LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo hướng dẫn: TS
Nguyễn Văn Hiền đã tận tình chỉ bảo và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập,
nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể giáo viên bộ môn Lí luận và Phương pháp
dạy học Sinh học, khoa Sinh học, phòng Sau đại học, Ban Giám hiệu Trường Đại
học Sư phạm Hà Nội đã tạo mọi điều kiện để em nghiên cứu và hoàn thành luận
văn này.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Tổ Sinh học trường THPT
Hoa Lư A, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá
trình thực nghiệm luận văn.
Hà Nội, tháng 10 năm 2015
Tác giả
Nguyễn Thị Huyền Trang
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Viết tắt
ĐV
GD
GD-ĐT
GV
HS
SGK
THPT
TV
Nghĩa
Động vật
Giáo dục
2.1.1. Nguyên tắc và tiếp cận trong xây dựng chủ đề. ................................................................33
a. Đảm bảo mục tiêu giáo dục phổ thông và mục tiêu giáo dục môn học...............................33
b. Đảm bảo chuẩn kiến thức, kỹ năng, thái độ của chương trình và sách giáo khoa hiện hành
.................................................................................................................................................33
c. Nội dung chủ đề mang tính phổ thông, cơ bản, hiện đại, thể hiện tính đặc thù của bộ môn
.................................................................................................................................................33
d. Nội dung chủ đề phù hợp với mức độ nhận thức của HS và điều kiện nhà trường.............34
e. Nội dung chủ đề gắn với thực tiễn, hấp dẫn người học.......................................................34
2.1.3. Ví dụ xây dựng chủ đề học tập chương trình Sinh học 11 – THPT.....................................36
2.1.3.1. Ví dụ 1: Chủ đề “Bạn sinh ra và lớn lên như thế nào?”...............................................37
2.1.3.3. Ví dụ 3: Chủ đề “ Sinh học cơ thể động vật”...............................................................42
2.2. Quy trình tổ chức dạy học theo chủ đề chương trình Sinh học 11 – THPT..................45
2.2.1. Nguyên tắc tổ chức dạy học theo chủ đề...........................................................................45
a. Phù hợp với mức độ nhận thức của HS và điều kiện nhà trường.......................................45
2.2.2. Quy trình tổ chức dạy học theo chủ đề Sinh học 11 – THPT.............................................46
2.2.3. Ví dụ sử dụng quy trình tổ chức dạy học theo chủ đề Sinh học 11 – THPT ......................47
2.2.3.1. Ví dụ 1: Tổ chức dạy học chủ đề “Bạn sinh ra và lớn lên như thế nào?”.....................47
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2.....................................................................................................61
3.4. Kết quả thực nghiệm.....................................................................................................63
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1. Nhận thức của GV về chủ đề và xây dựng chủ đề trong dạy học Sinh học ở
trường THPT........................................................................................................................21
Bảng 1.2. Thực trạng tổ chức các hoạt động dạy học theo chủ đề chương trình ................25
Sinh học THPT.....................................................................................................................25
Hình 3.6: Đường biểu diễn tần suất hội tụ tiến kết quả bài kiểm tra số 3............................68
PHẦN I. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Do yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học
Đất nước ta đang trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Việc đổi
mới toàn diện trong giáo dục là xu thế tất yếu trong thời đại mới.
Giáo dục nước ta đang thực hiện bước chuyển từ chương trình giáo dục tiếp
cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học, từ chỗ quan tâm đến việc học
sinh (HS) học được cái gì đến chỗ quan tâm HS vận dụng được cái gì qua việc học.
Để làm được điều đó phải đổi mới toàn diện nội dung, phương pháp dạy học, cách
thức kiểm tra đánh giá.
