Các giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường quản trị vốn lưu động tại công ty TNHH bê tông đúc sẵn và cơ khí bình dương - Pdf 34

Luận văn tốt nghiệp

GVHD: TS. Nguyễn Thị Hà

LỜI MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài.
Nền kinh tế Việt Nam đang trong quá trình chuyển đổi và vận hành theo cơ
chế thị trường, mở cửa, hội nhập với nền kinh tế toàn cầu. Đối với các doanh
nghiệp Việt Nam, một mặt nó đem lại những cơ hội mới trong việc mở rộng và tiếp
cận thị trường nhưng mặt khác nó là những thách thức không nhỏ trong quá trình
cạnh tranh để thích nghi với những thay đổi của nền kinh tế toàn cầu. Cuộc khủng
hoảng kinh tế thế giới từ cuối năm 2008 và những bài học của nó là những kinh
nghiệm quý giá đối với các nhà quản lý, quản trị doanh nghiệp đặc biệt là vấn đề
làm sao tạo lập, quản lý và sử dụng vốn kinh doanh của mình hiệu quả để hoạt
động doanh nghiệp được diễn ra liên tục và tối đa hóa lợi nhuận trong điều kiện
kinh tế thị trường luôn biến động như hiện nay.
Vốn là điều kiện không thể thiếu được để một doanh nghiệp được thành lập
và tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh. Trong mọi loại hình doanh
nghiệp, vốn phản ánh nguồn lực tài chính được đầu tư vào sản xuất kinh doanh.
Trong quản lý tài chính, các doanh nghiệp cần chú ý quản lý việc huy động và sự
luân chuyển của vốn, sự ảnh hưởng qua lại của các hình thái khác nhau của tài sản
và hiệu quả tài chính. Nói cách khác, vốn cần được xem xét và quản lý trong trạng
thái vận động và mục tiêu hiệu quả của vốn có ý nghĩa quan trọng nhất. Để có các
đầu vào phục vụ sản xuất kinh doanh doanh nghiệp phải có một lượng tiền ứng
trước, lượng tiền này gọi là vốn của doanh nghiệp hay nói cách khác vốn là biểu
hiện bằng tiền của vật tư tài sản được đầu tư vào sản xuất kinh doanh nhằm mục
tiêu sinh lời. Vốn của doanh nghiệp được hình thành từ khi thành lập doanh nghiệp
và biến đổi trong quá trình sản xuất kinh doanh. Nếu các doanh nghiệp hoạt động
có hiệu quả, vốn của doanh nghiệp có chiều hướng tăng trưởng vì sau mỗi chu kỳ
kinh doanh vốn ban đầu lại được bổ sung bằng một phần lợi nhuận thu được, phần
SV: Nguyễn Thị Thùy Linh

Đối tượng nghiên cứu: Vốn lưu động và các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử
dụng vốn lưu động của Công ty.
Phạm vi nghiên cứu: Hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty, hoạt động
tài chính và hoạt động khác trong năm 2013 và các năm trước.
SV: Nguyễn Thị Thùy Linh

2

Lớp: CQ48/11.02


Luận văn tốt nghiệp

GVHD: TS. Nguyễn Thị Hà

4. Nội dung khái quát của luận văn.
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, bài luận văn được chia thành 3 chương:
Chương 1: Tổng quan về vốn lưu động và việc nâng cao hiệu quả sử dụng
vốn lưu động của doanh nghiệp.
Chương 2: Thực trạng tình hình quản lí, sử dụng vốn lưu động và hiệu quả sử
dụng vốn lưu động tại Công ty TNHH bê tông đúc sẵn và cơ khí Bình Dương.
Chương 3: Các giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường quản trị vốn lưu động tại
công ty TNHH bê tông đúc sẵn và cơ khí Bình Dương.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng song do còn hạn chế về kiến thức và thời gian
nghiên cứu nên bài luận văn này không tránh khỏi những thiếu sót. Do vậy, em rất
mong nhận được sự chỉ bảo, đóng góp của các thầy cô và các anh chị trong phòng
Tài Chính- Kế toán của công ty TNHH bê tông đúc sẵn và cơ khí Bình Dương để
kết quả nghiên cứu được hoàn thiện.
Em xin chân thành cảm ơn cô giáo - TS. Nguyễn Thị Hà và các anh chị trong
phòng Tài Chính- Kế toán cùng các phòng ban khác của công ty đã giúp đỡ em

