CÁC GIẢI PHÁP CHỦ yếu NHẰM TĂNG CƯỜNG CÔNG tác QUẢN TRỊ vốn lưu ĐỘNG tại CÔNG TY XUẤT NHẬP KHẨU THÁNG GIÊNG - Pdf 34

BỘ TÀI CHÍNH
HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
----------

Nguyễn Thị Phương Huyền
Lớp CQ48/11.01

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC QUẢN
TRỊ VỐN LƯU ĐỘNG TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN XUẤT NHẬP KHẨU
THÁNG GIÊNG

Chuyên ngành

: Tài chính doanh nghiệp

Mã số

: 401

Người hướng dẫn: TS. Vũ Văn Ninh

Hà Nội, 2014


Luận văn tốt nghiệp

Học viên Tài chính

LỜI CAM ĐOAN


DTT

Doanh thu thuần

2.

HTK

Hàng tồn kho

3.

LNST

Lợi nhuận sau thuế

4.

LNTT

Lợi nhuận trước thuế

5.

NPT

Nợ phải trả

6.


TSCĐ

Tài sản cố định

12.

TSDH

Tài sản dài hạn

13.

TSNH

Tài sản ngắn hạn

14.

VCĐ

Vốn cố định

15.

VCSH

Vốn chủ sở hữu

16.

Bảng 2.9.Kết cấu và sự biến động các khoản phải thu của công ty năm 2013.........69
Bảng 2.10.Hiệu quả quản trị các khoản phải thu của công ty năm 2012-2013......72
Bảng 2.11. Tình hình công nợ của công ty năm 2013.......................................74
Bảng 2.12. Tốc độ luân chuyển hàng tồn kho của công ty năm 2013...............77
Bảng 2.13. Hiệu suất hoạt động và hiệu suất sử dụng VLĐ của công ty năm
2012-2013.....................................................................................79

SV: Nguyễn Thị Phương Huyền

Lớp: CQ48/11.01
5


Luận văn tốt nghiệp

Học viên Tài chính

DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1. Sơ đồ cơ cấu tổ chức bộ máy công ty................................................40
Hình 2.2. Cơ cấu nguồn hình thành vốn lưu động qua các năm.......................51
Hình 2.3. Mô hình tài trợ nguồn vốn kinh doanh của công ty năm 2013..........54
Hình 2.4.Kết cấu vốn lưu động của công ty năm 2013.....................................56
Hình 2.5. Kết cấu vốn bằng tiền của công ty qua các năm................................60
Hình 2.6. Tình hình diễn biến các dòng tiền thuần của công ty........................63
Hình 2.7. Sự biến động các khoản phải thu của công ty qua các năm .............69
Hình 2.8. Biểu đồ sự biến động hàng tồn kho của công ty qua các năm...........76

SV: Nguyễn Thị Phương Huyền

Lớp: CQ48/11.01

doanh của công ty.

SV: Nguyễn Thị Phương Huyền

Lớp: CQ48/11.01
7


Luận văn tốt nghiệp

Học viên Tài chính

Xuất phát từ tình hình thực tế ở Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Tháng
Giêng và nhận thức được tầm quan trọng của công tác quản trị vốn lưu động
trong doanh nghiệp mà em chọn đề tài “Các giải pháp chủ yếu nhằm tăng
cường công tác quản trị vốn lưu động tại Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu
Tháng Giêng” là đề tài rất cần thiết đối với công ty trong giai đoạn mở rộng và
phát triển sản xuất kinh doanh hiện nay.
2. Đối tượng và mục đích nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Vốn lưu động và công tác quản trị vốn lưu động.
- Luận văn được viết nhằm ba mục đích cơ bản sau:
+ Hệ thống hóa những vấn đề cơ bản liên quan đến vốn lưu động và công tác
quản trị vốn lưu động.
+ Cung cấp thông tin về công tác quản trị vốn lưu động tại Công ty Cổ phần
Xuất nhập khẩu Tháng Giêng.
+ Đề xuất giải pháp tăng cường công tác quản trị vốn lưu động tại Công ty Cổ
phần Xuất nhập khẩu Tháng Giêng.
3. Phạm vi nghiên cứu
Tình hình quản trị vốn lưu động tại Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu
Tháng Giêng từ 31/12/2012 đến 31/12/2013.

