1
Luận văn tốt nghiệp
1
Học viện Tài chính
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu, kết
quả trong luận văn tốt nghiệp là trung thực, xuất phát từ tình hình thực tế của đơn vị
thực tập.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Nguyễn Đình Hoàn
SV: Nguyễn Đình Hoàn
Lớp: CQ48/11.1LT
2
Luận văn tốt nghiệp
2
Học viện Tài chính
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BCĐK
CPSXK
Nhu cầu vốn lưu động
Đơn vị tính
Chi phí sản xuất kinh doanh dở
T
KD
X
DD
dang
GTGT
ROS
Giá trị gia tăng
Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên
ROE
doanh thu
Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn
ROA
chủ sở hữu
Tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn
SV: Nguyễn Đình Hoàn
Lớp: CQ48/11.1LT
5
Luận văn tốt nghiệp
5
Học viện Tài chính
LỜI MỞ ĐẦU
Trong nền kinh tế thị trường, bất kỳ doanh nghiệp nào muốn tiến hành hoạt
động kinh doanh đòi hỏi phải có một lượng vốn lưu động nhất định như là tiền đề
bắt buộc. Vốn lưu động có vai trò rất quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình
sản xuất kinh doanh cũng như hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
1. Tính cấp thiết đề tài nghiên cứu
Các doanh nghiệp hiện nay hoạt động trong điều kiện nền kinh tế mở với xu
hướng toàn cầu hóa ngày càng cao và sự kinh doanh trên thị trường ngày càng
mạnh mẽ. Vì vậy, nhu cầu vốn lưu động cho hoạt động kinh doanh, nhất là nhu cầu
vốn dài hạn của các doanh nghiệp cho sự đầu tư phát triển ngày càng lớn. Trong khi
nhu cầu về vốn lớn như vậy thì khả năng tạo lập và huy động vốn của doanh nghiệp
lại bị hạn chế. Do đó, nhiệm vụ đặt ra đòi hòi các doanh nghiệp phải sử dụng vốn
lưu động sao cho có hiệu quả nhất trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc tài chính, tín
dụng, chấp hành pháp luật.
2. Đối tượng và mục đích nghiên cứu
+ Đề tài nghiên cứu những vấn đề lý thuyết cơ bản về vốn lưu động và quản
trị vốn lưu động trong doanh nghiệp.
+ Phân tích và đánh giá thực trạng quản trị vốn lưu động tại Công ty cổ phần
Sau thời gian thực tập tại Công ty cổ phần xuất nhập khẩu nông, lâm sản
TMĐ Gia Lộc, em đã chọn đề tài “Các giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường quản
trị vốn lưu động tại Công ty cổ phần xuất nhập khẩu nông, lâm sản TMĐ Gia
Lộc”.
5. Kết cấu luận văn tốt nghiệp
Nội dung chính của luận văn gồm 03 chương:
Chương 1 – Những vấn đề lý luận chung về vốn lưu động và quản trị vốn lưu
động của doanh nghiệp.
Chương 2 – Thực trạng quản trị vốn lưu động tại Công ty cổ phần xuất nhập
khẩu nông, lâm sản TMĐ Gia Lộc trong thời gian qua.
Chương 3 – Các giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường quản trị vốn lưu động
tại Công ty cổ phần xuất nhập khẩu nông, lâm sản TMĐ Gia Lộc.
Quản trị vốn lưu động là một vấn đề phức tạp mà giải quyết nó không những
phải có kiến thức, năng lực mà còn phải nhờ có kinh nghiệm thực tế. Với thời gian
tiếp cận thực tế chưa nhiều nên luận văn không tránh khỏi những sai sót, vì vậy em
rất mong được sự góp ý của thầy cô trong Bộ môn tài chính doanh nghiệp cùng bạn
đọc để đề tài được hoàn thiện hơn.
SV: Nguyễn Đình Hoàn
Lớp: CQ48/11.1LT
7
Luận văn tốt nghiệp
7
Học viện Tài chính
Em xin chân thành cảm ơn!
SV: Nguyễn Đình Hoàn
Lớp: CQ48/11.1LT
8
Luận văn tốt nghiệp
8
Học viện Tài chính
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, TSLĐ sản xuất và TSLĐ lưu thông
luôn thay thế chỗ cho nhau vận động không ngừng nhằm đảm bảo cho quá trình tái
sản xuất được tiến hành thường xuyên liên tục.