- Vốn lưu động là hình thái biểu hiện bằng tiền của tài sản lưu động nên nó
mang những đặc điểm tương tự như tài sản lưu động đó là vốn lưu động tham gia
vào một chu kỳ kinh doanh và vốn lưu động được luân chuyển một lần. Quá trình
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra liên tục không ngừng nên vốn lưu
động cũng vận động theo từng chu kỳ. Trong mỗi chu kỳ vốn lưu động chuyển từ
hình thái tiền tệ sang hình thái vật chất là vật tư, hàng hóa dự trữ cho hoạt động
sản xuất, qua giai đoạn sản xuất vật tư được đưa vào sản xuất tạo nên thành phẩm
và đưa vào tiêu thụ. Kết thúc chu kỳ khi doanh nghiệp thu được tiền từ việc ban
SV: Nguyễn Thị Thùy Linh

4

Lớp: CQ48/11.02


Luận văn tốt nghiệp

GVHD: TS. Nguyễn Thị Hà

sản phẩm ra thị trường vốn lưu động lại trở về hình thái tiền tệ ban đầu. Trên thực
tế chu trình trên không diễn ra tuần tự mà đan xen vào nhau, trong khi một bộ
phận vốn lưu động được chuyển hóa thành vật tư hàng hóa dự trữ thì bộ phận
khác kết tinh trong thành phẩm được chuyển hóa thành vốn bằng tiền, cứ như
vậy chu kỳ sản xuất kinh doanh được lặp đi lặp lại, vốn lưu động được tuần hoàn
và luân chuyển liên tục. Tốc độ luân chuyển vốn lưu động càng lớn thì hiệu quả
sử dụng vốn càng cao. Muốn quá trình tái sản xuất diễn ra liên tục thì doanh
nghiệp cần có đủ vốn và phân bổ hợp lý cho từng giai đoạn từng thời kỳ của quá
trình sản xuất.
- Giá trị của vốn lưu động được chuyển dịch một lần và hoàn toàn vào giá trị
sản phẩm và được thu hồi khi tiêu thụ sản phẩm.

1.1.3.1. Phân loại theo hình thái biểu hiện và khả năng hoán tệ của vốn có thể
chia VLĐ thành:
-Vốn bằng tiền và các khoản phải thu:
+ Vốn bằng tiền gồm tiền mặt tại quỹ, tiền gửi Ngân hàng và tiền đang
chuyển. Tiền là một loại tài sản có tính linh hoạt cao, doanh nghiệp có thể dễ dàng
chuyển đổi thành các tài sản khác hoặc để trả nợ. Do vậy, trong hoạt động kinh
doanh đòi hỏi mỗi doanh nghiệp cần phải có một lượng tiền cần thiết nhất định.
+ Các khoản phải thu: Chủ yếu là các khoản phải thu từ khách hàng thể
hiện ở số tiền mà các khách hàng nợ doanh nghiệp phát sinh trong quá trình bán
hàng, cung ứng dịch vụ dưới hình thức bán trước trả sau. Ngoài ra, với một số
trường hợp mua sắm vật tư khan hiếm, doanh nghiệp còn có thể phải ứng trước tiền
mua hàng cho người cung cấp, từ đó hình thành khoản tạm ứng.
- Vốn vật tư, hàng hóa: là khoản vốn lưu động có hình thái biểu hiện bằng
hiện vật cụ thể như nguyên nhiên vật liệu, sản phẩm dở dang, thành phẩm,…
+ Đối với doanh nghiệp sản xuất vốn vật tư hàng hóa gồm: vốn về vật tư
dự trữ, vốn sản phẩm dở dang, vốn thành phẩm. Xem xét một cách chi tiết hơn thì
vốn về hàng tồn kho của doanh nghiệp gồm: vốn nguyên vật liệu chính, vốn vật
liệu phụ, vốn nhiên liệu, vốn phụ tùng thay thế, vốn vật đóng gói, cốn công cụ
dụng cụ, vốn sản phẩm đang chế, vốn về chi phí trả trước, vốn thành phẩm.
+ Đối với doanh nghiệp thương mại, vốn về hàng tồn kho chủ yếu là giá
trị các loại hàng hóa dự trữ.
SV: Nguyễn Thị Thùy Linh