Công văn 791 ngày 25/6/2013 của Bộ Giáo dục và Đào tạo (Bộ GD&ĐT) đã
cho phép giáo viên (GV) có thể cấu trúc, sắp xếp lại nội dung dạy học của từng môn
học trong chương trình hiện hành theo định hướng phát triển năng lực HS thành
những bài học mới; có thể chuyển nội dung dạy học thành nội dung các hoạt động
giáo dục (GD); xây dựng kế hoạch dạy học, phân phối chương trình, hoạt động GD
phù hợp với đối tượng HS và điều kiện thực tế nhà trường.
Bộ GD&ĐT cũng bắt đầu triển khai các nghiên cứu xây dựng chương trình
GD phổ thông mới, sẽ triển khai sau năm 2015. Theo đó, chương trình GD phổ
thông sẽ được đổi mới một cách cơ bản theo hướng tích hợp môn học, tạo cơ hội
lựa chọn nội dung học tập cho HS nhiều hơn, HS phải tự học nhiều hơn và tăng
cường hoạt động học tập gắn kết với xã hội.
1.2. Vai trò của xây dựng chủ đề trong dạy học
Dạy học theo chủ đề là một mô hình học tập mới, thay thế cho lớp học truyền
thống (với đặc trưng bài học ngắn, cô lập, GV giữ vai trò làm trung tâm). Theo đó, việc
học tập được chú trọng đến nội dung học tập có tính tổng quát, liên quan đến nhiều lĩnh
vực (liên môn) và nội dung tích hợp với những vấn đề gắn liền với thực tiễn.
Tiếp cận tích hợp trong việc xây dựng chương trình đã trở thành xu thế phát
trình sinh lý diễn ra trong cơ thể TV và ĐV bao gồm: Trao đổi chất và năng lượng,
sinh trưởng và phát triển, cảm ứng, sinh sản.
Kiến thức Sinh học 11 là những kiến thức phổ thông, cơ bản, hiện đại, có giá
trị thiết thực đối với người học và cộng đồng.
Kiến thức Sinh học 11 tương đối khó và trừu tượng đối với người học, đòi
2
hỏi người học phải có óc quan sát, khả năng tư duy, tưởng tượng các quá trình sinh
lý, sinh hóa diễn ra trong cơ thể. Tuy nhiên đối tượng mà Sinh học 11 hướng tới là
những đối tượng gần gũi với HS, có thể dễ dàng quan sát được cấu tạo và làm một
số thí nghiệm. Do vậy, để nắm bắt được những kiến thức cốt lõi của Sinh học cơ thể
cần gắn người học vào những tình huống thực tiễn và những hoạt động học tập
mang tính tích cực để HS có thể chủ động trong quá trình lĩnh hội tri thức.
Xuất phát từ những lý do trên, với mong muốn góp phần nâng cao chất lượng
dạy và học Sinh học ở THPT, chúng tôi chọn đề tài “Xây dựng chủ đề để tổ chức
dạy học Sinh học 11- THPT”
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu quy trình xây dựng và tổ chức dạy học các chủ đề trong chương
trình Sinh học 11 góp phần nâng cao chất lượng dạy học bộ môn.
3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
- Các chủ đề trong chương trình Sinh học 11 - THPT
- Quy trình dạy học theo chủ đề
3.2. Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy học Sinh học 11
4. Giới hạn nghiên cứu
Trong khuôn khổ của luận văn, chúng tôi chỉ tập trung xác định quy trình
xây dựng chủ đề học tập, quy trình dạy học theo chủ đề và tổ chức thực nghiệm sư
7.3. Phương pháp tham vấn chuyên gia
Trao đổi trực tiếp, xin ý kiến các chuyên gia để xác định quy trình, nội dung,
phương pháp dạy học theo chủ đề.
7.5. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Sau khi xây dựng chủ đề học tập chúng tôi tiến hành thực nghiệm sư phạm
tại trường phổ thông để kiểm tra tính đúng đắn của giả thuyết nghiên cứu. Phương
pháp thực nghiệm song song trong đó nhóm lớp đối chứng cũng như nhóm lớp thực
nghiệm được duy trì không đổi trong suốt quá trình thực nghiệm.