Để đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh được tiến hành thường xuyên
liên tục đòi hỏi doanh nghiệp phải có một lượng tài sản lưu động nhất định. Do đó, để
hình thành nên các tài sản lưu động, doanh nghiệp phải ứng ra một số vốn tiền tệ nhất
định đầu tư vào các tài sản đó. Số vốn này được gọi là vốn lưu động của doanh nghiệp.
Vốn lưu động là số vốn tiền tệ ứng ra để hình thành nên TSLĐ của DN để
đảm bảo quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra thường xuyên liên
tục. VLĐ là điều kiện vật chất không thể thiếu của quá trình tái sản xuất. VLĐ còn là
công cụ phản ánh và đánh giá của quá trình vận động của vật tư. Số VLĐ nhiều hay ít
là phản ánh số lượng vật tư hàng hóa dự trữ và sử dụng ở các khâu nhiều hay ít.
* Đặc điểm vốn lưu động của doanh nghiệp
Trong quá trình tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh, do bị chi phối
bởi các đặc điểm của TSLĐ nên VLĐ của doanh nghiệp có các đặc điểm sau:
Vốn lưu động trong quá trình chu chuyển luôn thay đổi hình thái biểu hiện
- Trong DN sản xuất VLĐ vận động và chuyển hóa qua ba giai đoạn:
+ Giai đoạn 1: Giai đoạn dự trữ. Vốn bằng tiền được chuyển thành vốn vật tư
dự trữ.
+ Giại đoạn bán hàng: VLĐ chuyển từ hàng hóa dự trữ thành tiền.
Sự vận động của VLĐ được thể hiện qua công thức:
T H T’: Trong đó T’ = T + T.
Khi tham gia hoạt động SXKD, VLĐ chuyển toàn bộ giá trị ngay trong một
lần và được hoàn lại khi DN thu tiền bán hàng. Vì vậy khi kết thúc chu kì kinh
doanh VLĐ cũng hoàn thành một vòng luân chuyển vốn.
Quá trình vận động của vốn lưu động là một chu kỳ khép kín từ hình thái này
sang hình thái khác rồi trở về hình thái ban đầu với giá trị lớn hơn giá trị ban đầu.
Chu kỳ vận động của vốn lưu động là cơ sở đánh giá khả năng thanh toán và hiệu
quả sản xuất kinh doanh, hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp.
* Vai trò của vốn lưu động
- Vốn lưu động có vai trò quan trọng trong quá trình sản xuất kinh doanh.
Vốn lưu động là một bộ phận không thể thiếu đối với mọi hoạt động sản xuất kinh
doanh, là bộ phận quan trọng trong cơ cấu vốn kinh doanh của doanh nghiệp. Do
đó, việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động sẽ làm cho hiệu quả sử dụng vốn
kinh doanh nói chung tăng lên.
- Xuất phát từ mục đích hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là
vì lợi nhuận. Lợi nhuận là chỉ tiêu chất lượng phản ánh kết quả của toàn bộ hoạt
động sản xuất kinh doanh và là nguồn tích luỹ cơ bản để tái sản xuất mở rộng. Lợi
nhuận tác động trực tiếp lên tất cả các mặt hoạt động, ảnh hưởng trực tiếp đến tình
hình tài chính của doanh nghiệp. Do vậy, làm thế nào để có lợi nhuận và lợi nhuận
ngày càng nhiều là mục tiêu hướng tới của các doanh nghiệp. Để đạt được điều đó
thì các doanh nghiệp phải tăng cường công tác tổ chức, quản lý kinh doanh. Trong
đó, quan trọng nhất là việc tổ chức, quản lý và sử dụng vốn lưu động.
- Sự luân chuyển nhanh hay chậm của vốn lưu động biểu hiện việc sử dụng
vật tư tiết kiệm hay lãng phí, thời gian nằm ở khâu sản xuất và lưu thông có hợp lý
hay không.
SV: Nguyễn Đình Hoàn
cách chi tiết, vốn về hàng tồn kho bao gồm: vốn nguyên vật liệu chính; vốn vật
liệu phụ; vốn nhiên liệu; vốn phụ tùng thay thế; vốn vật đóng gói; vốn công cụ
dụng cụ; vốn sản phẩm dở dang; vốn về chi phí trả trước; vốn thành phẩm.
