MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BÁO CÁO 23
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BHXH : Bảo hiểm xã hội
DN : Doanh nghiệp
SXKD : Sản xuất kinh doanh
TSCĐ : Tài sản cố định
TSLĐ : Tài sản lưu động
VLĐ : Vốn lưu động
XHCN : Xã hội chủ nghĩa
LỜI MỞ ĐẦU
Như chúng ta đã biết, tất cả các hoạt động của doanh nghiệp đều cần
phải có vốn. Vốn kinh doanh không chỉ là điều kiện tiên quyết đối với sự ra
đời của doanh nghiệp mà nó còn là một trong những yếu tố giữ vai trò quyết
định trong quá trình hoạt động và phát triển của doanh nghiệp. Trong cơ cấu
vốn của doanh nghiệp thì vốn lưu động được xem như là “ mạch máu”, là
“nhựa sống” để đảm bảo cho quá trình kinh doanh của doanh nghiệp được
diễn ra một cách thường xuyên liên tục. Thực tế cho thấy, có không ít doanh
nghiệp đã gặp rất nhiều khó khăn và phải chịu nhiều tổn thất nặng nề như: sản
xuất bị đình trệ, không thể thực hiện các hợp đồng kinh tế đã ký kết, không có
khả năng trả nợ người lao động và trả nợ nhà cung cấp khi đến hạn thanh
toán…vì lí do thiếu VLĐ. Ngược lại, có nhiều doanh nghiệp rơi vào tình trạng
thừa vốn gây ứ đọng vật tư, hàng hóa, sử dụng vốn lãng phí làm phát sinh
nhiều chi phí không hợp lý, từ đó làm hiệu quả sản xuất kinh doanh bị giảm
sút và làm giảm lời nhuận của doanh nghiệp. Chính vì thế, công tác tổ chức
quản lý và sử dụng vốn nói chung, VLĐ nói riêng luôn đóng vai trò rất quan
trọng đối với hoạt động của doanh nghiệp.
Mặt khác, trong nền kinh tế thị trường cùng với sự hội nhập sâu rộng
của nền kinh tế toàn cầu đã đem lại cho các doanh nghiệp cả những cơ hội và
thách thức mới. Để có thể tồn tại, đứng vững và lớn mạnh trên thương trường,
Hà Nội, tháng 5 năm 2012
Sinh viên
Trần Thị Hoa
2
CHƯƠNG I
NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ VỐN LƯU ĐỘNG VÀ HIỆU
QUẢ SỬ DỤNG VỐN LƯU ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP
1.1 Những vấn đê cơ bản về vốn lưu động của doanh nghiệp:
1.1.1 Khái niệm, nội dung và đặc điểm của VLĐ
* Khái niệm, nội dung:
Trong nền kinh tế thị trường, để tiến hành hoạt động sản xuất kinh
doanh, các doanh nghiệp cần phải có các yếu tố cơ bản: Sức lao động, đối
tượng lao động, và tư liệu lao động. Quá trình sản xuất kinh doanh là quá
trình kết hợp các yếu tố đó lại với nhau để tạo ra sản phẩm. Trong đó, tư liệu
lao động (như máy móc thiết bị, nhà xưởng, phương tiện vận tải…) khi tham
gia vào quá trình sản xuất kinh doanh thì không thay đổi hình thái ban đầu và
tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh; giá trị của nó được chuyển dịch từ từ
từng phần vào giá trị sản phẩm và được thu hồi từng phần sau mỗi chu kỳ
kinh doanh. Còn đối tượng lao động chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất
kinh doanh, không giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu, giá trị của nó được
dịch chuyển toàn bộ trong một lần và được hoàn lại toàn bộ sau mỗi chu kỳ
kinh doanh.
Các tư liệu lao động xét về hình thái hiện vật được gọi là các tài sản cố
định, còn xét về mặt hình thái giá trị được gọi là VCĐ của doanh nghiệp.
Các đối tượng lao động xét về mặt hình thái hiện vật được gọi là tài sản
lưu động, còn xét về mặt giá trị được gọi là VLĐ của doanh nghiệp.
Tài sản lưu động của doanh nghiệp thường được chia thành: tài sản lưu
động sản xuất và tài sản lưu động lưu thông.
