1
Luận văn tốt nghiệp
Học viện tài chính
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực, xuất phát từ tình hình
thực tế của công ty cổ phần đầu tư và thương mại Hòa An.
Tác giả luận văn
Hoàng Khắc Hưng
SV:Hoàng Khắc Hưng
1
1
Lớp: CQ48/11.09
Luận văn tốt nghiệp
Học viện tài chính
Luận văn tốt nghiệp
Học viện tài chính
VCĐ
Vốn cố định
VCSH
Vốn chủ sở hữu
Luận văn tốt nghiệp
Học viện tài chính
Luận văn tốt nghiệp
Học viện tài chính
DANH MỤC CÁC BẢNG
Luận văn tốt nghiệp
Học viện tài chính
LỜI MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của đề tài
Trong nền kinh tế hiện nay, nhu cầu về vốn cho nền kinh tế nói chung và
cho doanh nghiệp là nhu cầu mang tính cấp thiết đối với mỗi doanh nghiệp.
Nếu một doanh nghiệp không có đủ nguồn vốn để hoạt động sẽ gặp rất nhiều
Nghiên cứu các giải pháp góp phần nâng cao công tác quản trị vốn kinh
doanh tại công ty cổ phần đầu tư và thương mại Hòa An.
b. Phạm vi nghiên cứu
Công ty cổ phần đầu tư và thương mại Hòa An và sử dụng số liệu, chỉ số
trung bình của ngành may mặc; thời gian chủ yếu trong các năm 2012 – 2013.
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp phân tích như: tổng hợp, logic, diễn
giải.
5. Kết cấu của chuyên đề
Ngoài phần mở đầu và kết luận, kết cấu của chuyên đề gồm 3 chương:
Chương 1: Vốn kinh doanh và quản trị vốn kinh doanh
Chương 2: thực trạng quản trị vốn kinh doanh tại công ty cổ phần
đầu tư và thương mại Hòa An trong thời gian qua.
Chương 3: Một số giải pháp đề xuất nhằm tăng cường quản trị vốn
kinh doanh tại công ty cổ phần đầu tư và thương mại Hòa An.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng song do còn nhiều hạn chế về mặt kiến thức
và thời gian nên bài luận văn của em không tránh khỏi những sai sót. Em rất
mong nhận được sự đóng góp và chỉ bảo của các thầy cô và các anh chị trong
phòng tài chính kế toán của công ty Cổ phần đầu tư và thương mại Hòa An để
luận văn của em được hoàn chỉnh hơn.
Hà Nội, ngày
tháng
Sinh viên thực hiện
Hoàng Khắc Hưng
năm 2014
Từ những phâp tích trên có thể rút ra: Vốn kinh doanh của doanh
nghiệp là toàn bộ số tiền ứng trước mà doanh nghiệp đã bỏ ra để đầu tư
hình thành các tài sản cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp.
1.1.1.2. Đặc điểm của vốn kinh doanh.
Thứ nhất: Vốn kinh doanh đại diện cho một lượng tài sản nhất định :
Luận văn tốt nghiệp
Học viện tài chính
chính là biểu hiện về mặt giá trị của những tài sản có thực mà doanh
nghiệp hoạt động và sử dụng vào sản xuất kinh doanh, bao gồm cả tài sản
hữu hình và tài sản vô hình.
Thứ hai: Vốn phải được vận động sinh lời
vốn được biểu hiện bằng tiền nhưng tiền chỉ là dạng tiềm năng của
vốn. Để thực sự trở thành vốn thì đồng tiền đó phải vận động sinh lời.
Trong quá trình vận động, vốn có thể thay hình thái biểu hiện, nhưng xuất
phát điểm và đích đến của vòng tuần hoàn phải là tiền-tiền quay về nơi
xuất phát với giá trị ngày càng lớn hơn. Cách vận động và Phương thức
vận động của vốn do phương thức đầu tư kinh doanh quyết định.
Thứ ba: Vốn phải được tập trung đến một lượng đủ lớn nhất định thì
mới phát huy tác dụng.