Việc phân loại vốn lưu động theo cách này tạo điều kiện thuận lợi cho việc
xem xét đánh giá mức tồn kho dự trữ và khả năng thanh toán của doanh nghiệp.
Ngoài ra, thông qua cách phân loại này có thể tìm các biện pháp phát huy chức
năng các thành phần vốn và biết được kết cấu vốn lưu động theo hình thái biểu
hiện để định hướng điều chỉnh hợp lý có hiệu quả.
SV: Nguyễn Đình Hoàn
Lớp: CQ48/11.1LT
11
Luận văn tốt nghiệp
11
Học viện Tài chính
* Dựa theo vai trò của vốn lưu động đối với quá trình sản xuất kinh doanh, vốn
lưu động được chia thành ba loại:
- Vốn lưu động trong khâu dự trữ sản xuất, gồm các khoản:
+ Vốn nguyên vật liệu chính: Là số tiền biểu hiện giá trị các loại vật tư dự
trữ cho sản xuất, khi tham gia sản xuất nó hợp thành thực thể của sản phẩm.
+ Vốn nguyên vật liệu phụ: Là giá trị những vật tư dự trữ trong sản xuất
dùng cho việc hình thành sản phẩm nhưng không hợp thành thực thể chủ yếu của
sản phẩm.
+ Vốn nhiên liệu: Là giá trị những loại nhiên liệu dự trữ phục vụ cho quá
trình sản xuất sản phẩm.
Vốn lưu động được chia làm bốn loại và được sắp xếp theo tính thanh khoản
từ cao đến thấp như sau:
+ Vốn tiền mặt.
+ Vốn đầu tư ngắn hạn.
+ Vốn các khoản phải thu.
+ Vốn hàng tồn kho.
Vốn tiền mặt có tính thanh khoản cao nhất, luôn dùng được trực tiếp để
thanh toán, lưu thông, tích trữ. Còn hàng tồn kho có tính thanh khoản thấp nhất vì
phải trải qua giai đoạn phân phối và tiêu thụ chuyển thành khoản phải thu, rồi từ
khoản phải thu sau một thời gian mới chuyển thành tiền mặt.
Cách phân loại này cho thấy vai trò và sự phân bổ của vốn lưu động trong
từng khâu của quá trình sản xuất kinh doanh. Từ đó có các biện pháp điều chỉnh
cơ cấu vốn lưu động hợp lý sao cho có hiệu quả sử dụng cao nhất.
1.1.3. Nguồn hình thành vốn lưu động của doanh nghiệp
* Dựa theo thời gian huy động vốn, nguồn VLĐ gồm:
- Nguồn vốn lưu động thường xuyên: là nguồn vốn có tính chất ổn định, có
thể sử dụng lâu dài, gồm vốn chủ sở hữu (VCSH) và nợ dài hạn tài trợ cho TSLĐ.
Ưu điểm: Sử dụng an toàn và lâu dài, giúp đảm bảo tình hình hoạt động sản
xuất kinh doanh được diễn ra thường xuyên liên tục.
Hạn chế: Chi phí sử dụng vốn cao, bị hạn chế về điều kiện tín dụng, huy
động vốn dài hạn thường có giới hạn nhất định.
- Nguồn VLĐ tạm thời: Là nguồn vốn có tính chất ngắn hạn, nó tài trợ VLĐ
trong những trường hợp: giá vật tư, hàng hóa trên thị trường tăng lên mà DN không
dự kiến được; khi DN đột ngột xuất, nhận thêm những đợt hàng mới trong trường
hợp DN sản xuất, kinh doanh những mặt hàng có tính chất thời vụ. Nguồn tài trợ ở
đây chính là vay và nợ ngắn hạn và các khoản chiếm dụng.
Ưu điểm:
+ Chi phí sử dụng nguồn vốn lưu động tạm thời thường thấp hơn so với
nguồn vốn lưu động thường xuyên.
quản trị vốn lưu động. Mục tiêu của quản trị vốn lưu động là huy động vốn đầy đủ,
đáp ứng kịp thời nhu cầu VLĐ của DN, đồng thời đảm bảo tổ chức sử dụng VLĐ
tiết kiệm, có hiệu quả nhằm tối đa hóa lợi ích chủ sở hữu DN.