6

Lớp: CQ48/11.02


Luận văn tốt nghiệp




Luận văn tốt nghiệp

GVHD: TS. Nguyễn Thị Hà

+ Vốn sản phẩm dở dang: là gá trị những sản phẩm dở dang những khác
với sản phẩm đang chết tạo ở chỗ nó đã hoàn thành một hay nhiều giai đoạn chế
biến nhất định.
+ Vốn chi phí trả trước: là những phí tổn chi ra trong kỳ nhưng có tác
dụng cho nhiều chu kỳ sản xuất, vì thế chưa tính hết vào giá thành trong kỳ mà còn
phân bổ cho các kỳ sau.
- Vốn lưu động trong khâu lưu thông bao gồm:
+ Vốn thành phẩm: là biểu hiện bằng tiền của số sản phẩm nhập kho và
chuẩn bị cho tiêu thụ.
+ Vốn bằng tiền: gồm tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng, các khoản đầu
tư ngắn hạn, các khoản thế chấp, ký cược, ký quỹ ngắn hạn…
+ Vốn trong thanh toán: là các khoản phải thu, tạm ứng phát sinh trong
quá trình mua bán vật tư hàng hóa hoặc thanh toán nội bộ.
Qua cách phân loại này cho thấy vai trò trong sự phân bổ của vốn lưu động
trong từng khâu của quá trình sản xuất kinh doanh. Từ đó lựa chọn bố trí cơ cấu
vốn đầu tư hợp lý đảm bảo sự cân đối về năng lực sản xuất giữa các giai đoạn
trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
1.1.4. Nguồn hình thành vốn lưu động của doanh nghiệp.
Mỗi một doanh nghiệp khi tham gia hoạt động kinh doanh phải xem xét tổ
chức tốt nguồn vốn lưu động nhằm đáp ứng đầy đủ kịp thời nhu cầu vốn lưu động
của mình là điều rất cần thiết.
Để làm tốt vấn đề này, doanh nghiệp cần dựa vào những căn cứ nhất định để
phân chia nguồn vốn lưu động từ những nguồn huy động khác nhau nhằm thấy rõ


đủ vốn thực hiện được tổ chức kinh doanh và quản lý vốn.
- Nguồn tín dụng: Là các khoản vốn mà doanh nghiệp có thể vay dài hạn của
các ngân hàng thương mại, công ty tài chính, công ty bảo hiểm hoặc các tổ chức
tài chính trung gian khác, cũng có thể bằng các hình thức phát hành trái phiếu để
huy động vốn cho đầu tư phát triển kinh doanh.

SV: Nguyễn Thị Thùy Linh

9

Lớp: CQ48/11.02


Luận văn tốt nghiệp

GVHD: TS. Nguyễn Thị Hà

1.1.4.2. Căn cứ vào thời gian huy động vốn lưu động có thể được huy động từ hai
nguồn:
- Nguồn vốn lưu động thường xuyên: là tổng thể các nguồn vốn có tổ chức
ổn định và dài hạn mà doanh nghiệp có thể sử dụng để hình thanh nên các TSLĐ
thường xuyên cần thiết.
Nguồn VLĐ thường xuyên = TSLĐ – Nợ ngắn hạn
Như vậy, nguồn vốn lưu động thường xuyên của doanh nghiệp là nguồn vốn
ổn định, có tính chất vững chắc. Nguồn vốn này cho phép doanh nghiệp luôn chủ
động trong việc cung cấp đầy đủ và kịp thời nhu cầu vốn lưu động thường xuyên
cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được ổn định và
liên tục.
- Nguồn vốn lưu động tạm thời: là nguồn vốn có tính chất ngắn hạn (dưới 1
năm). Nguồn vốn này thường để đáp ứng cho nhu cầu có tính chất tạm thời, bất

