nhất là hộ gia đình. Ngày nay cùng với quá trình phát triển kinh
tế và công cuộc đổi mới của đất nước, đã xuất hiện nhiều hình thức tổ chức
sản xuất mới:
- Xét theo hình thức sở hữu có các loại: Công ty TNHH, doanh nghiệp
tư nhân, hợp tác xã, hộ sản xuất
- Xét theo phương hướng sản xuất có: Các cơ sở chuyên sản xuất hàng
TTCN, các cơ sở vừa làm hàng TTCN vừa làm dịch vụ tiêu thụ sản phẩm, các
cơ sở vừa sản xuất hàng TTCN vừa sản xuất sản phẩm nông nghiệp.
2.1.3 Những nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển làng nghề truyền thống
Quá trình phát triển làng nghề truyền thống chịu sự tác động của nhiều
nhân tố khác nhau. Ở mỗi vùng, mỗi địa phương, mỗi làng nghề do có những
đặc điểm khác nhau về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, văn hóa nên sự tác
động của các nhân tố không giống nhau. Tuy nhiên hiểu một cách tổng quát
chúng gồm có các nhân tố cơ bản sau:
Thứ nhất là thị trường sản phẩm của làng nghề: Thị trường có sự tác
động mạnh mẽ đến phương hướng phát triển, cách thức tổ chức, cơ cấu sản
phẩm và là động lực thúc đẩy làng nghề truyền thống phát triển. Sự tồn tại và

nghệ nhân, thợ thủ công giỏi, trình độ rất tinh xảo. Họ là những người tâm
huyết và gắn bó với nghề, đặc biệt quan trọng trong việc truyền nghề, dạy
nghề, đồng thời là người sáng tạo những sản phẩm độc đáo. Hiện nay vẫn còn
nhiều nghệ nhân tâm huyết với nghề, muốn giữ gìn văn hóa dân tộc và truyền
thống của ông cha. Việc truyền nghề đã không còn tuân theo các quy định
khắt khe như trong phường hội thời phong kiến, nhưng những bí quyết kỹ
13
thuật, mẫu mã sáng chế có giá trị kinh tế cao vẫn được bảo vệ để tránh bị cạnh
tranh. Vấn đề đào tạo nâng cao trình độ kỹ thuật còn nhiều hạn chế, chất
lượng nguồn lao động chưa cao, trình độ chuyên môn và văn hóa thấp, nhất là
đối với các chủ doanh nghiệp trong việc đáp ứng nhu cầu ngày cao của thị
trường trong nước cũng như quốc tế.
Thứ năm là trình độ kỹ thuật và công nghệ: Trong cơ chế thị trường sự
phát triển của làng nghề truyền thống đã thể hiện cuộc cạnh tranh gay gắt về
năng suất, chất lượng, giá cả. Sản phẩm sản xuất ra chịu sự cạnh tranh gay gắt
từ các sản phẩm cùng loại trong nước cũng như nhập khẩu. Đặc biệt trong giai
đoạn hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay, giao lưu thương mại mang tính
toàn cầu thì việc ứng dụng các thành tựu khoa học, công nghệ càng có tác
động to lớn đến khả năng cạnh tranh, tăng năng suất lao động và chất lượng
của sản phẩm.
Thứ sáu là nguồn nguyên liệu phục vụ sản xuất: Trong thời kỳ phương
tiện giao thông và phương tiện kỹ thuật chưa phát triển, thì gần các vùng
nguyên liệu được coi là một trong những điều kiện tạo nên sự hình thành và
phát triển các làng nghề truyền thống. Hiện nay, các nguyên liệu khai thác
phục vụ cho các làng nghề chủ yếu từ môi trường tự nhiên nên vùng nguyên
liệu ngày càng suy giảm (như gỗ ), gây khó khăn cho sản xuất vì nguyên
liệu đang bị cạn kiệt. Do vậy khối lượng, chất lượng, chủng loại, khoảng cách
của các nguồn nguyên liệu có ảnh hưởng tới chất lượng và giá thành sản
phẩm.
Vậy qua sự hệ thống các khái niệm, đặc điểm, các nhân tố ảnh hưởng