Chương 2 : Thực trạng quản trị vốn lưu động tại Công ty Cổ phần Xuất nhập
khẩu Tháng Giêng
Chương 3: Các giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường công tác quản trị vốn lưu
động tại Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Tháng Giêng
Mặc dù đã hết sức cố gắng, song do trình độ nhận thức và lý luận còn hạn
chế, thời gian tìm hiểu và thực tập có hạn, vì vậy đề tài nghiên cứu chắc chắn
không tránh khỏi thiếu sót. Em rất mong nhận được sự đóng góp quý báu của các
thầy cô giáo, Ban lãnh đạo Công ty để đề tài của em hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn thầygiáo: Ts Vũ Văn Ninh cùng toàn thể các cô
chú, anh chị trong Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Tháng Giêngđã giúp em
hoàn thành đề tài luận văn tốt nghiệp này.

SV: Nguyễn Thị Phương Huyền

Lớp: CQ48/11.01
9


Luận văn tốt nghiệp

Học viên Tài chính

CHƯƠNG 1:
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ VỐN LƯU ĐỘNG VÀ QUẢN
TRỊ VỐN LƯU ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP
1.1.

Vốn lưu động và nguồn hình thành vốn lưu động của doanh nghiệp
Khái niệm và đặc điểm vốn lưu động của doanh nghiệp



Học viên Tài chính

Căn cứ vào phạm vi sử dụng, TSLĐ của doanh nghiệp thường được chia
thành 2 bộ phận: TSLĐ sản xuất và TSLĐ lưu thông.
TSLĐ sản xuất bao gồm các loại như nguyên liệu chính, vật liệu phụ, các
nhiên liệu, phụ tùng thay thế đang trong quá trình dự trữ sản xuất và các loại sản
phẩm dở dang, bán thành phẩm đang trong quá trình sản xuất. Còn TSLĐ lưu
thông bao gồm các loại tài sản đang nằm trong quá trình lưu thông như thành
phẩm trong kho chờ tiêu thụ, các khoản phải thu, vốn bằng tiền.
Trong quá trình kinh doanh, TSLĐ sản xuất và TSLĐ lưu thông luôn vận
động, chuyển hóa, thay thế đổi chỗ cho nhau, đảm bảo cho quá trình sản xuất
kinh doanh được diễn ra nhịp nhàng, liên tục. Để có được các TSLĐ này, doanh
nghiệp phảiứng ra một số vốn tiền tệ nhấtđịnh để mua sắm các tài sảnđó, só vốn
này được gọi là vốn lưu động của doanh nghiệp.
Như vậy, có thể nói: Vốn lưu động là toàn bộ số tiền ứng trước mà doanh
nghiệp bỏ ra để đầu tư hình thành nên các TSLĐ thường xuyên, cần thiết cho
hoạt động SXKD của doanh nghiệp.
Quá trình SXKD được tiến hành thường xuyên liên tục, nên VLĐ cũng
vận động không ngừng, chuyển hóa lần lượt qua nhiều hình thái khác nhau.
Đối với doanh nghiệp sản xuất, VLĐ từ hình thái ban đầu là tiền được
chuyển hóa sang hình thái vật tư dự trữ, sản phẩm dở dang, thành phẩm hàng
hóa. Khi kết thúc quá trình tiêu thụ lại trở vể hình thái ban đầu là tiền. Sự vận
động của VLĐ qua các giai đoạn có thể được mô tả bằng sơ đồ sau:
T– H– Sản xuất– H’– T’
Đối với doanh nghiệp thương mại, sự vận động của VLĐ nhanh hơn, từ
hình thái vốn bằng tiền chuyển hóa sang hình thái hàng hóa và cuối cùng chuyển
về hình thái tiền. Được thể hiện qua sơ đồ sau:
T– H– T’
SV: Nguyễn Thị Phương Huyền