Trong các doanh nghiệp, sự vận động của vốn lưu động phản ánh sự vận động
của vật tư hàng hóa. Số vốn lưu động nhiều hay ít phản ánh số lượng vật tư hàng
hóa dự trữ ở các khâu nhiều hay ít. Vốn lưu động luân chuyển nhanh hay chậm
phản ánh số lượng vật tư hàng hóa sử dụng tiết kiệm hay lãng phí, thời gian nằm
trên các giai đoạn luân chuyển có hợp lý hay không, từ đó có thể kiểm tra một cách
toàn diện dối với các mặt mua sắm, dự trữ, sản xuất và tiêu thụ sản phẩm để có
biện pháp quản lý vốn lưu động tốt hơn. Quản lý vốn lưu động là một bộ phận
trọng yếu của công tác quản lý tài chính doanh nghiệp. Quản lý vốn lưu động
không những đảm bảo sử dụng vốn lưu động hợp lý, tiết kiệm mà còn có ý nghĩa
quan trọng trong việc giảm chi phí, hạ thấp giá thành sản phẩm, tiết kiệm chi phí
bảo quản, đồng thời thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm và thanh toán công nợ một cách
kịp thời. Do đặc điểm của vốn lưu động là luân chuyển nhanh nên nó góp phần
quan trọng đảm bảo sản xuất một khối lượng sản phẩm lớn. Vì vậy, kết quả hoạt
động của doanh nghiệp tốt hay xấu, phần lớn là do chất lượng công tác quản lý vốn
lưu động quyết định.

SV: Nguyễn Thị Thùy Linh

11

Lớp: CQ48/11.02


Luận văn tốt nghiệp

GVHD: TS. Nguyễn Thị Hà

1.2.1.2. Sự cần thiết của việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong các
doanh nghiệp.
Vốn là tiền để của sản xuất kinh doanh song việc sử dụng vốn như thế nào cho

Luận văn tốt nghiệp

GVHD: TS. Nguyễn Thị Hà

xuất. Trong cơ cấu vốn kinh doanh của doanh nghiệp, vốn lưu động là bộ phận
chiếm tỷ trọng khá lớn, nhất là đối với doanh nghiệp chế biến và doanh nghiệp
thương mại. Do đó việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động sẽ làm cho hiệu
quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh nói chung tăng lên. Đây cũng chính là mục
tiêu cần đạt tới của việc sử dụng vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp.
Hơn nữa, vốn là điểm xuất phát của mọi hoạt động sản xuất kinh doanh. Như
đã nêu, vốn lưu động của doanh nghiệp được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau
như nguồn vốn vay, hiệu quả kinh tế đạt được nhìn chung còn thấp, trình độ quản
lý còn non kém, quá trình sản xuất kinh doanh gặp nhiều khó khăn thì việc bổ sung
vốn lưu động từ lợi nhuận để lại là rất hạn chế. Để đáp ứng nhu cầu vốn lưu động
tăng thêm, các doanh nghiệp tất yếu phải sử dụng nguồn vốn bên ngoài và phải chi
trả chi phí sử dụng vốn, từ đó ảnh hưởng tới chi phí sản xuất và giá thành sản
phẩm, ảnh hưởng tới lợi nhuận của doanh nghiệp. mà mục tiêu của mọi doanh
nghiệp trong nền kinh tế thị trường là hướng tới lợi nhuận tối đã. Do đó việc sử
dụng vốn hợp lý tiết kiệm, có hiệu quả sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp giảm tới
mức thấp nhất chi phí sử dụng vốn, tạo điều kiện tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.
Xuất phát từ ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động: hiệu
quả sử dụng vốn lưu động là chỉ tiêu chất lượng phản ánh tổng hợp những cố gắng,
những biện pháp hữu hiệu về kỹ thuật, về tổ chức sản xuất, tổ chức quản lý doanh
nghiệp nhằm thúc đẩy sản xuất phát triển. Chất lượng sản xuất cao sẽ thu được
nhiều lãi, hoàn vốn nhanh.
Trong quá trình sản xuất của mình, các doanh nghiệp sử dụng vốn lưu động
để đảm bảo cho quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm được bình thường liên tục.
Doanh nghiệp sử dụng vốn lưu động càng hiệu quả thì càng có thể sản xuất và tiêu
SV: Nguyễn Thị Thùy Linh


=

Vốn
hàng tồn kho

+

Nợ phải
thu

-

Nợ phải trả
nhà cung cấp

Số vốn lưu động doanh nghiệp phải trực tiếp ứng ra tùy thuộc vào nhu cầu
vốn lưu động trong từng thời kỳ kinh doanh là lớn hay nhỏ. Trong công tác quản
lý vốn lưu động, vấn đề quan trọng là phải xác định được nhu cầu vốn lưu động
cần thiết tương ứng với một quy mô và điều kiện kinh doanh nhất định.

