Các giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường quản trị vốn lưu động tại Công ty cổ phần chế tạo Bơm Hải Dương - Pdf 34

1

1

LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu:
Trong những năm qua, cùng với tiến độ hội nhập của nước ta và sự
phát triển kinh tế, các doanh nghiệp nói chung và các doanh nghiệp sản xuất
nói riêng phải đương đầu với rất nhiều thách thức lớn. Ngày nay tràn ngập các
doanh nghiệp trong nước cùng sản xuất một loại hàng hóa với sự đa dạng về
mẫu mã, chủng loại, giá cả… Đồng thời các doanh nghiệp trong nước phải
đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt của các doanh nghiệp nước ngoài với lợi thế
về vốn, công nghệ… đã làm cho doanh nghiệp trong nước muốn tồn tại và
phát triển phải có những chính sách kinh tế, hoạt động sản xuất hợp lý giúp
nâng cao chất lượng, hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Một doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì điều đầu tiên phải có
vốn. Vốn là điều kiện tiên quyết cho sự ra đời của doanh nghiệp. Tuy nhiên,
để phát triển thì doanh nghiệp không những phải bảo toàn được nguồn vốn đã
bỏ ra mà phải phát triển được nguồn vốn đó. Thực tế cho thấy rằng không chỉ
ở nước ta mà nhiều nước trên thế giới, tình trạng sử dụng vốn lãng phí, kém
hiệu quả đang diễn ra rất phổ biến. Việc quản trị vốn của doanh nghiệp có
hiệu quả hay không sẽ ảnh hưởng rất lớn đến kết quả hoạt động sản xuất kinh
doanh.
Ngày nay với sự tiến bộ không ngừng của khoa học công nghệ cùng với
sự cạnh tranh ngày càng gay gắt của thị trường, các doanh nghiệp muốn phát
triển thì nhu cầu về vốn cho việc mở rộng quy mô hoạt động ngày càng lớn.
Vì thế đòi hỏi công tác tổ chức quản trị vốn sao cho có hiệu quả có ý nghĩa vô
cùng quan trọng. Trước hết nó sẽ quyết định sự tồn tại và sau đó là khẳng
định vị thế cho doanh nghiệp.

1

hệ cân đối và tổng hợp đánh giá.
5. Kết cấu luận văn tốt nghiệp
Ngoài phần phụ lục, lời mở đầu, danh mục viết tắt, kết luận, tài liệu tham
khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương

2

2


3

3

Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về vốn lưu động và quản trị vốn lưu
động của doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng quản trị vốn lưu động tại công ty cổ phần chế tạo Bơm
Hải Dương trong thời gian qua
Chương 3: Các giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường quản trị vốn lưu động tại
công ty cổ phần chế tạo Bơm Hải Dương.
Với thời gian thực tập, điều kiện nghiên cứu và lượng kiến thức tích lũy
có hạn nên mặc dù em đã cố gắng nhưng cuốn luận văn này vẫn có thể không
tránh khỏi những thiếu sót. Em mong nhận được sự đóng góp ý kiến của thầy
cô và các cán bộ công nhân viên trong công ty cổ phần chế tạo Bơm Hải
Dương.

3

3


trình lưu thông của doanh nghiệp như thành phẩm trong kho chờ tiêu thụ, các
khoản phải thu, vốn bằng tiền.
4

4


5

5

Trong quá trình kinh doanh, TSLĐ sản xuất và TSLĐ lưu thông luôn vận
động, chuyển hóa, thay thế đổi chỗ cho nhau, đảm bảo cho quá trình sản xuất
kinh doanh được diễn ra nhịp nhàng, liên tục.
Để hình thành các TSLĐ, doanh nghiệp phải ứng ra một số vốn tiền tệ
nhất định để mua sắm các tài sản đó, số vốn này được gọi là vốn lưu động của
doanh nghiệp. Như vậy: Vốn lưu động là toàn bộ số tiền ứng trước mà doanh
nghiệp bỏ ra để đầu tư hình thành nên các TSLĐ thường xuyên cần thiết cho
hoạt động SXKD của doanh nghiệp. Nói cách khác, VLĐ là biểu hiện bằng
tiền của các TSLĐ trong doanh nghiệp.
1.1.1.2. Đặc điểm chu chuyển vốn lưu động (so với vốn cố định)
Là số vốn ứng ra để hình thành nên tài sản lưu động, do đó, đặc điểm
của vốn lưu động bị chi phối bởi đặc điểm của tài sản lưu động:
- Vốn lưu động luôn thay đổi hình thái biểu hiện trong quá trình chu
chuyển vốn:
Trong doanh nghiệp sản xuất vốn lưu động được chuyển hóa và vận động
thông qua ba giai đoạn:
Giai đoạn 1: Giai đoạn dự trữ vật tư. Vốn bằng tiền chuyển hóa thành vốn dự
trữ
Giai đoạn 2: Giai đoạn sản xuất. Vốn lưu động được chuyển hóa từ vốn dự