Nếu vốn nằm phân tán, rải rác sẽ không phát huy được hiệu quả của
nó.vốn phải được tích tụ đén một lượng nhất định mới phát huy được tác
dụng để đầu tư vào sản xuất kinh doanh. Do đó, doanh nghiệp không chỉ
khai thác các tiềm năng về vốn mà còn phải tìm cách thu hút vốn từ nhiều
nguồn khác nhau.
Thứ tư: Vốn có giá trị về mặt thời gian.
1.1.2.
Thành phần của nguồn vốn kinh doanh
Căn cứ vào đặc điểm luân chuyển khi tham gia vào quá trình sản xuất
kinh doanh, thành phần của VKD được chia thành 2 loại : vốn cố định
(VCĐ) và vốn lưu động (VLĐ).
1.1.2.1. Vốn cố định của doanh nghiệp
• Khái niệm vốn cố định
Trong nền kinh tế thị trường để có được các tài sản cố định cần thiết
cho hoạt động kinh doanh doanh nghiệp phải đầu tư ứng trước một lượng
vốn tiền tệ nhất định. Toàn bộ Số tiền ứng trước mà doanh nghiệp bỏ ra để
hình thành nên tài sản cố định dùng cho hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp được gọi là vốn cố định của doanh nghiệp.
•
Đặc điểm luân chuyển của vốn cố định
VCĐ là số vốn đầu tư ứng trước để mua sắm, trang bị TSCĐ nên quy
mô của VCĐ sẽ quyết định đến quy mô TSCĐ , tính đồng bộ của TSCĐ, ảnh
hưởng lớn đến trình độ trang bị kĩ thuật và công nghệ sản xuất, năng lực
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Ngược lại các đặc điểm kinh tế kỹ
thuật của TSCĐ lại chi phối đặc điểm luân chuyển của vốn cố định. Có thể
Luận văn tốt nghiệp
Học viện tài chính
khái quát những đặc điểm chủ yếu chu chuyển của VCĐ trong quá trình
kinh doanh của doanh nghiệp như sau:
+ Vốn lưu động dịch chuyển toàn bộ giá trị một lần vào giá trị sản phẩm
mới được tạo ra và được hoàn lại toàn bộ sau mỗi chu kì kinh doanh.
+ Vốn lưu động trong quá trình chu chuyển luôn thay đổi hình thái biểu
hiện.
+ Vốn lưu động hoàn thành một vòng luân chuyển sau một chu kì kinh
doanh khi doanh nghiệp tiêu thụ sản phẩm và thu được tiền bán hàng.
• Phân loại vốn lưu động
Để quản lí tốt vốn lưu động cần phải tiến hành phân loại vốn lưu động.
Phân loại vốn lưu động là việc chia vốn lưu động ra thành các nhóm khác
nhau theo những tiêu thức nhất định.
- Phân loại theo vai trò của vốn lưu động đối với quá trình sản xuất
kinh doanh
Dựa theo căn cứ này thì vốn lưu động bao gồm:
+ Vốn trong khâu dự trữ sản xuất : bao gồm vốn nguyên vật liệu, phụ
tùng thay thế, công cụ dụng cụ nhỏ dự trữ sản xuất.
+
Vốn lưu động trong khâu trực tiếp sản xuất : gồm vốn bán thành
phẩm, sản phẩm dở dang, vốn chi phí trả trước
+ Vốn lưu động trong khâu lưu thông : gồm vốn thành phẩm, vốn trong
thanh toán, vốn đầu tư ngắn hạn, vốn bằng tiền.
Phương pháp phân loại này cho phép biết được kết cấu vốn lưu
động theo vai trò. Từ đó, giúp cho việc đánh giá tình hình phân bổ vốn lưu
động trong các khâu của quá trình luân chuyển vốn, thấy được vai trò của
từng thành phần vốn đối với quá trình kinh doanh. Trên cơ sở đó, đề ra các
biện pháp tổ chức quản lí thích hợp, lựa chọn bố trí cơ cấu vốn đầu tư hợp
lý, đảm bảo sự cân đối về năng lực sản xuất giữa các giai đoạn trong quá
trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
- Phân loại theo hình thái biểu hiện.