4
7.6. Xử lý số liệu bằng thống kê toán học
Các bài kiểm tra của nhóm lớp TN và nhóm lớp ĐC đều chấm cùng biểu
điểm theo thang điểm 10. Kết quả thu được chúng tôi xử lý bằng thống kê toán học
.
Công thức:
Trong đó:
x: điểm trung bình
n: tổng số bài kiểm tra
xi : điểm số theo thang điểm 10
ni : số bài kiểm tra có điểm số là xi
- Sai số trung bình cộng
s
n
1.1.1 Trên thế giới
Trên thế giới, theo đánh giá của UNESCO, việc đổi mới nội dung, chương
trình và cách tiếp cận nội dung chương trình dạy học ở nhiều quốc gia đang có xu
hướng tích hợp theo chủ đề học tập cùng với sự tích hợp công nghệ vào dạy học.
Một nghiên cứu mới đây của Viện Khoa học giáo dục Việt Nam về chương trình
giáo dục phổ thông 20 nước cho thấy 100% các nước đều xây dựng chương trình
theo hướng tích hợp.
Tại Hàn Quốc, từ 1997 đến nay đã chủ trương phát triển hệ thống giáo dục
theo hướng tiếp cận đa dạng trong giáo dục, tạo cơ hội cho HS phát triển kỹ năng và
giá trị cần thiết cho cuộc sống. Chương trình sách giáo khoa của Hàn Quốc được
xây dựng theo các chủ đề tích hợp. Ví dụ, môn khoa học là môn tự chọn của khối
THPT gồm 2 phần “Vũ trụ và sự sống” và “Khoa học và văn minh” được xây dựng
trên cơ sở tích hợp các môn khoa học như vật lý, hóa học, khoa học đời sống, khoa
học trái đất. Phần khoa học và văn minh được chia thành 3 chủ đề: “Bưu chính viễn
thông và vật liệu mới”, “Sức khỏe con người và khoa học kỹ thuật” và “Năng lượng
và môi trường”. Trên cơ sở đó, việc giảng dạy của GV tập trung vào xây dựng tư
duy phân tích, khả năng đặt câu hỏi, tìm kiếm câu trả lời và hướng giải quyết, tạo cơ
hội để HS thể hiện cá tính và phát triển kỹ năng [16].
Ở trường THPT của Australia Sinh học được học trong 2 năm (lớp 11 và lớp
12). Sách giáo khoa Sinh học của nhà xuất bản Heinmann gồm hai cuốn: Sinh học 1
và Sinh học 2. Nội dung hai cuốn sách giáo khoa được thiết kế nhằm cung cấp cách
học đặc trưng là học theo các chủ đề và dựa trên quan điểm sinh thái - môi trường.
Sách giáo khoa không viết theo bài riêng lẻ mà chia thành các phần và các chương.
Ngoài chương đại cương nói về phương pháp học môn Sinh học, nội dung hai cuốn
sách được chia thành 4 phần (Unit): Sinh vật trong môi trường của chúng (8
chương); Chức năng của cơ thể sống (8 chương); Cơ sở để tồn tại (7 chương); Sinh
6
7
hợp các kiến thức như giáo dục dân số, môi trường, giáo dục sức khỏe, giới tính…
qua các bài học riêng lẻ. Do đó việc xây dựng các chủ đề học tập theo hướng tích
hợp vẫn còn hạn chế.
Ngày 25/6/2013, Bộ GD&ĐT đã ban hành công văn số 791 hướng dẫn triển
khai thực hiện thí điểm phát triển chương trình giáo dục nhà trường phổ thông bắt
đầu từ năm học 2013 – 2014. Trong đó văn bản đã nhấn mạnh việc xây dựng các
chủ đề học tập liên môn thuộc các lĩnh vực Khoa học tự nhiên hoặc Khoa học xã
hội và các chủ đề tích hợp với các vấn đề thời sự của địa phương, đất nước. Các
trường tham gia thí điểm là các trường phổ thông thuộc các trường đại học sư phạm
trong cả nước. Sau một năm tiến hành thí điểm đã cho kết quả bước đầu khá khả
quan [8].