quốc gia trong quá trình tạo ra các thay đổi nói trên là những nội dung của sự
15
phát triển. Phát triển là việc nâng cao phúc lợi của nhân dân, nâng cao các tiêu
chuẩn sống, cải thiện giáo dục, sức khỏe và đảm bảo sự bình đẳng cũng như
quyền công dân. Phát triển còn được định nghĩa là sự tăng trưởng bền vững
về các tiêu chuẩn sống, bao gồm tiêu dùng, vật chất, giáo dục, sức khỏe và
bảo vệ môi trường [14].
2.1.4.2 Phát triển bền vững
Phát triển bền vững là một thuật ngữ được toàn thế giới sử dụng rộng
rãi, do tầm quan trọng mà khái niệm phát triển bền vững vẫn được tiếp tục
sửa đổi, mở rộng và sàng lọc.
Theo Ủy ban quốc tế về Môi trường và Phát triển của Liên Hợp Quốc
năm 1997 đã định nghĩa: Phát triển bền vững là một quá trình của sự thay đổi,
trong đó việc khai thác và sử dụng tài nguyên, hướng đầu tư, hướng phát triển
của công nghệ, kỹ thuật và sự thay đổi về tổ chức là thống nhất, làm tăng khả
năng đáp ứng về nhu cầu hiện tại và tương lai của con người.
Hội nghị thượng đỉnh về trái đất năm 1992 tại Rio de Janeiro đưa ra
định nghĩa vắn tắt về phát triển bền vững là: Phát triển nhằm thỏa mãn nhu
cầu của thế hệ ngày nay mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu
của các thế hệ trương lai.
Phát triển bền vững cũng có thể được gọi bằng cách khác là phát triển
“bình đẳng và cân đối”, có nghĩa là để duy trì sự phát triển cân bằng lợi ích
của các nhóm người trong cùng một thế hệ và giữa các thế hệ, thực hiện điều
này đồng thời trên cả ba lĩnh vực quan trọng có mối quan hệ qua lại với nhau,
đó là kinh tế, xã hội và môi trường [25].
2.1.4.3 Phát triển làng nghề truyền thống
16
Trên cơ sở lý luận về tăng trưởng và phát triển, chúng tôi cho rằng phát
triển làng nghề truyền thống là sự tăng lên về quy mô làng nghề truyền thống
và phải đảm bảo được hiệu quả sản xuất của làng nghề.

tỉnh, trong thành phố trực thuộc Trung ương, vùng huyện hoặc tiểu vùng
trong huyện.
+ Đối với khu vực nội thành, nội thị, thị trấn tỷ lệ lao động phi nông
nghiệp tối thiểu phải đạt 65% tổng số lao động, cơ sở hạ tầng phục vụ các
hoạt động của dân cư tối thiểu phải đạt 70% mức tiêu chuẩn, quy chuẩn thiết
kế quy hoạch xây dựng quy định cho từng loại đô thị, quy mô dân số ít nhất là
4.000 người và mật độ dân số tối thiểu phải đạt 2.000 người/km
2
[9].
Các yếu tố cơ bản phân loại một đô thị
Yếu tố 1: Chức năng của đô thị
Các chỉ tiêu thể hiện chức năng của một đô thị gồm:
+ Vị trí của đô thị trong hệ thống đô thị cả nước
- Vị trí của một đô thị trong hệ thống đô thị cả nước phụ thuộc vào cấp
quản lý của đô thị và phạm vi ảnh hưởng của đô thị như: đô thị - trung tâm
cấp quốc gia, đô thị - trung tâm cấp vùng (liên tỉnh), đô thị - trung tâm cấp
tỉnh, đô thị - trung tâm cấp huyện và đô thị - trung tâm cấp tiểu vùng (trong
huyện) [5].
- Ngoài ra, theo tính chất, một đô thị có thể là trung tâm tổng hợp hoặc
trung tâm chuyên ngành của một hệ thống đô thị. Đô thị là trung tâm tổng hợp
khi có chức năng tổng hợp về nhiều mặt như: hành chính - chính trị, an ninh -
quốc phòng, kinh tế (công nghiệp, dịch vụ, du lịch, nghỉ mát), đào tạo, nghiên
18
cứu, khoa học kỹ thuật Đô thị là trung tâm chuyên ngành khi có một vài
chức năng nào đó nổi trội hơn so với các chức năng khác và giữ vai trò quyết
định tính chất của đô thị đó như: đô thị công nghiệp, đô thị nghỉ mát, du lịch,
đô thị nghiên cứu khoa học, đào tạo, đô thị cảng
+ Các chỉ tiêu kinh tế - xã hội của đô thị: Tổng thu ngân sách, thu nhập
bình quân đầu người, tăng trưởng kinh tế, tỷ lệ tăng dân số
Yếu tố 2: Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trong tổng số lao động