Trong nền kinh tế thị trường, vốn là một yếu tố và là tiền đề cần thiết
cho việc hình thành và phát triển hoạt động kinh doanh của một doanh
nghiệp. Do vậy nhu cầu vốn của doanh nghiệp là rất lớn, trong khi đó
nguồn vốn bên trong của doanh nghiệp lại chỉ có giới hạn, vì vậy đòi hỏi
doanh nghiệp phải huy động thêm từ nhiều nguồn khác nữa thì mới đảm
bảo đáp ứng vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp do
vậy mà có nhiều nguồn hình thành vốn kinh doanh trong doanh nghiệp. Tùy
từng mục đích nhất định mà nguồn hình thành VKD của doanh nghiệp
được chia thành các loại khác nhau
Luận văn tốt nghiệp
Học viện tài chính
1.1.3.1. Phân loại theo quan hệ sở hữu vốn
Theo quan hệ sở hữu vốn, vốn kinh doanh được chia thành hai loại:
Nguồn vốn chủ sở hữu và Nợ phải trả.
Nguồn vốn chủ sở hữu: là phần vốn thuộc quyển sở hữu của doanh
nghiệp, bao gồm vốn điều lệ (do các CSH đầu tư), và phần vốn bổ sung từ
kết quả kinh doanh ( lợi nhuận để lại) và các quỹ, nguồn vốn liên doanh,
liên kết, vốn do Nhà nước tài trợ (nếu có)…
Đặc điểm của nguồn vốn này là quyền sở hữu và quyền sử dụng nguồn
vốn này đều thuộc về chủ sở hữu doanh nghiệp, nguồn vốn này có tính ổn
định cao
Ưu điểm của Nguồn vốn chủ sở hữu là không phải trả lãi suất như
nguồn vốn vay nhờ đó mà giảm được chi phí kinh doanh cho doanh nghiệp.
Mặt khác do nguồn vốn này thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp nên giúp
doanh nghiệp chủ động trong quá trình đầu tư. Tuy nhiên nguồn vốn chủ sở
hữu cũng có nhược điểm là : quy mô vốn chủ sở hữu thường có hạn do đó
vốn tạm thời.
Nguồn vốn thường xuyên: là tổng thể các nguồn vốn có tính chất ổn
định mà doanh nghiệp có thể sử dụng vào hoạt động kinh doanh. Nguồn
vốn này thường được sử dụng để mua sắm, hình thành tài sản cố định và
một bộ phận tài sản lưu động thường xuyên cần thiết cho hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp.
Nguồn vốn thường xuyên của doanh nghiệp tại một thời điểm được xác
định như sau:
Nguồn vốn thường xuyên của DN = Vốn chủ sở hữu + Nợ dài hạn
Hoặc
= Giá trị tổng tài sản của doanh nghiệp – Nợ ngắn hạn
Nguồn vốn tạm thời: là các nguồn vốn có tính chất ngắn hạn (dưới một
năm) doanh nghiệp có thể sử dụng để đáp ứng các yêu cầu có tính chất tạm
thời phát sinh trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Nguồn vốn
tạm thời thường bao gồm vay ngắn hạn ngân hàng và các tổ chức tín dụng,
các khoản nợ ngắn hạn khác.
Luận văn tốt nghiệp
Học viện tài chính
Nguồn vốn lưu động thường xuyên : là nguồn vốn ổn định, có tính chất
dài hạn để hình thành hay tài trợ cho tài sản lưu động thường xuyên cần
thiết trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Nguồn vốn lưu động thường xuyên của doanh nghiệp tại một thời điểm
được xác định bằng công thức sau :
Nguồn vốn lưu động = Tổng nguồn vốn thường xuyên - Tài sản
Xuyên
Của doanh
Nghiệp
Việc phân loại nguồn vốn theo cách này giúp cho các nhà quản lý doanh
nghiệp có thể xem xét huy động các nguồn vốn cũng như lập các kế hoạch
tài chính một cách chính xác, phù hợp với thời gian sử dụng của các yếu tố
cần thiết cho quá trình kinh doanh.
1.1.3.3. Phân loại theo phạm vi huy động vốn
Nguồn vốn kinh doanh được chia thành nguồn vốn bên trong và nguồn
vốn bên ngoài doanh nghiệp.