- Vốn lưu động trong khâu dự trữ sản xuất gồm các khoản:
+ Vốn nguyên, vật liệu chính
+ Vốn vật liệu phụ
+ Vốn nhiên liệu
+ Vốn phụ tùng thay thế
+ Vốn vật liệu đóng gói
+Vốn công cụ dụng cụ
- Vốn lưu động trong khâu trực tiếp sản xuất gồm:
+ Vốn sản xuất đang chế tạo
+ Vốn bán thành phẩm tự chế
+ Vốn về chi phí chờ kết chuyển
- Vốn lưu động nằm trong khâu lưu thông gồm:
+ Vốn về thành phẩm: Là biểu hiện bằng tiền của số sản phẩm hoàn
thành nhập kho và đang chuẩn bị cho tiêu thụ
6

6


7

7

+ Vốn bằng tiền: Bao gồm các khoản quỹ tiền mặt tồn quỹ, tiền gửi
ngân hàng (kể cả vàng bạc đá quý) mà trong quá trình luân chuyển vốn lưu
động thường có một bộ phận tồn tại dưới hình thái này.
+ Vốn trong thanh toán: Là các khoản phải thu, khoản tạm ứng phát
sinh trong quá trình mua vật tư hàng hóa hoặc thanh toán nội bộ
+ Các khoản vốn đầu tư ngắn hạn: Đầu tư chứng khoán ngắn hạn, các
khoản ký cược ký quỹ ngắn hạn, các khoản thế chấp…

tư dự trữ, vốn sản phẩm dở dang, vốn thành phẩm. Các loại này được gọi
chung là vốn về hàng tồn kho. Một cách chi tiết hơn, ta có thể thấy vốn về
hàng tồn kho của doanh nghiệp bao gồm:
Vốn về nguyên vật liệu chính: Là giá trị các loại nguyên vật liệu chính
dự trữ cho sản xuất, khi tham gia vào sản xuất, chúng hợp thành thực thể của
sản phẩm.
Vốn vật liệu phụ: Là giá trị các loại vật liệu phụ dự trữ cho sản xuất,
giúp cho việc hình thành sản phẩm, nhưng không hợp thành thực thể chính
của sản phẩm, chỉ làm thay đổi màu sắc, mùi vị, hình dáng bề ngoài của sản
phẩm hoặc tạo điều kiện cho quá trình SXKD thực hiện thuận lợi.
Vốn nhiên liệu: Là giá trị các loại nhiên liệu dự trữ dùng trong hoạt
động SXKD.
Vốn phụ tùng thay thế: Là giá trị các loại vật tư dùng để thay thế, sửa
chữa các tài sản cố định.
Vốn vật liệu đóng gói: Là giá trị các loại vật liệu bao bì dùng để đóng
gói sản phẩm trong qua trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.
Vốn công cụ, dụng cụ: Là giá trị các loại công cụ dụng cụ không đủ tiêu
chuẩn là tài sản cố định dùng cho hoạt động kinh doanh.
Vốn sản phẩm đang chế: Là biểu hiện bằng tiền các chi phí SXKD đã
bỏ ra cho các loại sản phẩm đang trong quá trình sản xuất (giá trị sản phẩm dở
dang, bán thành phẩm).
Vốn về chi phí trả trước: Là các khoản chi phí thực tế đã phát sinh
nhưng có tác dụng cho nhiều chu kỳ SXKD nên chưa thể tính hết vào giá
thành sản phẩm trong kỳ này, mà được tính dần vào giá thành sản phẩm các
kỳ tiếp theo như chi phí cải tiến kỹ thuật, chi phí nghiên cứu thí nghiệm…

8

8


* Nguồn vốn lưu động thường xuyên : là nguồn vốn ổn định có tính
chất dài hạn để hình thành hay tài trợ cho TSLĐ thường xuyên cần thiết trong
9