Trong quản trị vốn bằng tiền, mục tiêu của nó là tối thiểu hóa lượng tiền mặt
phải giữ để đáp ứng nhu cầu giao dịch và dự phòng chi tiêu khi có những biến cố
bất ngờ xảy ra.
Quản trị hàng tồn kho là một phần của quá trình quản lý sản xuất nhằm mục
đích giảm thiểu chi phí hoạt động và chi phí sản xuất bằng cách loại bỏ bớt những
công đoạn kém hiệu quả gây lãng phí...
SV: Nguyễn Đình Hoàn
Lớp: CQ48/11.1LT
14
Luận văn tốt nghiệp
14
Học viện Tài chính
Cùng với quản trị tiền mặt và hàng tồn kho, quản trị khoản phải thu có liên
quan đến quyết định về quản trị tài sản của Giám đốc tài chính. Quản trị khoản phải
thu nhằm mục tiêu đưa ra chính sách bán chịu hợp lý.
1.2.2. Nội dung quản trị vốn lưu động của doanh nghiệp
Là một trong hai thành phần của vốn sản xuất, vốn lưu động bao gồm tiền
mặt, tiền gửi ngân hàng, các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn, các khoản phải thu,
phải trả, hàng tồn kho và tài sản lưu động khác. Vốn lưu động đóng một vai trò
quan trọng trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Do vậy, để tồn tại
và phát triển được thì nhiệm vụ của các doanh nghiệp là làm sao cho quản lý sử
Bên cạnh công tác quản trị nguồn VLĐ doanh nghiệp thì công tác phân bổ,
sử dụng nguồn vốn làm sao cho hợp lý, hiệu quả nhất cũng là một yếu tố rất quan
trọng trong công tác quản trị VLĐ tại các doanh nghiệp.
Từ nguồn VLĐ của doanh nghiệp, các nhà quản trị cần phân bổ, sử dụng
nguồn vốn này để hình thành các tài sản lưu động cần thiết cho quá trình sản xuất
kinh doanh. Các TSLĐ này bao gồm các thành phần chủ yếu sau:
- Tiền và các khoản tương đương tiền.
- Các khoản phải thu ngắn hạn.
- Hàng tồn kho
Tùy thuộc vào đặc thù của lĩnh vực, ngành nghề kinh doanh, đặc điểm của
từng doanh nghiệp mà các doanh nghiệp cần có công tác quản trị phù hợp để tạo ra
một cơ cấu tài sản lưu động hợp lý, cân đối. Một mặt đảm bảo đủ lượng tài sản lưu
động cho từng bộ phận để phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh, mặt khác cần
duy trì các tài sản ở một lượng vừa đủ, hợp lý để tránh tình trạng dư thừa, lãng phí
gây ra tình trạng ứ đọng nguồn vốn, đẩy chi phí sử dụng vốn lên cao.
Thứ tư, quản trị tốt vốn bằng tiền
Quy mô vốn tiền mặt là kết quả thực hiện nhiều quyết định kinh doanh trong
các thời kỳ trước, song việc quản trị vốn tiền mặt không phải là một công việc thụ
động. Để quản trị vốn tiền mặt hợp lý cần:
- Xác định mức dự trữ vốn tiền mặt hợp lý
- Dự đoán và quản lý các luồng nhập xuất vốn tiền mặt (ngân quỹ)
- Quản lý sử dụng các khoản thu chi vốn tiền mặt.
Thứ năm, quản trị tốt nợ phải thu
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, do nhiều nguyên nhân khác nhau nên
thường tồn tại một khoản vốn trong thanh toán, đó là các khoản phải thu. Tỷ lệ các
khoản phải thu chiếm từ 18-20% trên tổng tài sản của doanh nghiệp. Để giúp doanh
nghiệp có thể nhanh chóng thu hồi các khoản phải thu, hạn chế việc phát sinh chi
phí không cần thiết hoặc rủi ro, doanh nghiệp cần phải có các biện pháp quản lý tốt.
Thứ sáu, quản trị hàng tồn kho
khác nhau. Xem xét tình hình tổ chức huy động vốn và sử dụng vốn lưu động là rất
cần thiết, trên cơ sở đó các doanh nghiệp tìm ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu
suất và hiệu quả sử dụng vốn lưu động để đem lại lợi nhuận cao nhất cho mình.