Nguồn vốn bên trong: là nguồn vốn có thể huy động được vào đầu tư từ
chính hoạt động bản thân doanh nghiệp tạo ra. Bao gồm: lợi nhuận để lại
tái đầu tư, các khoản trích dự phòng, quỹ đầu tư phát triển... Sử dụng
Luận văn tốt nghiệp
Học viện tài chính
nguồn vốn này giúp doanh nghiệp chủ động trong quá trình sản xuất kinh
doanh, đáp ứng các nhu cầu phát triển mà hầu như không phải trả chi phí
cho việc sử dụng vốn, hoặc nếu có thì cũng rất thấp.
Nguồn vốn bên ngoài: là nguồn vốn mà doanh nghiệp có thể huy động
từ bên ngoài để đáp ứng cho nhu cầu vốn kinh doanh của doanh nghiệp
Nguồn vốn từ bên ngoài bao gồm một số nguồn vốn chủ yếu sau : vay
ngân hàng và các tổ chức tài chính, góp vốn liên doanh liên kết, tín dụng
thương mại của nhà cung cấp, thuê tài sản, huy động vốn bằng phát hành
chứng khoán đối với một số loại hình doanh nghiệp được pháp luật cho
phép.
xuất kinh doanh được tiến hành thường xuyên, liên tục. Mặt khác giúp
doanh nghiệp nắm bắt được các cơ hội kinh doanh một cách nhanh nhất,
tăng doanh thu và lợi nhuận.
Mục tiêu thứ hai là tổ chức, sử dụng vốn tiết kiệm, có hiệu quả, nhằm tối
đa hóa lợi ích của chủ sở hữu doanh nghiệp.
Đây là mục tiêu quan trọng nhất trong công tác quản trị vốn kinh
doanh của tất cả các doanh nghiệp. Bởi vì mục tiêu cao nhất của một doanh
nghiệp khi thực hiện các hoạt động kinh doanh hiện nay là tối đa hóa giá
trị của chủ sở hữu do đó mà việc quản trị vốn kinh doanh cũng không nằm
ngoài mục tiêu cao nhất này.
1.2.2.
Nội dung quản trị vốn kinh doanh
1.2.2.3. Tổ chức đảm bảo nguồn vốn kinh doanh.
Trong nền kinh tế thị trường, vốn kinh doanh là điều kiện tiên quyết cho
sự ra đời và phát triển của doanh nghiệp. Do đó việc đảm bảo nguồn vồn
kinh doanh để phục vụ cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp là một yêu cầu cực kì quan trọng đối với mọi doanh nghiệp. Việc tổ
chức đảm bảo nguồn vốn kinh doanh gồm các nội dung sau :
-
xác định đúng đắn nhu cầu vốn kinh doanh của doanh nghiệp :
Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của mình, doanh
nghiệp cần xác định đúng nhu cầu về vốn kinh doanh trong từng thời kì cụ
thể để có biện pháp đáp ứng được đầy đủ nhu cầu về vốn và đảm bảo vốn
được sử dụng hiệu quả, tránh lãng phí hoặc thiếu vốn cho các hoạt động
của doanh nghiệp. Trong công tác xác định nhu cầu vốn kinh doanh thì việc
xác định nhu cầu vốn lưu động thường xuyên của doanh nghiệp có tầm
hiện như sau:
+ Xác định nhu cầu vốn hàng tồn kho Bao gồm vốn hàng tồn kho
trong các khâu dự trữ sản xuất, khâu sản xuất và khâu lưu thông.
+ Xác định nhu cầu vốn nợ phải thu: Nợ phải thu là khoản vốn bị khách
hàng chiếm dụng hoặc do doanh nghiệp chủ động bán chịu hàng hóa cho
khách hàng. Do vốn đã bị khách hàng chiếm dụng nên để hoạt động sản xuất
kinh doanh được bình thường doanh nghiệp phải bỏ thêm vốn lưu động vào
sản xuất.
Luận văn tốt nghiệp
Học viện tài chính
+Xác định nhu cầu vốn nợ phải trả nhà cung cấp: Nợ phải trả là khoản
vốn doanh nghiệp mua chịu hàng hóa hay chiếm dụng của khách hàng. Các
khoản nợ phải trả được coi như khoản tín dụng bổ sung từ khách hàng nên
doanh nghiệp có thể rút bớt ra khỏi kinh doanh một phần vốn lưu động của
mình để dùng vào việc khác.