Thứ nhất, do các TSLĐ có thời hạn sử dụng ngắn nên VLĐ cũng luân
chuyển nhanh.
Thứ hai, VLĐ luôn thay đổi hình thái biểu hiện qua các giai đoạn trong
quá trình SXKD. Từ hình thái vốn tiền tệ ban đầu trở thành vật tư, hàng hóa dự
trữ sản xuất, tiếp đến trở thành sản phẩm dở dang, bán thành phẩm, thành phẩm
và cuối cùng lại trở về hình thái vốn bằng tiền.Tại một thời điểm nhất định, VLĐ

SV: Nguyễn Thị Phương Huyền

Lớp: CQ48/11.01
12


Luận văn tốt nghiệp

Học viên Tài chính

thường xuyên có các bộ phận cùng tồn tại dưới các hình thái khác nhau trong các
giai đoạn mà vốn đi qua.
Thứ ba, kết thúc mỗi chu kỳ kinh doanh, giá trị của VLĐ được chuyểndịch
toàn bộ, một lần vào giá trị của sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ sản xuất ra và được
bù đắp lại khi doanh nghiệp thu được tiền bán sản phẩm hàng hóa, dịch vụ. Như
vậy, VLĐ hoàn thành một vòng tuần hoàn sau mỗi chu kỳ kinh doanh.
Qua những đặc điểm của TSLĐ và VLĐ cho thấy tính chất phức tạp của
TSLĐ và VLĐ trong doanh nghiệp. Do vậy, để sử dụng VLĐ một cách tiết kiệm
và có hiệu quả, đòi hỏi doanh nghiệp phải có những biện pháp quản lý và sử
dụng VLĐ cho hợp lý, phù hợp với đặc điểm SXKD và môi trường kinh doanh
của doanh nghiệp.
1.1.2.


Trong các doanh nghiệp sản xuất, dự trữ vật tư hàng hóa gồm nguyên liệu,
vật liệu, công cụ dụng cụ, sản phẩm dở dang, thành phẩm,… gọi chung làHTK.
Trong doanh nghiệp thương mại, vốn vật tư hàng hóa chủ yếu là giá trị
hàng hoá dự trữ, mua về để chuẩn bị cho tiêu thụ, bao gồm: hàng mua đang đi
trên đường, hàng tồn kho, hàng gửi cácđại lý,…


Vốn bằng tiền và các khoản phải thu:
Vốn bằng tiền: gồm tiền măt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển.

Tiền là một loại tài sản có tính linh hoạt cao, doanh nghiệp có thể dễ dàng chuyển
đối thành các loại tài sản khác hoặc để trả nợ.
Các khoản phải thu: Chủ yếu là các khoản phải thu từ khách hàng thể hiện
ở số tiền mà các khách hàng nợ doanh nghiệp phát sinh trong quá trình bán hàng,
cung ứng dịch vụ dưới hình thái bán trước trả sau. Ngoài ra doanh nghiệp còn có
thể phải ứng trước tiền mua hàng cho người cung cấp.
Theo cách phân loại này giúp cho các doanh nghiệp xem xét, đánh giá
mức tồn kho dự trữ và khả năng thanh toán, tính thanh khoản của các tài sản đầu
tư trong doanh nghiệp.
b.

Căn cứ theo vai trò của từng loại vốn lưu động trong quá trình sản xuất
kinh doanh:

Theo cách phân loại này vốn lưu động của doanh nghiệp được chia thành ba
loại: vốn lưu động trong khâu dự trữ sản xuất, khâu sản xuất và khâu lưu thông.


Vốn lưu động trong khâu dự trữ sản xuất:bao gồm vốn nguyên vật liệu
chính, vốn vật liệu phụ, vốn nhiên liệu, vốn phụ tùng thay thế, vốn vật liệu


thành hai loại: nguồn VLĐ thường xuyên và nguồn VLĐ tạm thời.