1.2.3. Các chỉ tiêu đánh giá tình hình quản trị vốn lưu động của DN
1.2.3.1. Tình hình tổ chức đảm bảo nguồn vốn lưu động
* Kết cấu nguồn vốn lưu động
Khi tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh mỗi doanh nghiệp đều phải
cân nhắc thận trọng để quyết định việc huy động và tổ chức nguồn VLĐ nhằm đáp
ứng đầy đủ kịp thời nhu cầu VLĐ của doanh nghiệp. Từ góc độ quản lý tài chính,
mọi nguồn tài trợ đều có chi phí sử dụng của nó, vì vậy việc phân chia nguồn VLĐ
SV: Nguyễn Đình Hoàn
Lớp: CQ48/11.1LT
17
Luận văn tốt nghiệp
17
Học viện Tài chính
thành các nguồn khác nhau cũng như việc phân tích kết cấu nguồn VLĐ của doanh
nghiệp theo các cách phân tích khác nhau sẽ giúp cho doanh nghiệp hiểu rõ hơn về
ưu nhược điểm của từng nguồn. Từ đó xác định đúng các trọng điểm và cách thức
huy động vốn hợp lý.
Căn cứ vào thời gian huy động và sử dụng, VLĐ của doanh nghiệp có thể
chia VLĐ thành hai nguồn:
- Nguồn VLĐ thường xuyên ( NWC ): Là nguồn vốn có tính chất ổn định
hình thành nên tài sản lưu động thường xuyên cần thiết.
xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nguồn vốn này bao gồm các khoản cho vay
ngắn hạn, nợ nhà cung cấp, các khoản phải nộp ngân sách nhà nước chưa đến hạn
phải nộp…. Cách xác định:
Nguồn VLĐ tạm thời = Tài sản ngắn hạn - Nguồn VLĐ thường xuyên
SV: Nguyễn Đình Hoàn
Lớp: CQ48/11.1LT
18
Luận văn tốt nghiệp
18
Học viện Tài chính
Việc phân loại VLĐ trên giúp cho người quản lý xem xét, huy động các
nguồn VLĐ một cách phù hợp với thời gian sử dụng để nâng cao hiệu quả tổ chức
và sử dụng VLĐ của doanh nghiệp.
* Nguồn VLĐ thường xuyên : Là nguồn vốn ổn định có tính chất dài hạn để hình
thành hoặc tài trợ cho TSLĐ thường xuyên cần thiết trong hoạt động kinh doanh
của doanh nghiệp.
NWC = NVDH – TSDH = TSNH – Nợ NH
Ý nghĩa của chỉ tiêu này là đánh giá cách thức tài trợ VLĐ của doanh nghiệp,
để đánh giá mức độ an toàn hay rủi ro tài chính trong hoạt động của doanh nghiệp.
+ NWC > 0: tình hình tài trợ của doanh nghiệp có thể đánh giá là ổn định
+ NWC ≤ 0: tình hình tài trợ của doanh nghiệp có dấu hiệu mạo hiểm
* Mức chênh lệch giữa nhu cầu VLĐTX kế hoạch và nhu cầu VLĐTX thực tế
Để xây dựng một kế hoạch vốn lưu động đầy đủ, chính xác thì khâu đầu tiên
doanh nghiệp phải xác định đúng nhu cầu vốn lưu động cho hoạt động sản xuất kinh
Từ cách phân loại trên DN có thể xác định kết cấu Vốn lưu động của mình
theo những tiêu thức khác nhau. Việc phân tích kết cấu VLĐ của DN theo các tiêu
thức phân loại khác nhau sẽ giúp DN hiểu rõ hơn những đặc điểm riêng của số VLĐ
mà mình đang quản lí và sử dụng. Từ đó xác định đúng các trọng điểm và các biện
pháp quản trị VLĐ hiệu quả hơn, phù hợp hơn với điều kiện cụ thể của DN.