Tài sản lưu động sản xuất: gồm những vật tư dự trữ để đảm bảo cho
quá trình sản xuất được liên tục như nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ,
dự trữ, vốn sản phẩm dở dang, vốn thành phẩm.
4
+ Trong doanh nghiệp thương mại, vốn về hàng tồn kho chủ yếu là giá
trị các loại hàng hóa dự trữ.
* Căn cứ vào vai trò của VLĐ đối với quá trình sản xuất kinh
doanh, VLĐ có thể chia thành các loại chủ yếu sau:
- Vốn lưu động trong khâu dự trữ sản xuất bao gồm:
+ Vốn nguyên liệu, vật liệu chính: là giá trị các loại nguyên vật liệu
chính dự trữ cho sản xuất, khi tham gia vào sản xuất, chúng hợp thành thực
thể của sản phẩm.
+ Vốn vật liệu phụ: là giá trị các loại vật liệu phụ dự trữ dùng cho sản
xuất, giúp cho việc hình thành sản phẩm, nhưng không hợp thành thực thể
chính của sản phẩm.
+ Vốn nhiên liệu: là giá trị các loại nhiên liệu dụ trữ dùng cho sản xuất
kinh doanh.
+ Vốn phụ tùng thay thế: Là giá trị các loại vật tư dùng để thay thế, sửa
chữa các TSCĐ.
+ Vốn vật đóng gói: Là giá trị các loại bao bì dùng để đóng gói sản phẩm
trong quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.
+ Vốn công cụ, dụng cụ nhỏ: Là giá trị các loại công cụ dụng cụ không
đủ tiêu chuẩn TSCĐ dùng cho hoạt động kinh doanh.
- Vốn lưu động trong khâu trức tiếp sản xuất bao gồm:
+ Vốn sản phẩm đang chế tạo: Là biểu hiện bằng tiền các chi phí sản
xuất kinh doanh đã bỏ ra cho các loại sản phẩm đang trong quá trình sản xuất
( giá trị sản phẩm dở dang, bán thành phẩm).
+ Vốn về chi phí trả trước: Là các khoản chi phí thực tế đã phát sinh
nhưng có tác dụng cho nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh như chi phí cải tiết
kỹ thuật, chi phí nghiên cứu thí nghiệm
- Vốn lưu động trong khâu lưu thông bao gồm các khoản:
+ Vốn thành phẩm: Là giá trị những sản phẩm đã được sản xuất xong,
6
1.1.3 Nguồn hình thành vốn lưu động của doanh nghiệp:
* Căn cứ vào thời gian huy động và sử dụng vốn: VLĐ được hình
thành từ hai nguồn: Nguồn VLĐ thường xuyên và nguồn VLĐ tạm thời.
+ Nguồn VLĐ thường xuyên: là nguồn ổn định có tính chất dài hạn để
hình thành TSLĐ thường xuyên cần thiết cho hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp (có thể là một phần hay toàn bộ TSLĐ thường xuyên tùy thuộc
vào chiến lược tài chính của doanh nghiệp). Nguồn vốn này có thể huy động
từ nguồn vốn chủ sở hữu, phát hành trái phiếu dài hạn hoặc có thế vay dài hạn
từ các ngân hàng thương mại hay các tổ chức tín dụng.
Tại một thời điểm:
Nguồn VLĐ
thường xuyên
=
Tổng nguồn vốn
thường xuyên của
doanh nghiệp
-
Giá trị còn lại
của TSCĐ và
TS dài hạn khác
Hoặc có thế xác định bằng công thức:
Nguồn VLĐ thường xuyên = TSLĐ – Nợ dài hạn
+ Nguồn VLĐ tạm thời: Là nguồn có tính chất ngắn hạn (dưới một năm)
doanh nghiệp sử dụng để đáp ứng các nhu cầu có tính chất tạm thời về VLĐ
phát sinh trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Nguồn vốn thường
bao gồm: vay ngắn hạn ngân hàng và các tổ chức tín dụng, các khoản nợ ngắn
hạn khác.