9


10

10

hoạt động kinh doanh của DN. Để đảm bảo quá trình sản xuất kinh doanh
được tiến hành thường xuyên, liên tục thì tương ứng với một quy mô kinh
doanh nhất định, thường xuyên phải có một lượng TSLĐ nhất định nằm trong
các giai đoạn luân chuyển như các tài sản dự trữ về nguyên vật liệu, sản phẩm
đang chế tạo, bán thành phẩm, thành phẩm và nợ phải thu từ khách hàng.
Nguồn VLĐ thường xuyên của DN tại một thời điểm được xác định theo
công thức :

Nguồn VLĐ thường
xuyên

Tổng nguồn vốn
=

thường xuyên của

-

TSDH

Do đặc điểm nguồn vốn tạm thời có thời gian sử dụng ngắn, rất nhanh
phải hoàn trả nên nguồn vốn này có nhược điểm là nguy cơ mất khả năng
thanh toán hoặc không đảm bảo khả năng thanh toán đúng hạn, tuy nhiên
nguồn vốn này có ưu điểm là chi phí sử dụng vốn nhỏ hơn so với nguồn vốn
thường xuyên của doanh nghiệp, nhất là đối với các khoản vốn chiếm dụng
doanh nghiệp không phải trả lãi, tuy nhiên không nên lạm dụng nguồn chiếm
dụng vì quy mô chiếm dụng bị giới hạn. Ngoài ra việc sử dụng nguồn vốn
ngắn hạn giúp doanh nghiệp có thể thực hiện dễ dàng, thuận lơi hơn so với
nguồn vốn dài hạn do các yêu cầu là ít khắt khe hơn. Hơn nữa sử dụng tín
dụng ngắn hạn sẽ giúp doanh nghiệp linh hoạt hơn trong việc điều chỉnh cơ
cấu nguồn vốn của doanh nghiệp.
1.2. Quản trị vốn lưu động của doanh nghiệp
1.2.1. Khái niệm và mục tiêu quản trị vốn lưu động của doanh nghiệp
1.2.1.1. Khái niệm
Quản trị vốn lưu động là việc hoạch định, tổ chức thực hiện, kiểm soát
và điều chỉnh toàn bộ quá trình tạo lập, sử dụng vốn lưu động phục vụ cho
các hoạt động của doanh nghiệp.
Quản lý, sử dụng hợp lí TSLĐ cũng như VLĐ có ảnh hưởng rất lớn đối
với việc hoàn thành các mục tiêu chung của DN. Việc quản lý tốt VLĐ phần
nào thể hiện sự kinh doanh hiệu quả của DN, ngoài ra có thể nhận thấy VLĐ
thay đổi theo nhịp độ sản xuất của từng chu kỳ kinh doanh, chính vì vậy
VLĐ được coi là một tiêu chí đảm bảo về khả năng thanh toán tại một thời
điểm cũng như khả năng thanh toán trong tương lai, hơn nữa VLĐ cũng là
cầu nối giữa cân bằng tài chính trong ngắn hạn và dài hạn của DN. Vì vậy,
quản trị VLĐ hiệu quả đóng một vai trò quan trọng trong chiến lược phát
triển lâu dài của DN.
1.2.1.2. Mục tiêu
11

11

lưu động thường xuyên cần thiết và nhu cầu vốn lưu động ngắn hạn (không
thường xuyên). Nhu cầu vốn lưu động ngắn hạn là số vốn lưu động tối thiểu
cần thiết phải có để đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

12

12


13

13

diễn ra một cách bình thường trong một khoảng thời gian ngắn nhất định. Nhu
cầu này của doanh nghiệp chỉ xác định khi gắn trong xác định kế hoạch tài
chính tác nghiệp của doanh nghiệp. Còn đối với các trường hợp khác doanh
nghiệp chỉ xác định nhu cầu vốn lưu động thường xuyên cần thiết.
Nhu cầu VLĐ thường xuyên cần thiết là số VLĐ tối thiểu cần thiết phải
có để đảm bảo cho hoạt động SXKD của DN được tiến hành bình thường, liên
tục.
Trong quản trị VLĐ, các DN cần chú trọng xác định đúng đắn nhu cầu
VLĐ thường xuyên cần thiết, phù hợp với quy mô và điều kiện kinh doanh cụ
thể của DN. Việc xác định đúng đắn nhu cầu vốn lưu động thường xuyên cần
thiết có ý nghĩa rất lớn đối với doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp vừa đủ lượng
vốn lưu động cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh, tránh cho doanh
nghiệp sản xuất bị gián đoạn vì thiếu vốn, vừa giúp doanh nghiệp không lãng
phí do việc dự trữ nhiều lượng vốn lưu động hơn mức cần thiết
Để xác định nhu cầu VLĐ của DN có thể sử dụng 2 phương pháp
trực tiếp hoặc gián tiếp.
• Phương pháp trực tiếp