Nguồn VLĐ thường xuyên: là nguồn vốn ổn định có tính chất dài hạn chủ yếu là
để hình thành hay tài trợ choTSLĐ thường xuyên cần thiết cho hoạt động SXKD
của doanh nghiệp, bao gồm vốn chủ sở hữu và các khoản nợ dài hạn. Đặc điểm
của loại vốn này là thời gian sử dụng kéo dài.
Nguồn VLĐ thường xuyên của doanh nghiệp tại một thời điểm có thể xác
định theo công thức sau:
Nguồn
VLĐthường

=

xuyên

Tổng nguồn vốn thường
xuyên của doanh nghiệp

-

Tài sản dài hạn

Trong đó:
Tổng nguồn vốn thường

=

xuyên của doanh nghiệp

Tài sản dài hạn

xuyên của
Vốn chủ sở hữu

doanh
nghiệp

Nguồn VLĐ thường xuyên tạo ra một mức độ an toàn cho doanh nghiệp
trong kinh doanh, làm cho tình trạng tài chính của doanh nghiệp đượcđảm bảo
vững chắc hơn. Tuy nhiên trong nhiều trường hợp, việc sử dụng nguồn VLĐ
thường xuyên đòi hỏi chi phí sử dụng vốn cao hơn.


Nguồn vốn lưu động tạm thời: là nguồn vốn có tính chất ngắn hạn dưới một năm
chủ yếu để đáp ứng các nhu cầu có tính chất tạm thời về VLĐ trong quá trình
SXKD của doanh nghiệp. Nguồn VLĐ này bao gồm vay ngắn hạn ngân hàng,
vay các tổ chức tín dụng và các khoản nợ ngắn hạn khác.
Mỗi doanh nghiệp có cách thức phối hợp khác nhau giữa nguồn VLĐ
thường xuyên và nguồn VLĐ tạm thời trong công việc đảm bảo nhu cầu chung
về VLĐ của doanh nghiệp.
Cách phân loại trên giúp cho nhà quản trị xem xét, huy động các nguồn
phù hợp với thực tế của doanh nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng và tổ
chức nguồn vốn.Mặt khác đây cũng là cơ sở để lập kế hoạch quản lý và sử dụng
vốn sao cho có hiệu quả lớn nhất với chi phí nhỏ nhất.
1.2.

Quản trị vốn lưu động của doanh nghiệp

1.2.1.

Quản trị vốn lưu động của doanh nghiệp bảo gồm quản trị về tiền, các
khoản phải thu, hàng tồn kho nhằm đảm bảo quá trình tái sản xuất diễn ra thường
xuyên và liên tục. Quản lý, sử dụng hợp lývốn lưu động cóảnh hưởng rất lớn đối
với việc hoàn thành các mục tiêu chung của doanh nghiệp.

SV: Nguyễn Thị Phương Huyền

Lớp: CQ48/11.01
17


Luận văn tốt nghiệp
1.2.1.2.
a.

Học viên Tài chính

Sự cần thiết phải tăng cườngquản trị vốn lưu động

Xuất phát từ vai trò, vị trí quan trọng của VLĐ trong quá trình SXKD
VLĐ là điều kiện vật chất không thể thiếu được của quá trình tái sản xuất.