1.1.4 Nhu cầu VLĐ và phương pháp xác định nhu cầu VLĐ:
1.1.4.1 Nhu cầu VLĐ
nhỏ trong từng thời kỳ kinh doanh. Trong công tác quản lý VLĐ, một vấn đề
quan trọng là phải xác định được nhu cầu VLĐ cần thiết tương ứng với một
quy mô và điều kiện kinh doanh nhất định.
Nhu cầu VLĐ thường xuyên cần thiết tối thiểu là số vốn tính ra phải đủ
để đảm bảo cho quá trình tái sản xuất được tiến hành một cách liên tục nhưng
vẫn tiết kiệm một cách hợp lý.
Trong điều kiện ngày nay, khi các doanh nghiệp thực hiện tự chủ tài
8
chính thì mọi nhu cầu VLĐ các DN đều phải tự tài trợ. Do đó, việc xác định
đúng đắn và hợp lý nhu cầu VLĐ thường xuyên càng có ý nghĩa quan trọng
bởi vì:
- Nhu cầu VLĐ thường xuyên cần thiết được xác định đúng đắn, hợp lý
là cơ sở để tổ chức tốt các nguồn tài trợ.
- Đáp ứng kịp thời, đầy đủ nhu cầu VLĐ cho hoạt động kinh doanh của
DN tiến hành bình thường và liên tục.
+ Nếu doanh nghiệp xác định nhu cầu VLĐ quá cao sẽ dẫn đến tình
trạng thừa vốn, ứ đọng vật tư, vốn chậm luân chuyển, gia tăng những chi phí
không cần thiết, giảm lợi nhuận.
+ Nếu doanh nghiệp xác định nhu cầu VLĐ quá thấp sẽ gây ra nhiều khó
khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của DN, gây gián đoạn sản xuất,
thanh toán chậm, làm giảm và mất uy tín với bạn hàng.
1.1.4.2 Các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến nhu cầu vốn lưu động của DN:
Nhu cầu vốn lưu động của DN là một đại lượng không cố định và phụ
thuộc vào nhiều yếu tố. Do đó, muốn xác định đúng đắn nhu cần VLĐ, nhà
quản lý DN cần thiết phải chú ý đến các nhân tố ảnh hưởng tới nhu cần VLĐ
của DN. Các nhân tố đó bao gồm:
+ Những yếu tố về đặc điểm, tính chất của ngành nghề kinh doanh như:
Chu kỳ kinh doanh, quy mô kinh doanh. Tính chất thời vụ trong công việc
kinh doanh Các yếu tố này ảnh hưởng trực tiếp đến số VLĐ mà DN phản
ứng ra và thời gian ứng vốn.
ra từ thực tế hoạt động của các DN cùng loại trong ngành. Trên cơ sở đó xem
xét quy mô kinh doanh dự kiến theo doanh thu của DN mình để tính ra nhu
cầu VLĐ cần thiết.
Ưu điểm của phương pháp này là tính toán đơn giản, giúp DN ước tính
nhanh chóng nhu cầu VLĐ. Nó thích hợp với việc xác định nhu cầu VLĐ khi
10
thành lập DN với quy mô nhỏ. Tuy nhiên, hạn chế của phương pháp này là độ
tin cậy của kết quả tính toán chưa cao.
- Trường hợp thứ hai: Dựa vào tình hình thực tế sử dụng VLĐ ở thời
kỳ tiếp theo. Nội dung chủ yếu của phương pháp này là dựa vào mối quan hệ
giữa các yếu tố họp thành nhu cầu VLĐ gồm: Hàng tồn kho, nọ phải thu từ
khách hàng và nợ phải trả nhà cung cấp với doanh thu thuần của kỳ vừa qua
để xác định tỷ lệ chuẩn nhu cầu VLĐ tính theo doanh thu và sử dụng tỷ lệ này
để xác định nhu cầu VLĐ cho các kỳ tiếp theo.
Trình tự tiến hành của phương pháp này như sau:
* Xác định số dư bình quân các khaorn hợp thành nhu cầu VLĐ trong
năm báo cáo. Khi xác định số dư bình quân các khoản phải phân tích tình
hình để loại trừ số liệu không hợp lý.
* Xác định tỷ lệ các khoản trên so với doanh thu thuần trong năm báo
cáo. Từ đó, xác định tỷ lệ nhu cầu VLĐ so với doanh thu thuần.