SV: Nguyễn Thị Thùy Linh

14

Lớp: CQ48/11.02


Luận văn tốt nghiệp


Lớp: CQ48/11.02


Luận văn tốt nghiệp

GVHD: TS. Nguyễn Thị Hà

Thứ hai, những yếu tố về mua sắm vật tư và tiêu thụ sản phẩm: như khoảng
cách giữa các doanh nghiệp với các nhà cung cấp vật tư hàng hóa, sự biến động
về giá cả của các loại vật tư, hàng hóa mà doanh nghiệp sử dụng trong hoạt động
sản xuất kinh doanh, khoảng cách giữa doanh nghiệp với thị trường bán hàng,
điều kiện và phương tiện vận tải….
Thứ ba, chính sách của doanh nghiệp trong tiêu thụ sản phẩm, tín dụng và tổ
chức thanh toán: Các chính sách tiêu thụ, tín dụng của doanh nghiệp ảnh hưởng
trực tiếp đến kỳ hạn thanh toán, quy mô các khoản phải thu. Việc tổ chức tiêu
thụ, thực hiện các thủ tục thanh toán, tổ chức thanh toán thu tiền bán hàng có ảnh
hưởng trực tiếp đến nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp.
Ngoài các nhân tố kể trên, nhu cầu vốn lưu động của doanh nghiệp còn chịu
ảnh hưởng của rất nhiều nhân tố khác như: Trình độ quản lý của nhà quản trị,
năng lực của cán bộ công nhân viên… Đối với nhà quản lý doanh nghiệp, việc
nghiên cứu sự ảnh hưởng của các nhân tố trên là thực sự cần thiết.
1.2.2.3 Phương pháp xác định nhu cầu vốn lưu động thường xuyên cần thiết của
doanh nghiệp
a. Phương pháp trực tiếp.
Nội dung chủ yếu của phương pháp này là căn cứ vào các yếu tố ảnh hưởng
trực tiếp đến việc dự trữ vật tư, sản xuất và tiêu dùng sản phẩm để xác định nhu
cầu của từng khoản vốn lưu động trong từng khâu rồi tổng hợp lại toàn bộ nhu cầu
vốn lưu động của doanh nghiệp.
Sau đây là phương pháp xác định nhu cầu vốn lưu động cho từng khâu của
doanh nghiệp:

Mij: Chi phí sử dụng bình quân một ngày của hàng tồn khi i
Nij: số ngày dự trữ hàng tồn kho i
N: Số loại hàng tồn kho cần dự trữ
M: Số khâu cần dự trữ hàng tồn kho
Đối với các loại NVL chính có thể xác định theo công thức:
Vnvlc = Mnvlc x Nnvlc
Trong đó:
Vnvlc: Nhu cầu vốn dự trữ nguyên vật liệu chính
Mnvlc: Chi phí nguyên vật liệu chính sử dụng bình quân 1 ngày
Nnvlc: Số ngày dự trữ nguyên vật liệu chính
- Nhu cầu vốn lưu động dự trữ trong khâu sản xuất: Bao gồm nhu cầu vốn để
hình thành các sản phẩm dở dang, bán thành phẩm, các khoản chi phí trả trước.
Nhu cầu này nhiều hay ít phụ thuiijc vào chi phí sản xuất bình quân một ngày, độ
dài chu kỳ sản xuất sản phẩm, mức độ hoàn thành sản phẩm dở dang, bán thành
phẩm. Nhu cầu vốn sản phẩm dở dang, bán thành phẩm được xác định như sau:
Vsx = Pn x CKsx x Hsp
Trong đó:
Vsx: nhu cầu vốn lưu động sản xuất
Pn: chi phí sản xuất sản phẩm bình quân một ngày
SV: Nguyễn Thị Thùy Linh