Tháng 12/1014, Bộ GD&ĐT đã tiến hành tập huấn cán bộ quản lý và giáo
viên THPT về xây dựng các chuyên đề dạy học và kiểm tra đánh giá theo định
hướng phát triển năng lực HS trên phạm vi cả nước trong đó chú trọng quy trình
xây dựng chủ đề và phương pháp, hình thức tổ chức dạy học, kiểm tra đánh giá theo
chủ đề. Bên cạnh đó, Bộ GD&ĐT đã tổ chức cuộc thi dạy học theo chủ đề tích hợp
dành cho GV trung học năm 2013 – 2014 nhằm khuyến khích GV sáng tạo, dạy học
theo chủ đề, chủ điểm có nội dung liên quan đến nhiều môn học và gắn với thực
tiễn cuộc sống, góp phần đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức dạy học và kiểm
tra đánh giá kết quả học tập.
1.2. Cơ sở lý luận của đề tài
1.2.1. Năng lực của học sinh
1.2.1.1. Khái niệm năng lực
Có nhiều định nghĩa khác nhau về “năng lực”
Gerard và Roegier (1993) đã coi năng lực là một tích hợp những kỹ năng cho
phép nhận biết một tình huống và đáp ứng với tình huống đó một cách tích hợp và
một cách tự nhiên [27].
động chuyên biệt, đáp ứng yêu cầu hạn hẹp hơn của một hoạt động như toán học,
âm nhạc, mỹ thuật…
Năng lực chung và năng lực chuyên biệt đều được hình thành và phát triển
thông qua các môn học, hoạt động giáo dục. Năng lực chuyên biệt vừa là mục tiêu
vừa là “đơn vị thao tác” trong các hoạt động dạy học, giáo dục góp phần hình thành
9
và phát triền năng lực chun [23].
1.2.1.2 . Năng lực của học sinh
Thế kỷ XXI là thế kỷ của nền kinh tế tri thức. Trước sự bùng nổ của công
nghệ thông tin, sự phát triển của các ngành khoa học theo hướng phân khoa và
chuyên khoa đòi hỏi học sinh thế kỷ XXI phải chủ động cập nhật các nội dung khoa
học của các môn học, năng động, sáng tạo trong cuộc sống và nghề nghiệp.
Tư duy mới về mục đích học tập của tổ chức UNESCO ở thế kỷ XXI là “Học
để biết, học để làm, học để chung sống, học để khẳng định mình” hướng tới một “
Xã hội học tập”.
Học để biết – học để học cách học. Học để nắm bắt tri thức, tri thức là
phương tiện, công cụ để hình thành năng lực. Ngày nay kiến thức của loài người
tăng theo cấp số nhân, do đó học sinh phải học cách học, có khả năng tự học và tự
nghiên cứu khoa học.
Học để làm – học hành. Người học phải xác định rõ học cái gì? Học để làm
gì? Khái niệm học tập cần hiểu là học hành, tức là học để làm và phải làm tốt chứ
không phải học để tập làm. Học sinh trong thời đại mới đòi hỏi phải có năng lực
thực hành, giải quyết các vấn đề gắn với thực tiễn cuộc sống và nghề nghiệp, đáp
ứng được nhu cầu xã hội, giải quyết các vấn đề phức hợp.