Muốn cho quá trình tái sản xuất được liên tục, doanh nghiệp phải có đủ tiền vốn
đầu tư vào các hình thái khác nhau của VLĐ, khiến cho các hình thái có được mức
tồn tại hợp lý và đồng bộ với nhau.
VLĐ còn là công cụ phản ánh, đánh giá quá trình vận động của vật tư, hàng
hóa trong doanh nghiệp. Số VLĐ nhiều hay ít là phản ánh số lượng vật tư, hàng
hóa dự trữ sử dụng ở các khâu nhiều hay ít. VLĐ luân chuyển nhanh hay chậm
còn phản ánh số lượng vật tư sử dụng tiết kiệm hay không. Thời gian nằm ở khâu
sản xuất và lưu thông có hợp lý hay không hợp lý. Bởi vậy, thông qua tình hình


hàng hóa kém chất lượng, chậm luân chuyển, công nợ khó đòi tài sản tổn thất còn
chiếm tỷ trọng lớn. Do đó tình trạng thiếu VLĐ của các doanh nghiệp hiện nay là
rất phổ biến, nó phản ánh công tác quản trị vốn chưa đạt hiệu quả. Đặc biệt là đối
với các doanh nghiệp Nhà nước, do cơ chế cấp phát vốn nên quản trị vốn lại càng
không được quan tâm đúng mức, dẫn đến tình trạng thua lỗ rất phổ biến.
Vì vậy, để nhanh chóng thích ứng với cơ chế mới, nhanh chóng theo kịp với
tốc độ phát triển kinh tế thế giới hiện nay thì cần khắc phục tình trạng yếu kém, trì
trệ, cần phải quan tâm nhiều hơn tới hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh nói
chung và VLĐ nói riêng.
1.2.1.3.

Mục tiêu quản trị vốn lưu động của doanh nghiệp

Mục tiêu của quản trị tài chính doanh nghiệp là nhằm tối đa hóa giá trị của
chủ sở hữu, hay cổ đông trong công ty, đặt mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận kết hợp
với việc xử lý yếu tố thời gian và rủi ro trong môi trường kinh doanh đầy sự biến
động. Từ đó có thể đưa ra mục tiêu của quản trị VLĐ của doanh nghiệp như sau:


Tối đa hóa sinh lời hay lợi nhuận của doanh nghiệp, phản ánh qua hiệu quả
sử dụng VĐ đồng thời giảm thiểu rủi ro trong quá trình SXKD.



Đảm bảo cho VLĐ của doanh nghiệp được quản lý và sử dụng có hiệu quả,
phù hợp với đặc điểm luân chuyển vốn lưu động, đặc điểm ngành nghề kinh
doanh của doanh nghiệp, đảm bảo khả năng thanh toán cho doanh nghiệp
trong ngắn hạn.


Như vậy, nhu cầu VLĐ thường xuyên cần thiết là số VLĐ tối thiểu cần
thiết phải có để đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
được tiến hành bình thường, liên tục.
Nếu nhu cầu VLĐ xác định quá thấp sẽ gây nhiều khó khăn cho công tác
tổ chức đảm bảo vốn, gây căng thẳng về vốn, làm gián đoạn, đình trệ quá trình
tái sản xuất của doanh nghiệp. Nếu xác định nhu cầu VLĐ quá cao sẽ dẫn đến
tình trạng thừa vốn gây ứ đọng vật tư, hàng hóa, gây lãng phí vốn, làm tăng các
khoản chi phí không cần thiết, tăng giá thành, làm giảm hiệu quả sử dụng vốn,
làmgiảm lợi nhuận của doanh nghiệp.
Chính vì vậy trong quản trị VLĐ, các doanh nghiệp cần chú trọng xác định
đúng đắn nhu cầu VLĐ thường xuyên cần thiết, phù hợp với quy mô và điều kiện
kinh doanh cụ thể của doanh nghiệp. Với quan niệm nhu cầu VLĐ là số vốn tối
thiểu, thường xuyên cần thiết nên nhu cầu VLĐ được xác định theo công thức:
Nhu cầu VLĐ = Vốn hàng tồn kho + Nợ phải thu – Nợ phải trả nhà cung cấp
Trong đó vốn HTK là số vốn tối thiểu dùng để dự trữ nguyên nhiên vật
liệu, sản phẩm dở dang, bán thành phẩm, thành phẩm của doanh nghiệp.
Nhu cầu VLĐ của doanh nghiệp chịuảnh hưởng của nhiều nhân tố như:
quy mô kinh doanh của doanh nghiệp; đặcđiểm, tính thời vụ của ngành nghề
SV: Nguyễn Thị Phương Huyền