17

Lớp: CQ48/11.02


Luận văn tốt nghiệp

GVHD: TS. Nguyễn Thị Hà


Lớp: CQ48/11.02


Luận văn tốt nghiệp

GVHD: TS. Nguyễn Thị Hà

Vpt: vốn nợ phải thu
Dtn: doanh thu bán hàng bình quân một ngày
Npt: kỳ thu tiền trung bình (ngày)
+ Nhu cầu vốn nợ phải trả nhà cung cấp: Nợ phải trả là khoản vốn doanh
nghiệp mua chịu hàng hóa hay chiếm dụng của khách hàng.
Vpt = Dmc x Nmc
Trong đó:
Vpt: nợ phải trả kỳ kế hoạch
Dmc: doanh thu mua chịu bình quân ngày kỳ kế hoạch
Nmc: kỳ trả tiền trung bình cho nhà cung cấp
b. Phương pháp gián tiếp.
Phương pháp gián tiếp dựa vào phân tích tình hình thực tế sử dụng VLĐ của doanh
nghiệp năm báo cáo, sự thay đổi về quy mô kinh doanh và tốc độ luân chuyển
VLĐ năm kế hoạch, hoặc sự biến động nhu cầu VLĐ theo doanh thu thực hiện
năm báo cáo để xác định nhu cầu VLĐ của doanh nghiệp năm kế hoạch.
- Phương pháp điều chỉnh theo tỷ lệ phần trăm nhu cầu VLĐ so với năm báo
cáo: thực chất phương pháp này là dựa vào thực tế nhu cầu VLĐ năm báo cáo và
điều chỉnh nhu cầu theo quy mô kinh doanh và tốc độ luân chuyển VLĐ năm kế
hoạch.

Vkh =

VBC

M kh
L kh

Trong đó:
Mkh: tổng mức luân chuyển vốn năm kế hoạch (doanh thu thuần)
Lkh: số vòng quay VLĐ năm kế hoạch
1.2.2.4. Quản trị vốn tồn kho dự trữ.
a. Vốn tồn kho dự trữ và các nhân tố ảnh hưởng đến dự trữ vốn tồn kho.
Tồn kho dự trữ là những tài sản mà DN dự trữ để đưa vào sản xuất hoặc bán
ra sau này. Căn cứ vào vai trò của chúng, tồn kho dự trữ của doanh nghiệp được
chia thành 3 loại: tồn kho nguyên vật liệu, tồn kho sản phẩm dở dang, tồn kho
thành phẩm. Mỗi loại tồn kho dự trữ trên có vài trò khác nhau trong quá trình sản
xuất, tạo điều kiện cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được tiến
hành liên tục và ổn định.
Quy mô vốn tồn kho dự trữ chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi mức tồn kho dự trữ
của DN. Tuy nhiên, từng loại tồn kho dự trữ lại có các nhân tố ảnh hưởng khác
nhau. Đối với tồn kho dự trữ nguyên vật liệu thường chịu ảnh hưởng bởi các yếu
tố quy mô sản xuất, khả năng sẵn sang cung ứng đến DN. Đối vơi các loại sản
phẩm dở dang, bán thành phẩm thường chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố kỹ thuật,
công nghệ sản xuất, thời gian chế tạo sản phẩm, trình độ tổ chức sản xuất của
doanh nghiệp. Riêng đối với mức tồn kho thành phẩm, các nhâm tố ảnh hưởng
thường là số lượng mức tồn kho thành phẩm, sự phối hợp nhịp nhàng giữa khâu
sản xuất và khâu tiêu thụ, sức mua của thị trường…
SV: Nguyễn Thị Thùy Linh

20

Lớp: CQ48/11.02



Qn
Q

x c2)

Suy ra, mức đặt hàng kinh tế Q:

Q=

2 xc2 xQn
c1

Số lần cung ứng trong năm:
SV: Nguyễn Thị Thùy Linh

21

Lớp: CQ48/11.02


Luận văn tốt nghiệp

GVHD: TS. Nguyễn Thị Hà

L=

Qn
QE

Một nội dung quan trọng khác trong mô hình EQQ là xác định chính xác thời


Lớp: CQ48/11.02


Luận văn tốt nghiệp

GVHD: TS. Nguyễn Thị Hà

dụng mô hình tổng chi phí tối thiểu trong quản trị vốn tồn kho dự trữ để xác định
mức tôn quỹ tiền mặt mục tiêu của DN.
+ Quản lý chặt chẽ các khoản thu chi tiền mặt: Doanh nghiệp cần quản lý
chặt chẽ các khoản thu chi tiền mặt để tránh bị mất mát, lợi dụng. Thực hiện
nguyên tăc mọi khoản thu chi tiền mặt đều phải qua quỹ, không được thu chi ngoài
quỹ. Phân định rõ rang trách nhiệm trong quản lý vốn bằng tiền giữ kế toán và thủ
quỹ. Việc xuất nhập quỹ tiền mặt hàng ngày phải do thủ quỹ thực hiện trên cơ sở
chứng từ hợp thức và hợp pháp. Phải thực hiện đối chiếu, kiểm tra tồn quỹ tiền mặt
với sổ quỹ hàng ngày. Theo dõi quản lý chặt chẽ các khoản tiền tạm ứng, tiền đang
trong quá trình thanh toán, phát sinh do thời gian chờ đợi thanh toán ở ngân hàng.
+ Chủ động lập và thực hiện kế hoạch lưu chuyển tiền tệ hàng năm: Có
biện pháp phù hợp đảm bảo cân đối thu chi tiền mặt và sử dụng có hiệu quả nguồn
tiền mặt tạm thời nhàn rồi. Thực hiện dự báo và quản lý có hiệu quả các dòng tiền
nhập, xuất ngân quỹ trong từng thời kỳ để chủ động đáp ứng yêu cầu thanh toán nợ
của doanh nghiệp khi đáo hạn.
1.2.2.6. Quản trị các khoản phải thu.
Khoản phải thu là số tiền khách hàng nợ doanh nghiệp do mua chịu hàng hóa
hoặc dịch vụ. Trong kinh doanh hầu hết các DN đều có khoản nợ phải thu nhưng
với quy mô, mức độ khác nhau. Nếu khoản phải thu quá lớn, tức số vốn của DN bị
chiếm dụng cao, hoặc không kiểm soát nổi sẽ ảnh hưởng xấu đến hoạt đốngản xuất
kinh doanh. Vì thế quản trị khoản phải thu là một nội dung quan trọng trong quản
trị tài chính của doanh nghiệp.

khi khoản vay đến hạn thanh toán.
Việc đánh giá uy tín tài chính của khách hàng mua chịu thường phải thực hiện
qua các bước: Thu thập thông tin về khách hàng; đánh giá uy tín khách hàng theo
các thông tin thu nhận được; lựa chọn quyết đị hnowi lỏng hay thắt chặt bán chịu,
thậm chí từ chối bán.
+ Áp dụng các biện pháp quản lý và nâng cao hiệu quả thu hồi nợ:
Tùy theo điều kiện cụ thể áp dụng các biện pháp phù hợp như sau:
• Sử dụng kế toán thu hồi nợ chuyên nghiệp: có bộ phận kế toán theo dõi khách
hàng nợ; kiểm soát chặt chẽ nợ phải thu đối với từng khách hàng; xác định hệ số
nợ phải thu trên doanh thu hàng bán tối đa cho phép phù hợp với từng khách hàng
mua chịu.
• Xác định trọng tâm quản lý và thu hồi nợ trong từng thời kỳ để có chính sách thu
hồi nợ thích hợp: thực hiện các biện pháp thích hợp để thu hồi nợ đến hạn, nợ quá
SV: Nguyễn Thị Thùy Linh

24

Lớp: CQ48/11.02


Luận văn tốt nghiệp

GVHD: TS. Nguyễn Thị Hà

hạn như gia hạn nợ, thỏa ước xử lý nợ, bán lại nợ, yêu cầu sự can thiệp của tòa án
kinh tế nếu khách hàng nợ chây ỳ hoặc mất khả năng thanh toán nợ.
• Thực hiện các biện pháp phòng ngừa rủi ro bán chịu như trích trước dự phòng phải
thu khó đòi; trích lập quỹ dự phòng tài chính.
1.2.3. Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh
nghiệp.


25

Lớp: CQ48/11.02



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status