SV: Nguyễn Đình Hoàn
Lớp: CQ48/11.1LT
20
Luận văn tốt nghiệp
20
Học viện Tài chính
+ Kết cấu vốn lưu động theo vai trò
Kết cấu vốn lưu động được phân tích theo vai trò của vốn lưu động trong
quá trình sản xuất nhằm xem xét đánh giá tình hình phân bổ vốn lưu động trong
từng khâu của quá trình chu chuyển vốn lưu động. Nhận rõ vai trò, tình hình phân
bổ của vốn lưu động trong từng khâu, nhà quản lý sẽ có biện pháp phân bổ, điều
chỉnh hợp lý giá trị vốn lưu động tại mỗi khâu nhằm đảm bảo nhiệm vụ sản xuất
kinh doanh, nâng cao vòng quay của vốn lưu động.
Theo tiêu thức này, kết cấu vốn lưu động bao gồm: vốn lưu động trong khâu dự
trữ sản xuất, vốn lưu động trong khâu sản xuất và vốn lưu động trong khâu lưu thông.
+ Kết cấu vốn lưu động theo hình thái biểu hiện
Theo tiêu thức này, vốn lưu động bao gồm vốn vật tư, hàng hóa; vốn bằng
tiền và các khoản phải thu. Kết cấu vốn lưu động được phân tích theo hình thái biểu
hiện của VLĐ nhằm xem xét, đánh giá mức độ dự trữ tồn kho, khả năng thanh toán,
thành phẩm dự trữ. Nếu thuận lợi thì dự trữ ít và ngược lại.
- Khả năng cung cấp của thị trường: Nếu là loại vật tư khan hiếm thì phải dự
trữ nhiều và ngược lại.
- Hợp đồng cung cấp hoặc hợp đồng về tiêu thụ sản phẩm: Tùy thuộc về thời
hạn cung cấp hoặc giao hàng, số lượng vật tư nhập và xuất, nếu việc cung cấp
thường xuyên thì lượng dự trữ ít hơn.
* Nhóm nhân tố về mặt thanh toán:
- Phương thức thanh toán nhanh, hợp lí; giải quyết nhanh, kịp thời thì sẽ làm
giảm tỉ trọng vốn phải thu.
- Tình hình quản lí khoản phải thu của DN và việc chấp hành kỉ luật thanh
toán của khách hàng sẽ ảnh hưởng đến vốn phải thu. Nếu vốn phải thu lớn thì khả
năng tái sản xuất sẽ khó khăn dẫn đến khả năng trả nợ của DN kém.
Ngoài các nhân tố kể trên, kết cấu VLĐ còn chịu ảnh hưởng bởi tính chất
thời vụ của sản xuất, trình độ tổ chức và quản lí.
1.2.3.3. Tình hình quản trị VLĐ trong các khâu.
* Quản trị vốn bằng tiền:
Vốn bằng tiền của doanh nghiệp gồm tiền mặt tại quỹ và tiền gửi ngân hàng.
Vốn bằng tiền là yếu tố trực tiếp quyết định khả năng thanh toán của một doanh
nghiệp, tương ứng với một quy mô kinh doanh nhất định đòi hỏi phải có một lượng
tiền tương xứng mới đảm bảo cho tình hình tài chính của doanh nghiệp ở trạng thái
bình thường. Một doanh nghiệp chỉ có thể tồn tại khi nó đáp ứng được các nghĩa vụ
thanh toán đến hạn. Nhóm hệ số khả năng thanh toán là cơ sở để kiểm tra khả năng
thanh toán nợ ngắn hạn của doanh nghiệp.
- Hệ số khả năng thanh toán nhanh
Hệ số khả năng thanh
toán nhanh
SV: Nguyễn Đình Hoàn
Tổng tài sản ngắn hạn – Hàng tồn kho
Hệ số này cho phép đánh giá sát hơn khả năng thanh toán của doanh nghiệp,
đặc biệt là trong giai đoạn nền kinh tế gặp khủng hoảng khi hàng tồn kho không tiêu
thụ được và nhiều khoản nợ phải thu gặp khó khăn khó có khả năng thu hồi.
* Quản trị nợ phải thu
Khoản phải thu là số tiền khách hàng nợ doanh nghiệp do mua chịu hàng hóa,
dịch vụ. Khi kinh doanh thì hầu hết các doanh nghiệp đều có khoản nợ phải thu
nhưng với quy mô, mức độ khác nhau. Khoản phải thu từ khách hàng thường chiếm
tỷ trọng lớn trong tổng VLĐ của doanh nghiệp, do đó quản trị khoản phải thu là một
vấn đề rất quan trọng và phức tạp trong công tác quản trị tài chính doanh nghiệp.