2
trở lên.
- Đô thị loại I: Đô thị với chức năng là trung tâm chính trị, kinh tế, văn
hoá, khoa học kỹ thuật, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong
nước và quốc tế có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một vùng
lãnh thổ liên tỉnh hoặc của cả nước. Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trong
tổng số lao động từ 85% trở lên, có cơ sở hạ tầng được xây dựng nhiều mặt
đồng bộ và hoàn chỉnh, quy mô dân số từ 50 vạn người và mật độ dân số bình
quân từ 12.000 người/km
2
trở lên.
- Đô thị loại II: Đô thị với chức năng là trung tâm chính trị, kinh tế, văn
hoá, khoa học kỹ thuật, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong
vùng tỉnh, vùng liên tỉnh hoặc cả nước, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh
tế - xã hội của một vùng lãnh thổ liên tỉnh hoặc một số lĩnh vực đối với cả
nước, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trong tổng số lao động từ 80% trở lên,
có cơ sở hạ tầng được xây dựng nhiều mặt tiến tới tương đối đồng bộ và hoàn
chỉnh, quy mô dân số từ 25 vạn người trở lên, mật độ dân số bình quân từ
10.000 người/km
2
trở lên.
- Đô thị loại III: Đô thị với chức năng là trung tâm chính trị, kinh tế,
văn hoá, khoa học kỹ thuật, dịch vụ, đầu mối giao thông, giao lưu trong tỉnh
20
hoặc vùng liên tỉnh, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một
tỉnh hoặc một số lĩnh vực đối với vùng liên tỉnh, tỷ lệ lao động phi nông
nghiệp trong tổng số lao động từ 75% trở lên, có cơ sở hạ tầng được xây dựng
từng mặt đồng bộ và hoàn chỉnh, quy mô dân số từ 10 vạn người trở lên, mật
độ dân số bình quân từ 8.000 người/km
2