Lớp: CQ48/11.01
20


Luận văn tốt nghiệp

Học viên Tài chính

kinh doanh (chu kỳ sản xuất, tính thời vụ); sự biến động của giá cả vật tư, hàng
hóa trên thị trường; trình độ tổ chức, quản lý sử dụng VLĐ của doanh nghiệp;




Xác định nhu cầu vốn nợ phải trả nhà cung cấp:Nợ phải trả nhà cung cấp là
khoản vốn doanh nghiệp mua chịu hàng hóa hay chiếm dụng của khách hàng.
Các khoản nợ phải được coi như khoản tín dụng bổ sung từ khách hàng nên

SV: Nguyễn Thị Phương Huyền

Lớp: CQ48/11.01
21


Luận văn tốt nghiệp

Học viên Tài chính

doanh nghiệp có thể rút bớt ra khỏi kinh doanh một phần VLĐ của mình để
dùng vào việc khác.
Cộng nhu cầu VLĐ trong các khâu dự trữ sản xuất, sản xuất và lưu thông
(vốn hàng tồn kho) với khoản chênh lệch giữa các khoản phải thu, phải trả nhà
cung cấp sẽ có tổng nhu cầu VLĐ của doanh nghiệp. Phương pháp này có ưu
điểm là phản ánh rõ nhu cầu VLĐ cho từng loại vật tư, hàng hóa và trong từng
khâu kinh doanh, do vậy tương đối sát với nhu cầu vốn của doanh nghiệp. Tuy
nhiên phương pháp này tính toán phức tạp, mất nhiều thời gian trong xác định
nhu cầu VLĐ của doanh nghiệp.
b.

Phương pháp gián tiếp:
Phương pháp gián tiếp dựa vào phân tích tình hình thực tế sử dụng VLĐ

Luận văn tốt nghiệp

Học viên Tài chính

thành VLĐ của doanh nghiệp năm báo cáo để xác định nhu cầu VLĐ theo
doanh thu năm kế hoạch.
1.2.2.2.

Tổ chức đảm bảo nguồn vốn lưu động

Một trong những vai trò của hoạt động quản trị VLĐlà bảo đảm nguồn
VLĐ cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thông qua tổ chức nguồn vốn
đầy đủ, kịp thời và lựa chọn phương pháp, hình thức huy động vốn phù hợp với
tình hình của doanh nghiệp.
Để việc tổ chức đảm bảo nguồn VLĐ được hiệu quả, doanh nghiệp cần
phải xácđịnh được nguồn tài trợ thích hợp. Dướiđây ta xem xét một số mô hình
tài trợ phổ biến.
a.

Mô hình tài trợ thứ nhất:
NVTT
TSLĐ

NVLĐTX
(NWC)

NWC>0
NVTX

TSCĐ

NVTX

Khi TSLĐ nhỏ hơn NPT ngắn hạn thì nguồn VLĐ TX sẽ có giá trịâm. Đây
là dấu hiệuđang lo ngại cho doanh nghiệp khi hoạt động trong lĩnh vực xây dựng
hay công nghiệp. Trong trường hợp đặc biệt khi NVLĐTX< 0 (nghĩa là doanh
nghiệp hình thành tài sảndài hạn băng fnguoonf vốn ngắn hạn) là dấu hiệu việc
sử dụng vốn sai, cán cân thành toán chắc chắnđã mất thăng bằng, hệ số thanh
toán nợ ngắn hạn
- Những nhân tố về mặt sản xuất: đặc điểm kỹ thuật công nghệ, mức độ
phức tạp của sản phẩm chế tạo, độ dài của chu kỳ sản xuất, trình độ tổ chức quản
lý sản xuất của doanh nghiệp…

SV: Nguyễn Thị Phương Huyền

Lớp: CQ48/11.01
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status