Học để tự khẳng định mình - học để sáng tạo. Trong thời đại ngày nay học
để tự khẳng định cần được hiểu là học để sáng tạo. Nền kinh tế tri thức toàn cầu hoá
càng làm cho sự cạnh tranh trên trường quốc tế càng gay gắt mà phần thắng sẽ
phổ thông những năm sắp tới như sau [23]:
Về phẩm chất: Yêu gia đình, yêu quê hương đất nước; nhân ái, khoan dung;
trung thực, tự trọng, chí công vô tư; tự lập, tự tin, tự chủ và có tinh thần vượt khó;
có trách nhiệm với bản thân, cộng đồng, đất nước, nhân loại và môi trường tự
nhiên; thực hiện nghĩa vụ đạo đức tôn trọng, chấp hành kỷ luật, pháp luật.
Về năng lực chung: Phát triển năng lực tự học, năng lực giải quyết vấn đề,
năng lực sáng tạo, năng lực tự quản lý, năng lực giao tiếp, năng lực hợp tác, năng
lực sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông, năng lực sử dụng ngôn ngữ, năng
lực tính toán.
Từ phẩm chất và năng lực chung, mỗi môn học xác định những phẩm chất,
năng lực cá biệt và những yêu cầu đặt ra cho từng môn học, từng hoạt động giáo dục.
11
Để làm được điều đó phải đổi mới đồng bộ nội dung, phương pháp, hình
thức tổ chức kiểm tra đánh giá nhằm chú trọng phát triển năng lực cho học sinh.
Các phương pháp dạy học không chỉ chú ý tích cực hóa học sinh về mặt trí tuệ mà
còn chú ý rèn năng lực giải quyết vấn đề gắn với tình huống thực tiễn, đồng thời
gắn hoạt động trí tuệ với hoạt động thực hành. Tăng cường việc học tập trong
nhóm, đổi mới quan hệ giáo viên – học sinh theo hướng cộng tác có ý nghĩa quan
trọng nhằm phát triển năng lực xã hội. Bên cạnh việc học tập những tri thức, kỹ
năng riêng lẻ của các môn học chuyên môn cần bổ sung các chủ đề học tập phối
hợp nhằm phát triển năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp [23].
1.2.2. Các đặc trưng cơ bản của dạy học theo chủ đề.
1.2.2.1. Thế nào là dạy học theo chủ đề?
Giáo dục nước ta đang thực hiện bước chuyển từ dạy học định hướng nội
dung sang dạy học định hướng phát triển năng lực. Dạy học theo chủ đề đang là một
hướng tiếp cận mới trong giáo dục phổ thông hiện nay. Đây là một mô hình mới
cho hoạt động lớp học, chú trọng những nội dung học tập có tính tổng quát, liên
dung học những ứng dụng kỹ thuật và đời sống thông dụng, những vấn đề mang
tính “thời sự”, toàn cầu làm cho nội dung học có ý nghĩa hơn, hấp dẫn hơn.
Về phương pháp dạy học: Học tập theo chủ đề còn tạo điều kiện tích cực
hóa HS về hoạt động trí tuệ, rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề gắn với tình
huống của cuộc sống và nghề nghiệp, đồng thời gắn hoạt động trí tuệ với hoạt động
thực hành, thực tiễn. Tăng cường hoạt động theo nhóm, đổi mới quan hệ GV – HS
theo hướng cộng tác nhằm phát triển năng lực xã hội.
Khi dạy học theo chủ đề, GV không còn đóng vai trò đơn thuần là người
truyền đạt kiến thức mà trở thành người thiết kế, tổ chức, hướng dẫn các hoạt động
độc lập hoặc theo nhóm nhỏ đề HS tự lực chiếm lĩnh nội dung học tập, chủ động đạt
được các mục tiêu của chủ đề.
Dạy học theo chủ đề hướng tới sử dụng các quan điểm, phương pháp và kỹ
thuật dạy học tích cực như dạy học tích hợp, dạy học giải quyết vấn đề, dạy học dự
án các phương pháp dạy học thí nghiệm, thực hành…thông qua tổ chức các hoạt
động học tập dưới sự hướng dẫn của GV.