thành nhanh chóng các điểm dân cư đô thị trên cơ sở phát triển sản xuất và
đời sống [3].
- Đô thị hóa nông thôn: Là xu hướng phát triển bền vững có tính quy
mô, một quá trình phát triển nông thôn và phổ biến lối sống thành phố cho
nông thôn. Thực chất đó là tăng trưởng đô thị theo xu hướng bền vững [15].
- Quá trình đô thị hóa diễn ra đồng thời với quá trình công nghiệp hóa,
là quá trình biến đổi sâu sắc cơ cấu sản xuất, cơ cấu tổ chức, sinh hoạt xã hội,
cơ cấu tổ chức không gian kiến trúc xây dựng từ nông thôn sang thành thị.
Vậy khái niệm đô thị hóa có thể được hiểu như sau: “Đô thị hóa là quá
trình biến đổi và phân bố các lực lượng sản xuất trong nền kinh tế quốc dân,
bố trí dân cư, hình thành, phát triển các hình thức và điều kiện sống theo kiểu
đô thị, đồng thời phát triển đô thị hiện có theo chiều sâu trên cơ sở hiện đại
hóa cơ sở vật chất kỹ thuật và tăng quy mô dân số” [1].
2.2.2 Đặc điểm của đô thị hóa
- Đô thị hóa luôn là bước tiếp theo của việc đầu tư xây dựng kết cấu hạ
tầng, cơ sở vật chất.
- Quá trình đô thị hóa là một quá trình lâu dài và liên tục về mặt thời
gian, thống nhất giữa các lĩnh vực khác nhau khi phát triển đô thị.
- Đô thị hóa gắn liền với biến đổi sâu sắc về kinh tế, xã hội của đô thị
và nông thôn trên cơ sở phát triển công nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng,
dịch vụ do vậy đô thị hóa không thể tách rời một chế độ kinh tế, xã hội.
- Đô thị có cơ sở vật chất, kết cấu hạ tầng tương đối đầy đủ và hoàn
chỉnh, do tính năng động, lợi ích mà đô thị đem lại cho nền kinh tế nói chung,
kinh tế đô thị nói riêng. Tuy việc đầu tư lĩnh vực này không trực tiếp cho các
22
sản phẩm, của cải vật chất nhưng không thể thiếu cho chu trình sản xuất, nên
ở các đô thị dù lớn hay nhỏ, xây dựng cơ sở hạ tầng không bao giờ nằm ngoài
kế hoạch phát triển và luôn đi trước một bước.
- Tiền đề cơ bản của đô thị hóa là sự phát triển công nghiệp hay công
nghiệp hóa là cơ sở phát triển đô thị. Đô thị hóa trên thế giới bắt đầu từ cách

khu vực nông thôn. Ngoài ra đô thị hóa còn góp phần hình thành các khu du
lịch, vui chơi, giải trí cho người dân, bảo tồn các di tích lịch sử văn hóa truyền
thống của dân tộc.
+ Những hạn chế, thách thức của đô thị hóa:
Đi cùng với sự tăng trưởng và phát triển trong quá trình đô thị hoá là
những hạn chế, thách thức tới sự phát triển ổn định của các đô thị. Đó là:
- Phát triển mất cân đối: Do sự phát triển quá tập trung vào các đô thị
làm cho trình độ phát triển giữa đô thị và nông thôn, giữa các vùng chậm phát
triển và các vùng phát triển ngày càng lớn. Việc mở rộng không gian đô thị
làm giảm diện tích đất nông nghiệp và tăng dòng người di dân từ nông thôn ra
thành thị.
- Phát triển không bền vững: Dân số đô thị tăng nhanh đã gây ra quá tải
đối với hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị. Các hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật
và cơ sở hạ tầng xã hội đô thị ở hầu hết các đô thị đều phát triển chậm hơn so
với tốc độ phát triển kinh tế - xã hội đô thị. Phát triển đô thị chưa đáp ứng yêu
cầu bảo vệ môi trường, đặc biệt là tình trạng yếu kém và lạc hậu của hệ thống
cấp nước, thoát nước, thu gom và xử lý chất thải rắn, hệ thống giao thông và
nhà ở.
24
- Năng lực quản lý hành chính của các chính quyền đô thị: Tốc độ phát
triển quá nhanh của đô thị đã vượt khả năng điều hành của chính quyền địa
phương, việc quản lý đất đai, nhà ở, quản lý trật tự xây dựng đô thị là vấn đề
nóng bỏng và thường xuyên, song hầu hết ở nhiều đô thị chưa tìm ra biện
pháp quản lý hữu hiệu. Các phương tiện dịch vụ đô thị hiện đại (hệ thống giao
thông, cấp thoát nước, xử lý vệ sinh môi trường ) là đối tượng quản lý phức
tạp hơn, đòi hỏi trình độ, năng lực quản lý hành chính phải được nâng cao.
Trong khi số đông cán bộ, viên chức trong bộ máy chính quyền quản lý đô thị
chưa được đào tạo và bồi dưỡng những kiến thức cơ bản về quản lý đô thị,
kiến thức về kinh tế thị trường, trình độ còn bất cập so với yêu cầu, chưa đáp
ứng được với yêu cầu đổi mới, lúng túng trước những vấn đề mới nẩy


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status