* Xác định nhu cầu VLĐ cho kỳ kế hoạch.
1.2 Hiệu quả sử dụng VLĐ của DN:
1.2.1 Khái niệm:
Đặc trưng cơ bản nhất của vốn lưu động là sự luân chuyển liên tục trong
suốt quá trình sản xuất kinh doanh và chuyển toàn bộ giá trị một lần vào sản
phẩm trong chu kỳ kinh doanh. Do vậy, khi đánh giá về hiệu quả sử dụng vốn
lưu động, người ta chủ yếu đánh giá về tốc độ luân chuyển của nó. Tốc độ
luân chuyển vốn lưu động nhanh hay chậm nói lên tình hình tổ chức các mặt
như: Công tác mua sắm, dự trữ, sản xuất và tiêu thụ của doanh nghiệp hợp lý
hay không hợp lý, các khoản vật tư dự trữ sử dụng tốt hay không tốt, các
+ Mức tiết kiệm VLĐ do tăng tốc độ luân chuyển vốn:
Phản ánh số VLĐ có thể tiết kiệm được do tăng tốc độ luân chuyển VLĐ
ở kỳ so sánh (kỳ kế hoạch) so với kỳ gốc (kỳ báo cáo).
12
Công thức xác định:
VLĐ tiết kiệm = Mức luân chuyển x Bình quân ngày rút gọn
+ Hàm lượng VLĐ (còn gọi là mức đảm nhiệm VLĐ):
Công thức xác định:
Hàm lượng VLĐ =
Chỉ tiêu này phản ánh để đạt được một đồng doanh thu thuần về bán
hàng thì cần bao nhiêu đồng VLĐ. Chỉ tiêu này càng nhỏ thì hiệu quả sử dụng
VLĐ càng cao và ngược lại.
1.2.2.2 Các chỉ tiêu về khả năng thanh toán:
+ Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn:
Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn =
Hệ số này cao thể hiện khả năng sẵn sàng thanh toán các khoản nợ đến
hạn của DN ở mức độ cao và ngược lại.
+Hệ số khả năng thanh toán nhanh:
Hệ số khả năng thanh toán nhanh =
Hệ số khả năng thanh toán nhanh là thước đo về khả năng trả nợ trong
một thời gian ngắn, không dựa vào việc bán vật tư, hàng hóa.
+ Hệ số khả năng thanh toán tức thời:
Hệ số thanh toán tức thời =
Hệ số khả năng thanh toán tức thời phản ánh khả năng thanh toán ngay
các khoản nợ bằng tiền và chứng khoán ngắn hạn có thể chuyển đồi thành
tiền.
1.2.2.3 Các chỉ tiêu hệ suất hoạt động, hiệu quả hoạt động:
+ Số vòng quay HTK: Phản ánh số lần mà hàng tồn kho bình quân luân
chuyển trong kỳ.
Số vòng quay HTK =
nhỏ đến hoạt động kinh doanh của DN và tất yếu vốn của DN cũng bị ảnh
hưởng.
- Thị trường và khả năng tiêu thụ sản phẩm: Đây là một trong những
14
nhân tố có ảnh hưởng rất lớn tới hiệu quả sử dụng VLĐ và nó càng có ý nghĩa
hơn trong điều kiện nên kinh tế thị trường hiện nay. VLĐ chỉ hoàn thành một
vòng luân chuyển khi sản phẩm hàng hóa đã được tiêu thụ, DN thu được tiền
hàng. Khi thị trường đầu vào ổn định, thị trường tiêu thụ sản phẩm rộng lớn thì
công tác lập kế hoạch và sử dụng vốn của DN phát huy hiệu quả và ngược lại.
* Chủ quan:
- Việc lựa chọn phương án đầu tư: Nếu DN thực hiện một phương án khả
thi, sản phẩm sản xuất ra phù hợp với nhu cầu thị trường, giá cả hợp lý, chất
lượng cao, giá thành hạ, sản phẩm hàng hóa của DN tiêu thụ nhanh, từ đó làm
tăng vòng quay VLĐ. Ngược lại, VLĐ sẽ bị ứ đọng, hiệu quả sử dụng vốn
thấp.
- Việc xác định nhu cầu VLĐ: do công tác xác định VLĐ chưa chính xác
dẫn đến tình trạng thừa hoặc thiếu vốn trong SXKD ảnh hưởng không tốt tới
qua trình SXKD cũng như hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh, VLĐ của DN.
- Việc tổ chức huy động vốn: Sau khi xác định nhu cầu VLĐ cần thiết
cho hoạt động của DN trong kỳ. Tiếp theo, phải tổ chức huy động các nguồn
vốn đáp ứng kịp thời, đầy đủ và có lợi cho các hoạt động của DN. Nếu DN
lựa chọn được hình thức và phương pháp huy động thích hợp dựa trên những
tiêu chí về kết cấu nguồn vốn, chi phí sử dụng mỗi nguồn thì hiệu quả sử
dụng vốn của DN sẽ được nâng lên và ngược lại.
- Trình độ quản lý: VLĐ của DN trong cùng một lúc được phân bổ trên
khắp các giai đoạn chu chuyển của nó. Nến nếu trình độ quản lý DN yếu kém,
lỏng lẻo sẽ dẫn đến việc thất thoát VLĐ ở các khâu làm vốn thâm hụt, tất yếu
sẽ ảnh hưởng tới hiệu quả sử dụng vốn.
1.2.4 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng VLĐ tại DN.
- Thứ nhất, xuất phát từ mục đích kinh doanh của DN:
Trong nề kinh tế thị trường, các DN phải tự chủ và tự chịu trách nhiệm
về hoạt động kinh doanh của mình. Bên cạnh đó, với xu thế hội nhập kinh tế
quốc tế đã đặt DN trong một môi trường cạnh tranh khốc liệt. Chính những
16
điều này, bắt buộc DN luôn phải nỗ lực hết mình thì mới có thể tồn tại và phát
triển. Sự thành công hay thất bại của DN một phần lớn được quyết định bởi
chính sách tài trợ vốn, sử dụng vốn của DN trong đó phải kể đến VLĐ.
- Thứ năm, xuất phát từ thực tế hiệu quả sử dụng VLĐ tại các DN hiện
nay:
+ Trong thực tế hiện nay, tình hình sử dụng VLĐ trong DN còn nhiều
bất cập, lượng vật tư tồn đọng hàng hóa kém phẩm chất gây khó khăn cho tiêu
thụ còn cao, sử dụng VLĐ lãng phí, không hiệu quả, vốn bị thất thoát, tình
trạng thiếu VLĐ tại các DN hiện nay khá phổ biến.
1.2.5 Một số biện pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng
VLĐ trong DN:
- Thực hiện tốt việc lựa chọn các phương án dự án đầu tư.
- Xác định nhu cầu VLĐ thường xuyên cần thiết cho hoạt động SXKD,
từ đó đưa ra kế hoạch tổ chức huy động VLĐ một cách hợp lý phù hợp vơi
nhu cầu VLĐ đã tính toán.
- Thực hiện tốt công tác quản lý vốn bằng tiền: DN phải xây dựng cho
mình kế hoạch tài chính nhằm đáp ứng kịp thời khả năng thanh toán tại mọi
thời điểm, xây dựng kế hoạch ngân quỹ, phân định rõ trách nhiệm trong việc
quản lý tiền mặt giữa thủ quỹ và nhân viên kế toán tiền mặt để hạn chế tiêu
cực, tránh thất thoát, xác định nhu cầu tiền và tìm các khoản tài trợ hoặc sẽ
đầu tư các khoản tiền nhàn rỗi.
- Quản lý tốt các hoạt động thanh toán và công nợ: Trước tiên, đối với
các khoản phải thu, DN phải xây dựng chính sách tín dụng thương mại hợp lý
và mức độ nợ phải thu của DN, xác minh uy tín tín dụng trước khi cấp tín
dụng thương mại cho khách hàng, lập bảng phân tuổi các khản nợ phải thu
của khách hàng một cách chi tiết và có hệ thống để có những biện pháp cần
Công ty được thành lập để huy động vốn và sử dụng vốn có hiệu quả
trong việc phát triển sản xuất kinh doanh về xuất nhập khẩu, đầu tư bất động
sản và các lĩnh vực khác nhằm mục tiêu lợi nhuận tối đa, tạo công ăn việc làm
cho người lao động đóng góp cho ngân sách Nhà nước, phát triển Công ty
ngày càng lớn mạnh. Hiện nay, Công ty là đơn vị kinh tế vừa và đang làm ăn
có hiệu quả kinh tế cao.
Công ty hiện nay có 146 cán bộ công nhân viên , trong đó có 25 người
thuộc bộ phận quản lý, 121 người thuộc lao động trực tiếp.
Chi nhánh công ty trách nhiệm hữu hạn thương mại và đầu tư KIM
HAN NAM tại Hà Nội gồm 6 phòng ban : Phòng Tài vụ - Kế toán, phòng
Kế hoạch - Vật tư, phòng Tổ chức - hành chính, phòng KCS, phòng Kỹ thuật.
19
- Chức năng nhiệm vụ của Công ty
Mục đích chính của Công ty là : Thương mại và xuất nhập khẩu các
chủng loại sản phẩm, chất lượng sản phẩm cao và phù hợp với nhu cầu tiêu
dùng của xã hội góp phần phát triển kinh tế xã hội. Công ty chủ yếu chú trọng
vào mặt hàng may mặc và nguyên phụ liệu cho may mặc.
Công ty không những phải nâng cao công tác nghiên cứu khoa học, thực
hiện các biện pháp nhằm tăng sản phẩm, chất lượng cao và thực hiện tốt chính
sách cán bộ, quy định quản lý tài chính, tài sản, chế độ lao động tiền lương,
đảm bảo công bằng xã hội trong phân phối theo lao động, làm tốt công tác
bảo hộ lao động, trật tự xã hội, bảo vệ tài sản XHCN, bảo vệ an ninh và làm
tròn nghĩa vụ quốc phòng. Thêm vào đó, Công ty phải không ngừng đào tạo,
nâng cao trình độ văn hóa, nghiệp vụ tay nghề cho cán bộ công nhân viên
trong Công ty.
2.1.2 Tổ chức bộ máy của công.
2.1.2.1 - Bộ máy chi nhánh công ty trách nhiệm hữu hạn thương
mại và đầu tư KIM HAN NAM tại Hà Nội
* Hội đồng quản trị do đại hội đồng cổ đông bầu ra, là cơ quan chịu
trách nhiệm điều hành và quản lý Công ty giữa hai kỳ đại hội.
doanh với nhiệm vụ: Tổ chức, thực hiện, kiểm tra toàn bộ thông tin kinh tế
của các bộ phận trong Công ty . Thực hiện đầy đủ chế độ hạch toán và chế độ
quản lý kinh tế tài chính của Công ty.
a- Sơ đồ bộ máy kế toán của Công ty
21
KẾ TOÁN TRƯỞNG
(phụ trách chung)
KẾ TOÁN TỔNG HỢP
BỘ PHẬN KẾ TOÁN
TSCĐ VÀ TÍNH GIÁ
THÀNH CÔNG NỢ
BỘ PHẬN KẾ TOÁN
-THANH TOÁN NGÂN
HÀNG
-TIÊU THỤ
BỘ PHẬN KẾ TOÁN
TIỀN LƯƠNG , VẬT TƯ,
BHXH
THỦ QUỸ
b- Đặc điểm bộ máy kế toán ở công ty
Hiện nay, Công ty tổ chức bộ máy kế toán theo hình thức tập trung.
ϖ Phòng Kế toán - tài vụ của Công ty gồm có 5 cán bộ có trình độ
chuyên môn cao. Trong đó 3 cán bộ có trình độ Đại học và 2 cán bộ có trình
độ Trung cấp.
ϖ Chức năng :
+ Kế toán trưởng : Phụ trách các bộ phận dưới quyền, theo dõi tình
hình tài chính của Công ty, chịu trách nhiệm trước Giám đốc và cấp trên về
công tác hạch toán kế toán và các chỉ tiêu tài chính của Công ty.
+ Phó phòng kế toán : Phụ trách mảng kế toán TSCĐ, tổng hợp và tính
giá thành sản phẩm , kế toán công nợ.
BẢNG PHÂN BỔ
BẢNG KÊ
NKCT
SỔ CÁI