Phương pháp gián tiếp
Phương pháp gián tiếp dựa vào phân tích tình hình thực tế sử dụng VLĐ
của doanh nghiệp năm báo cáo, sự thay đổi về quy mô kinh doanh và tốc độ
luân chuyển VLĐ năm kế hoạch, hoặc sự biến động nhu cầu VLĐ theo doanh
thu thực hiện năm báo cáo để xác định nhu cầu VLĐ của doanh nghiệp năm
kế hoạch.
Các phương pháp gián tiếp cụ thể như sau:
+Phương pháp điều chỉnh theo tỷ lệ phần trăm nhu cầu VLĐ so với năm
báo cáo: Thực chất phương pháp này là dựa vào thực tế nhu cầu VLĐ năm
báo cáo và điều chỉnh nhu cầu theo quy mô kinh doanh và tốc độ luân chuyển
VLĐ năm kế hoạch.
Mkh: Tổng mức luân chuyển vốn năm kế hoạch ( doanh thu thuần)
Lkh : Số vòng quay VLĐ năm kế hoạch.
+ Phương pháp dự vào tỷ lệ phần trăm trên doanh thu:
Nội dung phương pháp này dự vào sự biến động theo tỷ lệ trên doanh thu
của các yếu tố cấu thành VLĐ của doanh nghiệp năm báo cáo để xác định nhu
cầu VLĐ theo doanh thu năm kế hoạch.
-
Tổ chức hợp lý nguồn vốn kinh doanh :
Tùy thuộc vào điều kiện cụ thể ngành nghề, lĩnh vực, đặc điểm hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp mà doanh nghiệp xác định tổ chức cơ
cấu nguồn vốn của doanh nghiệp cho phù hợp. Doanh nghiệp xác định mức
độ và tỷ lệ nguồn vốn nợ phải trả và nguồn vốn chủ sở hữu trong cơ cấu
nguồn vốn kinh doanh của công ty một cách hợp lý, phù hợp với đặc điểm
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp ở các
ngành khác nhau thường có cơ cấu nguồn vốn nợ và nguồn vốn chủ sở hữu
Luận văn tốt nghiệp
Học viện tài chính
khác nhau. Đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh
thương mại thì thường có tỷ trọng nguồn vốn nợ phải trả cao trong cơ cấu
nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp. Mặt khác doanh nghiệp cần tổ
chức hợp lý giữa nguồn vốn ngắn hạn và nguồn vốn dài hạn tùy vào nhu
cầu về vốn trong doanh nghiệp. Đối với các doanh nghiệp có số vòng quay
vốn lớn, thời gian một vòng quay vốn ngắn thì thường huy động nhiều
nguồn vốn ngắn hạn vừa phù hợp với nhu cầu về vốn, vừa giảm chi phí sử
dụng vốn trong doanh nghiệp.
được rủi ro trong thanh toán, mức độ an toàn cao hơn, đồng thời giảm bớt
được chi phí sử dụng vốn. Tuy nhiên, mô hình này chưa tạo ra sự linh hoạt
trong việc sử dụng vốn, doanh nghiệp phải duy trì một lượng vốn thường
xuyên khá lớn ngay cả khi gặp khó khăn phải giảm bớt quy mô kinh doanh.
Mô hình được mô tả như sau:
Tiền
Tài sản lưu động tạm thời
Tài sản lưu động thường xuyên
Tài sản cố định
Thời gian
Nguồn vốn
tạm thời
Nguồn vốn thường xuyên
b) Mô hình tài trợ thứ hai
Theo mô hình này, toàn bộ tài sản cố định, tài sản lưu động thường xuyên
và một phần tài sản lưu động tạm thời được đảm bảo bằng nguồn vốn thường
xuyên, phần tài sản lưu động tạm thời còn lại được đảm bảo bằng nguồn vốn
tạm thời.
Sử dụng mô hình này giúp cho khả năng thanh toán của doanh nghiệp và
độ an toàn tài chính ở mức cao. Tuy nhiên, doanh nghiệp phải trả chi phí cao
hơn cho việc sử dụng nhiều khoản vay trung hạn và dài hạn; đồng thời gây