Về hình thức tổ chức dạy học: Dạy học theo chủ đề tạo điều kiện để GV có
thể sử dụng đa dạng các hình thức tổ chức học tập trong đó chú trọng các hình thức
hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học, các hoạt động trải nghiệm sáng
tạo, đẩy mạng ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy học
Khi được học tập theo mô hình này, HS có nhiều cơ hội làm việc theo nhóm,
13
tìm kiếm, thu thập, tổng hợp, xử lý thông tin để giải quyết những vấn đề xác thực,
có hệ thống và liên quan đến nhiều môn khoa học khác nhau.
Tiến trình dạy học theo chủ đề được tổ chức thành các hoạt động học tập của
HS để có thể thực hiện trên lớp và ở nhà. Giáo viên là người tổ chức và chỉ đạo HS
tiến hành các hoạt động như nhớ lại kiến thức cũ, phát hiện kiến thức mới, vận dụng
sáng tạo kiến thức đã biết vào tình huống học tập và tình huống thực tiễn.
định can thiệp và áp đặt của người dạy trong quá trình học tập. Phát huy được tính
chủ động, tự khẳng định, tự vận động của người học.
- GV là người định hướng, hướng dẫn HS lĩnh hội tri thức. Người dạy không
còn phải thuyết trình, giảng giải quá nhiều để mang đến cho HS một hệ thống kiến
thức quá nặng. Thay vào đó người dạy có thể chủ động sáng tạo thay đổi nội dung,
bố cục chương trình, linh hoạt trong việc sử dụng các phương pháp dạy học mới
phù hợp với phong cách, sở trường của mỗi cá nhân.
- Đối với các cấp quản lý, dạy học theo chủ đề tạo điều kiện để các trường
phổ thông, các cơ sở đào tạo chủ động trong công tác giảng dạy, xây dựng nội dung
học tập phù hợp với điều kiện nhà trường, với mức độ nhận thức của HS từng vùng
miền đặc biệt đối với các khu vực có điều kiện kinh tế khó khăn.
Về hạn chế, khó khăn:
Bên cạnh những ưu điểm thì dạy học theo chủ đề vẫn có những hạn chế nhất
định. Hơn nữa đây là hướng tiếp cận mới trong dạy học nên việc áp dụng nó trong
dạy học Sinh học nói riêng và dạy các môn khoa học nói chung tại trường phổ
thông còn gặp nhiều khó khăn.
Đối với giáo viên:
- Do là hướng tiếp cận mới nên GV chưa được tập huấn về dạy học theo chủ
để nên chưa nhận thức đầy đủ về vai trò, bản chất cũng như cách thức, quy trình xây
dựng và tổ chức các hoạt động học tập. Do vậy việc áp dụng mô hình dạy học mới
này còn nhiều khó khăn đối với GV.
- Dạy học theo chủ đề tiêu tốn nhiều thời gian cho khâu xây dựng và tổ chức
hoạt động học tập. Do vậy GV phải là người tích cực, chủ động sáng tạo trong việc
tìm tòi, trau dồi kiến thức, tìm kiếm thông tin từ nhiều nguồn tài liệu khác nhau
trong việc tổ chức các hoạt động tích cực cho HS.
- Khi xây dựng và dạy học theo các chủ đề tích hợp liên môn, các GV vấp
phải khó khăn trong việc kết hợp với các GV bộ môn liên quan khi dạy học trong
cùng một chủ đề. Việc này khó thực hiện vì cần có sự chỉ đạo của Ban Giám hiệu
và hầu hết các trường phổ thông hiện nay vẫn dạy theo đúng phân phối chương
trình và trình tự các bài trong sách giáo khoa.
Mục tiêu
thông.
lực giải quyết vấn đề thực tế.
giáo dục
Kiến thức là công cụ, phương tiện
để hình thành kỹ năng.
Nội dung dạy học được quy Việc lựa chọn nội dung nhằm đạt
định chi tiết trong chương được các kỹ năng, năng lực cần
Nội dung
trình.
thiết. Nội dung gắn với các tình
giáo dục
Việc lựa chọn nội dung dựa huống thực tiễn và có sự tích hợp
vào các khoa học chuyên môn, nhiều môn khoa học.