Việc quản lý khoản phải thu từ khách hàng liên quan mật thiết với tiêu thụ sản phẩm,
từ đó tác động lớn đến doanh thu bán hàng và lợi nhuận của doanh nghiệp.
Nợ phải thu của doanh nghiệp bao gồm các khoản phải thu khách hàng, phải
thu tạm ứng và phải thu khác. Để đo lường năng lực quản lý và mức độ hoạt động
của các khoản phải thu, ta sử dụng chỉ tiêu số vòng quay nợ phải thu và kỳ thu tiền
trung bình.
- Số vòng quay nợ phải thu:
Doanh thu bán hàng
Số vòng quay nợ phải thu
=
Số nợ phải thu bình quân trong kỳ
Chỉ tiêu trên phản ánh tốc độ thu hồi công nợ của doanh nghiệp.
SV: Nguyễn Đình Hoàn
Lớp: CQ48/11.1LT
và các khoản nợ phải trả như thế nào để từ đó có kế hoạch điều chỉnh cơ cấu tài
chính hợp lý cũng như đưa ra các biện pháp hiệu quả nhất để thu hồi công nợ, hạn
chế nợ quá hạn và nợ khó đòi tăng cao; đồng thời nâng cao hiệu quả hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp và giảm thiểu sự phụ thuộc vào nguồn lực bên ngoài, đảm
bảo khả năng thanh toán của doanh nghiệp.
SV: Nguyễn Đình Hoàn
Lớp: CQ48/11.1LT
24
Luận văn tốt nghiệp
24
Học viện Tài chính
* Quản trị vốn tồn kho dự trữ
Tồn kho dự trữ là những tài sản mà doanh nghiệp dự trữ để đưa vào sản xuất
hoặc bán ra sau này. Các doanh nghiệp sản xuất thường tồn tại ba loại hàng tồn kho
ứng với ba giai đoạn khác nhau của quá trình sản xuất:
+ Tồn kho nguyên vật liệu.
+ Tồn kho sản phẩm dở dang.
+ Tồn kho thành phẩm.
Mỗi loại tồn kho dự trữ trên đều có vai trò khác nhau trong quá trình sản
xuất, tạo điều kiện cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được tiến
hành liên tục và ổn định.
Đối với các doanh nghiệp thương mại, hàng tồn kho chủ yếu là dự trữ hàng
hóa để bán. Vốn lưu động đầu tư vào dự trữ hàng tồn kho gọi là vốn về hàng tồn
kho. Việc quản lý về vốn hàng tồn kho rất quan trọng trong các doanh nghiệp vì:
25
Luận văn tốt nghiệp
25
Học viện Tài chính
Thông thường, số vòng quay HTK cao so với các doanh nghiệp trong ngành
chỉ ra rằng: Việc tổ chức và quản lý dự trữ của doanh nghiệp là tốt, doanh nghiệp có
thể rút ngắn được chu kỳ kinh doanh và giảm được lượng vốn bỏ vào HTK. Nếu số
vòng quay HTK thấp, doanh nghiệp có thể dự trữ vật tư quá mức cần thiết dẫn đến
tình trạng bị ứ đọng hay sản phẩm bị tiêu thụ chậm. Từ đó có thể dẫn đến dòng tiền
vào của doanh nghiệp bị giảm đi và có thể đặt doanh nghiệp vào tình trạng khó
khăn về tài chính trong thời gian tới. Tuy nhiên, để đánh giá thỏa đáng cần xem xét
cụ thể và sâu hơn tình hình của doanh nghiệp.
* Mô hình quản lý hàng tồn kho hiệu quả ( EOQ):
Mô hình EOQ dự trên cơ sở xem xét mối quan hệ giữ chi phí đặt hàng với
chi phí tồn trữ. Khi mà số lượng số lượng sản phẩm hàng hoá cho mỗi lần đặt mua
tăng lên, số lần đặt hàng trong kỳ giảm đi dần đến chi phí đặt hàng giảm trong khi
chi phí tồn kho tăng lên. Từ đó xác định lượng đặt hàng kinh tế:
QE
2× c 2 × Qn
c1
=
Trong đó: