Luận văn tốt nghiệp: Vốn kinh doanh và các giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường quản trị vốn kinh doanh tại Công ty cổ phần Tổng công ty công trình đường sắt - Pdf 27

LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng em dưới sự
hướng dẫn của giáo viên Th.s Lưu Hữu Đức. Các số liệu, kết quả nêu trong
luận văn này là trung thực, xuất phát từ tình hình thực tế của đơn vị thực tập.
Tác giả luận văn
Trần Thị Ngọc Mai
i
MỤC LỤC
1.1.2.1. Dựa vào quan hệ sở hữu vốn 7
* Vốn chủ sở hữu: là phần vốn thuộc quyền sở hữu của chủ doanh nghiệp, bao
gồm số vốn chủ sở hữu bỏ ra và phần vốn bổ sung từ kết quả hoạt động kinh doanh.
Vốn chủ sở hữu tại một thời điểm có thể được xác định như sau: 7
1.1.2.2. Dựa vào thời gian huy động và sử dụng vốn 8
1.1.2.3. Dựa vào phạm vi huy động vốn 10
2.2.3.1. Những thành tích đạt được 70
Huy động vốn đầy đủ và kịp thời phục vụ sản xuất kinh doanh 82
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 86
ii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Ký hiệu Chữ viết tắt
BCTC Báo cáo tài chính
CP Cổ phần
DN Doanh nghiệp
DTT Doanh thu thuần
HĐKD Hoạt động kinh doanh
HTK Hàng tồn kho
LN Lợi nhuận
LNST Lợi nhuận sau thuế
TNHH MTV Trách nhiệm hữu hạn một thành viên
SXKD Sản xuất kinh doanh
TSCĐ Tài sản cố định

cách để tăng cường nguồn vốn cũng ngày càng trở nên quyết liệt.
Doanh nghiệp nào khi tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh thì
hiệu quả sản xuất kinh doanh là điều kiện cần thiết để quyết định sự sống còn
của doanh nghiệp. Do đó việc bảo toàn và sử dụng vốn của doanh nghiệp một
cách hiệu quả được coi là vấn đề cấp thiết, mối quan tâm hàng đầu của các nhà
quản lý doanh nghiệp. Hiểu và vận dụng đúng ý nghĩa của nó các doanh nghiệp
sẽ có hướng đi đúng đắn và đưa ra các quyết định mang lại hiệu quả cao.
 Về góc độ thực tiễn.
Trong quá trình thực tập tại Công ty Cổ phần Tổng công ty Công trình
đường sắt, em nhận thấy được sự yếu kém trong việc sử dụng vốn kinh doanh
của công ty. Hiện nay, công ty đang gặp một số hạn chế trong quá trình quản
lý và sử dụng vốn kinh doanh như: các khoản phải thu còn khá nhiều, vốn
bằng tiền trong công ty còn chiếm tỷ trọng lớn, công ty chưa sử dụng hết công
suất TSCĐ, chưa chú trọng vào việc đầu tư mua sắm và nâng cấp
TSCĐ….điều này đã làm giảm đáng kể năng suất lao động và hiệu quả sử
dụng vốn của Công ty. Vì vậy, công tác phân tích hiệu quả sử dụng vốn kinh
SV : Trần Thị Ngọc Mai Lớp : CQ48/11.15
1
doanh đang được đặt ra cấp thiết đối với công ty. Chú trọng đúng mực đến
công tác phân tích hiệu quả sử dụng vốn giúp công ty quản lý và sử dụng vốn
một cách hiệu quả, vượt qua thời kỳ kinh tế khó khăn. Đây chính là lý do em
lựa chọn nghiên cứu đề tài “Vốn kinh doanh và các giải pháp chủ yếu nhằm
tăng cường quản trị vốn kinh doanh tại Công ty cổ phần Tổng công ty công
trình đường sắt ”
2. Mục tiêu nghiên cứu.
Đề tài : “Vốn kinh doanh và các giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường quản
trị vốn kinh doanh tại Công ty cổ phần Tổng công ty công trình đường sắt” tập
trung nghiên cứu vào các mục tiêu sau:
- Phân tích tình trạng biến động của vốn kinh doanh tại Công ty Cổ phần
Tổng công ty Công trình đường sắt.

luận văn này được hoàn thiện hơn nữa.
Em xin chân thành gửi lời cảm ơn sâu sắc đến thầy giáo hướng dẫn –
ThS. Lưu Hữu Đức đã nhiệt tình hướng dẫn, tạo điều kiện để em hoàn thành
luận văn tốt nghiệp của mình.
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ VỐN KINH DOANH
SV : Trần Thị Ngọc Mai Lớp : CQ48/11.15
3
VÀ QUẢN TRỊ VỐN KINH DOANH CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN
TỔNG CÔNG TY CÔNG TRÌNH ĐƯỜNG SẮT
1.1. Vốn kinh doanh và nguồn vốn kinh doanh của DN
1.1.1. Khái niệm và đặc trưng của vốn kinh doanh
Trong nền kinh tế thị trường, để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh
doanh, các doanh nghiệp đều phải có các yếu tố cơ bản là : tư liệu lao động,
đối tượng lao động và sức lao động. Trong điều kiện nền kinh tế thị trường,
để có được các yếu tố đó, các doanh nghiệp phải bỏ ra một số vốn tiền tệ nhất
định, phù hợp với quy mô và điều kiện kinh doanh của doanh nghiệp. Số vốn
tiền tệ ứng trước để đầu tư mua sắm , hình thành các tài sản cần thiết cho hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được gọi là vốn kinh doanh của
doanh nghiệp.
Như vậy, Vốn kinh doanh của doanh nghiệp là toàn bộ số tiền ứng trước
mà doanh nghiệp bỏ ra để đầu tư hình thành các tài sản cần thiết cho hoạt
động sản xuất của các doanh nghiệp.
Nói cách khác, đó là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ giá trị các tài sản mà
doanh nghiệp đã đầu tư và sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm
mục đích thu lợi nhuận.
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, vốn kinh doanh của doanh nghiệp
không ngừng vận động, chuyển đổi hình thái biểu hiện. Từ hình thái vốn
tiền tệ ban đầu sang hình thái vốn vật tư, hàng hóa và cuối cùng lại trở về
hình thái vốn tiền tệ . Quá trình này được diễn ra liên tục, thường xuyên lặp

điểm cơ bản của vốn cố định là :
 Tốc độ luân chuyển chậm : Xuất phát từ đặc điểm của TSCĐ là được sử
dụng lâu dài, sau nhiều năm mới cần thay thế đổi mới. Nên VCĐ tham gia vào
SV : Trần Thị Ngọc Mai Lớp : CQ48/11.15
5
nhiều chu kì kinh doanh của doanh nghiệp dẫn đến VCĐ luân chuyển chậm.
 Giá trị được chuyển dịch dần từng phần vào giá trị sản phẩm trong
mỗi chu kỳ kinh doanh : Trong quá trình sản xuất kinh doanh, VCĐ được
luân chuyển từng phần vào giá trị sản phẩm. Phần giá trị luân chuyển này của
VCĐ được phản ánh dưới hình thức chi phí khấu hao TSCĐ, tương ứng với
phần giá trị hao mòn TSCĐ của doanh nghiệp.
 Sau nhiều năm mới hoàn thành một vòng tuần hoàn, chu chuyển :
Sau mỗi chu kỳ kinh doanh, phần vốn cố định đã luân chuyển tích lũy lại sẽ
tăng dần lên, còn phần vốn cố định đầu tư ban đầu vào TSCĐ của doanh
nghiệp sẽ lại giảm dần xuống theo mức độ hao mòn. Cho đến khi TSCĐ của
doanh nghiệp hết thời hạn sử dụng, giá trị của nó được thu hồi hết dưới hình
thức khấu hao tính vào giá trị sản phẩm thì vốn cố định cũng hoàn thành một
vòng luân chuyển.
Những đặc điểm luân chuyển trên đây của VCĐ không chỉ chi phối đến
nội dung, biện pháp quản lý sử dụng vốn cố định, mà còn đòi hỏi việc quản
lý, sử dụng vốn cố định phải luôn gắn liền với việc quản lý, sử dụng TSCĐ
của doanh nghiệp.
1.1.2.2 Vốn lưu động
 Khái niệm
Để tiến hành sản xuất kinh doanh, ngoài TSCĐ các doanh nghiệp còn
cần có các TSLĐ. TSLĐ bao gồm nguyên nhiên vật liệu dự trữ sản xuất, sản
phẩm dở dang, bán thành phẩm, thành phẩm chờ tiêu thụ, các khoản thu, vốn
bằng tiền, vốn trong thanh toán. Để hình thành các TSLĐ, doanh nghiệp phải
ứng ra một số vốn tiền tệ nhất định để mua sắm các tài sản đó, số vốn này
được gọi là VLĐ của doanh nghiệp.

SV : Trần Thị Ngọc Mai Lớp : CQ48/11.15
7
bao gồm số vốn chủ sở hữu bỏ ra và phần vốn bổ sung từ kết quả hoạt động kinh
doanh. Vốn chủ sở hữu tại một thời điểm có thể được xác định như sau:
Vốn chủ sở hữu = Tổng giá trị Tài sản – Nợ phải trả
Nguồn VCSH là một nguồn vốn quan trọng và có tính ổn định cao, thể hiện
quyền tự chủ về tài chính của DN. Tỷ trọng của nguồn vốn này trong cơ cấu
nguồn vốn càng lớn, sự độc lập về tài chính của DN càng cao và ngược lại.
* Nợ phải trả của doanh nghiệp: là thể hiện bằng tiền những nghĩa vụ
mà doanh nghiệp có trách nhiệm phải thanh toán cho các tác nhân kinh tế khác
như: Nợ vay, các khoản phải trả cho người bán, trả cho Nhà nước, cho người
lao động trong doanh nghiệp… Nợ phải trả có đặc điểm là có thời gian đáo
hạn, có tiền lãi cố định và chủ nợ không có quyền tham gia quản lý DN.
Để đảm bảo cho HĐKD đạt hiệu quả cao, thông thường một DN phải phối
hợp cả hai nguồn: VCSH và nợ phải trả. Sự kết hợp hai nguồn này phụ thuộc vào
đặc điểm ngành mà DN đang hoạt động, tùy thuộc vào quyết định của người quản
lý trên cơ sở xem xét tình hình kinh doanh và tài chính của DN. Cách phân loại
này giúp cho nhà quản lý xác định mức độ an toàn trong công tác huy động vốn
để đảm bảo hoạt động SXKD bình thường và an toàn về mặt tài chính.
1.1.2.2. Dựa vào thời gian huy động và sử dụng vốn
1.1.2.2.1. Nguồn vốn tạm thời
Nguồn vốn tạm thời là các nguồn vốn có tính chất ngắn hạn (dưới một năm)
doanh nghiệp có thể sử dụng để đáp ứng các yêu cầu có tính chất tạm thời phát sinh
trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Nguồn vốn thường bao gồm vay
ngắn hạn ngân hàng và các tổ chức tín dụng, các khoản nợ ngắn hạn khác.
SV : Trần Thị Ngọc Mai Lớp : CQ48/11.15
8
1.1.2.2.2. Nguồn vốn thường xuyên
Nguồn vốn thường xuyên là tổng thể các nguồn vốn có tính chất ổn định
mà doanh nghiệp có thể sử dụng vào hoạt động kinh doanh. Nguồn vốn này

=
Tổng nguồn vốn thường xuyên
của doanh nghiệp

Tài sản
dài hạn
Hoặc
Nguồn vốn lưu động
thường xuyên
=
Tài sản
ngắn hạn
– Nợ ngắn hạn
Việc phân loại này giúp cho người quản lý xem xét huy động các
nguồn vốn phù hợp với thời gian sử dụng của các yếu tố cần thiết cho quá
trình kinh doanh.
1.1.2.3. Dựa vào phạm vi huy động vốn
Căn cứ vào phạm vi huy động các nguồn vốn của doanh nghiệp có thể
chia thành nguồn vốn bên trong và nguồn vốn bên ngoài.
* Nguồn vốn bên trong: Là nguồn mà doanh nghiệp có thể huy động
được vào đầu tư từ chính hoạt động của bản thân doanh nghiệp tạo ra. Nguồn
vốn bên trong giúp cho DN phát huy được tính tự chủ trong việc sử dụng vốn
đồng thời thể hiện khả năng tự tài trợ của mình, bao gồm: Lợi nhuận giữ lại
để tái đầu tư. Đây là nguồn tăng thêm tài sản và nguồn vốn của công ty.
Khi sử dụng nguồn vốn bên trong có những điểm lợi và bất lợi chủ yếu sau :
+ Những điểm lợi :
- Chủ động đáp ứng nhu cầu vốn của doanh nghiệp, nắm bắt kịp các thời
cơ trong kinh doanh.
Nếu hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là tương đối ổn định, các
doanh nghiệp có thể dự đoán một cách khá chính xác quy mô lợi nhuận có thể

xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Đây là nguồn tài chính hết sức quan trọng
giúp tăng thêm nguồn VKD cho DN.
SV : Trần Thị Ngọc Mai Lớp : CQ48/11.15
11
Với cách phân loại này giúp DN có sự lựa chọn khi huy động vốn sao cho
cơ cấu vốn tối ưu hay cơ cấu vốn có chi phí thấp nhất và mang lại hiệu quả cao
nhất. Nguồn vốn bên trong là rất quan trọng nhưng thường không đáp ứng đủ
nhu cầu sử dụng vốn của DN đòi hỏi DN cần phải tìm kiếm nguồn vốn từ bên
ngoài. Tuỳ từng loại hình DN kinh doanh trong các ngành nghề khác nhau mà có
các cách kết hợp các nguồn tài trợ khác nhau. Từ đó đề ra các giải pháp chủ
động trong việc khai thác các nguồn vốn khác nhau để đáp ứng cho nhu cầu
SXKD của DN được diễn ra một cách thường xuyên, liên tục.
1.2. Quản trị vốn kinh doanh của doanh nghiệp
1.2.1. Khái niệm và mục tiêu quản trị vốn kinh doanh
Quản trị vốn kinh doanh là tiến trình hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và
kiểm soát những hoạt động liên quan đến tạo lập, quản lý và sử dụng vốn kinh
doanh của doanh nghiệp nhằm đạt được mục tiêu doanh nghiệp đã đề ra trong
từng thời kì nhất định.
Trong nền kinh tế thị trường các doanh nghiệp muốn thành công trong
việc SXKD không xuất phát từ ý muốn chủ quan của doanh nghiệp hay từ
mệnh lệnh thị trường mà xuất phát từ nhu cầu thị trường, từ quan hệ cung cầu
và lợi ích của doanh nghiệp. Do vậy đối với mỗi doanh nghiệp, việc quản trị
hiệu quả các khâu tạo lập, quản lý và sử dụng VKD càng thể hiện tầm quan
trọng. Bởi lẽ, vốn là yếu tố cần thiết đối với bất kì doanh nghiệp nào trong
suốt quá trình sản xuất kinh doanh nên việc tổ chức huy động vốn có hiệu
quả, tổ chức khai thác triệt để các nguồn vốn bên trong đáp ứng đầy đủ nhu
cầu của doanh nghiệp và giảm thiểu chi phí sử dụng vốn là vấn đề hết sức
quan trọng . Tuy nhiên, đối với bất cứ doanh nghiệp nào, có vốn chỉ là điểu
kiện cần nhưng chưa đủ. Khi đã huy động được vốn, doanh nghiệp cần phải
hết sức quan tâm đến vấn đề quản lý và sử dụng nguồn vốn đó. Nhìn từ thực

phải
thu
-
Nợ phải trả nhà
cung cấp
Trong đó, nhu cầu vốn tồn kho là số vốn tối thiểu cần thiết dung đề dự
trữ nguyên nhiên vật liệu, sản phẩm dở dang, bán thành phẩm, thành phẩm
của doanh nghiệp.
SV : Trần Thị Ngọc Mai Lớp : CQ48/11.15
13
Nhu cầu vốn lưu động của DN chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố như quy
mô kinh doanh của DN, đặc điểm, tính chất ngành nghề kinh doanh, sự biến
động của giá cả vật tư hàng hóa trên thị trường, trình độ tổ chức, quản lý sử dụng
vốn lưu động của doanh nghiệp, trình độ kỹ thuật – công nghệ sản xuất, các
chính sách của doanh nghiệp trong tiệu thụ sản phẩm hàng hóa dịch vụ…
Để xác định nhu cầu vốn lưu động của DN có thể sử dụng 2 phương
pháp trực tiếp hoặc gián tiếp.
a. Phương pháp trực tiếp :
Nội dung của phương pháp này là xác định trực tiếp nhu cầu vốn cho
hàng tồn kho, các khoản phải thu, khoản phải trả nhà cung cấp rồi tập hợp lại
thành tổng nhu cầu vốn lưu động của dn.
+ Xác định nhu cầu vốn hàng tồn kho :
- Nhu cầu vốn lưu động trong khâu dự trữ sản xuất : Bao gồm nhu cầu
vốn dự trữ nguyên vât liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế…
Đối với từng loại vật tư, hàng hóa tồn kho cần căn cứ vào tình hình sử
dụng thực tế và thời gian cần thiết dự trữ để xác định mức chi phí sử dụng
bình quân một ngày và số ngày dự trữ hợp lý.
Đối với loại nguyên vật liệu chính có thể xác định theo công thức :
V
nvlc

n
x CK
sx
x H
sd
Trong đó :
V
sx
: Nhu cầu vốn lưu động sản xuất
P
n
: Chi phí sản xuất bình quân 1 ngày
CK
sx
: Độ dài chu kỳ sản xuất (ngày)
H
sd
: hệ số sản phẩm dở dang, bán thành phẩm (%)
Chi phí trả trước là những chi phí đã phát sinh nhưng chưa phân bổ hết vào
giá thành sản phẩm sản xuất trong kỳ mà còn phân bổ cho các kỳ tiếp theo.
Công thức tính nhu cầu chi phí trả trước như sau :
V
tt
= P
đk
+ P
ps
+ P
pb
Trong đó : V

: Giá thành sản xuất sản phẩm bình quân 1 ngày kỳ kế
hoạch
N
tp
: Số ngày dự trữ thành phẩm
+ Xác định nhu cầu vốn nợ phải thu : Nợ phải thu là khoản vốn bị
khách hàng chiếm dụng hoặc do doanh nghiệp chủ động bán chịu hàng
hóa cho khách hàng. Do vốn đã bị khách hàng chiếm dụng nên để hoạt
động sản xuất kinh doanh được bình thường, doanh nghiệp phải bỏ thêm
vốn lưu động vào sản xuất. Công thức tính khoản phải thu như sau :
V
pt
= D
tn
x N
pt
Trong đó : V
pt
: Vốn nợ phải thu
D
tn
: Doanh thu bán hàng bình quân 1 ngày
N
pt
: Kỳ thu tiền trung bình ( ngày )
+ Xác định nhu cầu vốn nợ phải trả nhà cung cấp : Nợ phải trả là
khoản vốn doanh nghiệp mua chịu hàng hóa hay chiếm dụng của khách
hàng. Các khoản nợ phải trả được coi như khoản tín dụng bổ sung từ
khách hàng nên doanh nghiệp có thể rút bớt ra khỏi kinh doanh môt
phần vốn lưu động của mình để dung vào việc khác.

doanh thu thực hiện năm báo cáo để xác định nhu cầu VLĐ của DN
năm kế hoạch.
+ Phương pháp điều chỉnh theo tỷ lệ phần trăm nhu cầu VLĐ so với
năm báo cáo : Thực chất phương pháp này là dựa vào thực tế nhu cầu
VLĐ năm báo cáo và điều chỉnh nhu cầu theo quy mô kinh doanh và
tốc độ luân chuyển VLĐ năm kế hoach.
Công thức tính : V
KH
=
V
BC
x
BC
KH
M
M
x (1 + t%)
t% =
bc
bckh
K
KK

x 100%
Trong đó : V
KH
: Vốn lưu động năm kế hoạch
M
KH
: Mức luân chuyển VLĐ năm kế hoạch

này dựa vào sự biến động theo tỷ lệ trên doanh thu của các yếu tố cấu thành
VLĐ của doanh nghiệp năm báo cáo để xác định nhu cầu vốn lưu động theo
doanh thu năm kế hoạch.
 Quản trị vốn tồn kho dự trữ
Tồn kho dự trữ là những tài sản mà doanh nghiệp dự trữ đưa vào sản
xuất hoặc bán ra sau này. Căn cứ vào vai trò của chúng ,tồn kho dự trữ được
chia thành các loại khác nhau và mỗi loại đóng vai trò khác nhau trong quá
trình SXKD, giúp cho quá trình SXKD diễn ra liên tục và ổn định.
Vốn tồn kho dự trữ chiếm tỷ trọng lớn trong tổng VLĐ của DN. Tuy
nhiên không hoàn toàn vì vậy mà DN cần phải quản lý tốt vốn tồn kho dự trữ,
mà quan trọng hơn là vì mục đích giúp doanh nghiệp tránh tình trạng ứ đọng
vật tư, hàng hóa… góp phần đẩy nhanh tốc độ chu chuyển VLĐ.
Qui mô vốn tồn kho dự trữ chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi mức tồn kho dự
trữ của doanh nghiệp. Tuy nhiên từng loại tồn kho dự trữ lại có các nhân tố
ảnh hưởng khác nhau. Nhận thức rõ các nhân tố ảnh hưởng sẽ giúp cho doanh
nghiệp có biện pháp quản lý phù hợp nhằm duy trì lượng tồn kho dự trữ hợp
lý nhất.
 Quản lý vốn bằng tiền:
Vốn bằng tiền là loại tài sản có tính thanh khoản cao nhất và quyết định
khả năng thanh toán nhanh của một DN. Yêu cầu cơ bản của quản trị vốn
bằng tiền là phải đảm bảo cho DN sự an toàn tuyệt đối, đem lại khả năng sinh
SV : Trần Thị Ngọc Mai Lớp : CQ48/11.15
18
lời cao nhưng cũng phải đáp ứng kịp thời nhu cầu thanh toán bằng tiền mặt
của doanh nghiệp.
Quản trị vốn bằng tiền gồm các nội dung chủ yếu:
- Xác định đúng đắn mức dự trữ tiền mặt hợp lý, tối thiểu để đáp ứng
các nhu cầu chi tiêu bằng tiền mặt của doanh nghiệp trong kỳ
- Quản lý chặt chẽ thu chi tiền mặt
- Chủ động lập và thực hiện kế hoạch lưu chuyển tiền tệ hàng năm, có

Về mặt kinh tế, bất kì hình thức hao mòn nào đều mang lại sự tổn thất
giá trị TSCĐ cho doanh nghiệp. Vì vậy cần thiết phải có những biện pháp
giúp cho doanh nghiệp bù đắp các hao mòn TSCĐ và hạn chế, giảm thiểu tối
đa những tổn thất gây ra do hao mòn TSCĐ
 Khấu hao TSCĐ của doanh nghiệp
Khấu hao TSCĐ là việc phân bổ một cách có hệ thống giá trị phải thu hồi
của TSCĐ vào chi phí SXKD trong suốt thời gian sử dụng hữu ích của TSCĐ.
Mục đích của khấu hao là bù đắp các hao mòn TSCĐ và thu hồi số
VCĐ đã đầu tư ban đầu để tái sản xuất giản đơn hoặc mở rộng TSCĐ.
Về nguyên tắc, việc khấu hao phải đảm bảo phù hợp với mức độ hao
mòn của TSCĐ và thu hồi đầy đủ số VCĐ đầu tư ban đầu vào TSCĐ. Điều
này không chỉ đảm bảo tính chính xác của chi phí khấu hao trong giá thành
sản phẩm, đánh giá đúng hiệu quả SXKD của doanh nghiệp, mà còn góp phần
bảo toàn được VCĐ, đáp ứng yêu cầu thay thế đổi mới hoặc nâng cấp TSCĐ
của doanh nghiệp.
Tùy thuộc vào đặc điểm của mỗi doanh nghiệp mà mỗi doanh nghiệp
lựa chọn cho mình những phương pháp khấu hao khác nhau với những ưu
nhược điểm và điều kiện áp dụng riêng. Xác định đúng đắn phương pháp
khấu hao TSCĐ sẽ mang lại cho doanh nghiệp thuận lợi trong quá trình
SXKD của mình. Thông thường có các phương pháp chủ yếu như sau :
- Phương pháp khấu hao đường thẳng :
Đây là phương pháp được sử dụng phổ biến để tính khấu hao TSCĐ
trong doanh nghiệp. Theo phương pháp này, mức khấu hao và tỉ lệ khấu
hao được tính bình quân trong suốt thời gian sử dụng hữu ích của doanh
SV : Trần Thị Ngọc Mai Lớp : CQ48/11.15
20
nghiệp. Công thức xác định như sau :
M
KH
=

KHđ
: tỷ lệ khấu hao nhanh
Tỷ lệ khấu hao nhanh được xác định bằng cách lấy tỷ lệ khấu hao bình
quân nhân với hệ số điều chỉnh khấu hao( hệ số điều chỉnh thường là 1,5
với các TSCĐ có thời hạn nhỏ hơn 4 năm; là 2,0 nếu TSCĐ có thời hạn
sử dụng từ 4-6 năm; là 2,5 với TSCĐ có thời hạn sử dụng trên 6 năm)
+ Phương pháp khấu hao theo tổng số thứ tự năm sử dụng : Theo
phương pháp này mức khấu hao hàng năm được xác định bằng cách lấy
nguyên giá TSCĐ cần tính khâu hao nhân với tỷ lệ khấu hao từng năm.
Công thức tính như sau:
M
KHt
= NG
KH
x T
KHt
Trong đó: M
KHt
: mức khấu hao TSCĐ ở năm t
NG
KH
: nguyên giá TSCĐ cần tính khấu hao
T
KHt
: tỷ lệ khấu hao năm t
- Phương pháp khấu hao theo sản lượng: Theo phương pháp này
mức khấu hao hàng năm được xác định bằng cách lấy sản lượng dự
kiến sản xuất hàng năm nhân với mức trích khấu hao tính cho một
SV : Trần Thị Ngọc Mai Lớp : CQ48/11.15
21


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status