16
không gắn với các tình huống
thực tiễn.
Chủ yếu sử dụng các phương Chủ yếu sử dụng các phương pháp
pháp dạy học truyền thống: dạy học tích cực: dạy học dự án,
tổ chức dạy
- Dạy theo từng bài riêng rẽ - Dạy theo chủ đề, tuân thủ tương
học
theo đúng phân phối chương đối theo phân phối chương trình và
trình và thứ tự các bài trong trình tự bài trong sách giáo khoa.
sách giáo khoa.
Nội dung có trong nhiều bài sách
giáo khoa và có thể được cấu trúc,
sắp xếp lại cho phù hợp.
Tiêu chí đánh giá được xây Tiêu chí đánh giá dựa vào năng lực
Kiểm tra,
dựng chủ yếu dựa trên sự ghi hình thành ở HS, có tính đến sự tiến
đánh giá kết nhớ và tái hiện nội dung đã bộ trong quá trình học tập. Chú
quả học tập học.
trọng khả năng vận dụng trong các
tình huống thực tiễn.
1.3. Cơ sở thực tiễn của đề tài
1.3.1. Những thay đổi cơ bản về mô hình dạy học trong nhà trường
Từ cuối thế kỷ XX, trải qua 15 năm đổi mới, giáo dục Việt Nam đã đạt được
những thành tựu quan trọng. Tuy nhiên, nhìn chung giáo dục nước ta còn yếu về
17
18
thụ động, thầy giảng trò ghi sang hướng dẫn người học chủ động tư duy trong quá
trình tiếp cận tri thức; dạy cho người học phương pháp tự học, tự thu nhận thông tin
một cách hệ thống, tăng cường tính tự chủ của học sinh trong quá trình học tập và
các hoạt động xã hội.
Với việc thực hiện những chiến lược trên giáo dục nước ta đã đạt được
những thành tựu to lớn. Chất lượng giáo dục ở các cấp học, có tiến bộ. Trình độ
hiểu biết, năng lực tiếp cận tri thức mới của HS, sinh viên được nâng cao. Phát triển
giáo dục đào tạo đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Chất
lượng giáo dục mũi nhọn được coi trọng thông qua hệ thống trường chuyên và các
chương trình đào tạo chất lượng cao ở các trường đại học [20].
Tuy nhiên, bên cạnh đó giáo dục nước ta thời điểm này vẫn còn có nhiều bất
cập, yếu kém. Hệ thống giáo dục quốc dân thiếu tính thống nhất, chất lượng giáo
dục còn thấp so với nhu cầu phát triển của đất nước trong thời kỳ mới và so với
trình độ của các nước trong khu vực. Nội dung chương trình còn nặng nề về lý
thuyết, phương pháp dạy học còn lạc hậu, chưa phù hợp với đặc thù khác nhau của
các loại hình cơ sở giáo dục, vùng miền và đối tượng HS. Nhà trường chưa chú
trọng giáo dục kỹ năng sống, phát huy tính sáng tạo và năng lực thực hành cho HS,
sinh viên.
Trong thời điểm hiện nay, bước sang giai đoạn 2011 – 2020, giáo dục nước
ta đang trong thập kỷ mà bối cảnh thế giới có nhiều thay đổi nhanh và phức tạp.
Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế về giáo dục đã trở thành xu thế tất yếu. Trước
thách thức đó, giáo dục nước ta đang tiến hành đổi mới căn bản và toàn diện theo
hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế; chất
lượng giáo dục được nâng cao một cách toàn diện, gồm: giáo dục đạo đức, kỹ năng
sống, năng lực sáng tạo, năng lực thực hành, năng lực ngoại ngữ và tin học [12].
Để đạt được những mục tiêu trên Bộ GD&ĐT đã và đang tiến hành đổi mới