Phương pháp gián tiếp
Phương pháp này dựa vào phân tích tình hình thực tế sử dụng
vốn lưu động của doanh nghiệp năm báo cáo, sự thay đổi về quy mô
kinh doanh và tốc độ luân chuyển VLĐ năm kế hoạch hoặc sự biến
động nhu cầu VLĐ theo doanh thu thực hiện năm báo cáo để xác định
nhu cầu VLĐ theo doanh thu thực hiện năm báo cáo để xác định nhu
cầu vốn lưu động của doanh nghiệp năm kế hoạch

+ Phương pháp điều chỉnh theo tỷ lệ phần trăm nhu cầu VLĐ so với
năm báo cáo. Thực chất phương pháp này là dựa vào thực tế nhu cầu vốn lưu
động năm báo cáo và điều chỉnh nhu cầu theo quy mô vốn kinh doanh và tốc
độ luân chuyển VLĐ năm kế hoạch.
Trong đó:
VKH: Vốn lưu động năm kế hoạch
MKH, MBC: Mức luân chuyển năm kế hoạch, báo cáo.
t%: Tỷ lệ rút ngắn kỳ luân chuyển VLĐ năm kế hoạch
Theo đó:
Kkh, Kbc: kỳ luân chuyển năm kế hoạch, báo cáo.

14

14


15

15

+ Phương pháp dựa vào tổng mức luân chuyển vốn và tốc độ luân

16

16

Ưu điểm của phương pháp gián tiếp là tính toán một cách nhanh chóng
và dễ dàng hơn so với phương pháp trực tiếp, tuy nhiên độ chính xác của
phương pháp này không cao.
1.2.2.2

Tổ chức nguồn vốn lưu động một cách hợp lý.

Sau khi xác định đúng đắn nhu cầu vốn lưu động, cần phải tổ chức
nguồn vốn lưu động một cách hợp lý. Tổ chức nguồn vốn lưu động là việc
huy động vốn từ các nguồn khác nhau để đáp ứng nhu cầu vốn lưu động của
doanh nghiệp. Tổ chức nguồn vốn lưu động một cách hợp lý vừa giúp doanh
nghiệp có đủ vốn để đáp ứng hoạt động sản xuất kinh doanh, vừa có thể giúp
đạt được mục tiêu của doanh nghiệp như cơ cấu nguồn vốn tối ưu hay tiết
kiệm chi phí sử dụng vốn cho doanh nghiệp.
1.2.2.3

Quản trị tốt vốn lưu động trong các khâu dưới các hình thái
khác nhau

a. Quản trị vốn bằng tiền
Vốn bằng tiền (gồm tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển) là
một bộ phận cấu thành TSNH của DN. Đây là loại tài sản có tính thanh khoản
cao nhất và quyết định khả năng thanh toán nhanh của DN.
Vai trò của quản trị vốn bằng tiền của doanh nghiệp để thứ nhất nhằm
đáp ứng các yêu cầu giao dịch, thanh toán hàng ngày. Thứ hai giúp doanh
nghiệp nắm bắt các cơ hội sinh lời, thời cơ kinh doanh nhằm tối đa hóa lợi

c. Quản trị vốn tồn kho dự trữ

Tồn kho dự trữ là những tài sản mà doanh nghiệp dự trữ để đưa vào sản
xuất hoặc bán ra sau này.Việc hình thành lượng hàng tồn kho đòi hỏi phải
ứng trước một lượng tiền nhất định gọi là vốn tồn kho dự trữ. Việc quản lý
vốn tồn kho dự trữ là rất quan trọng, không phải vì nó thường chiếm tỷ trọng
lớn trong tổng số VLĐ của doanh nghiệp mà quan trọng hơn là giúp doanh
nghiệp tránh được tình trạng vật tư hàng hoá ứ đọng, chậm luân chuyển, đảm
bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra bình thường,
góp phần đẩy nhanh tốc độ luân chuyển vốn lưu động.
Tồn kho dự trữ làm phát sinh chi phí, do đó cần quản lý chúng sao cho
tiết kiệm, hiệu quả. Chi phí tồn kho dự trữ thường được chia thành 2 loại là
chi phí lưu giữ, bảo quản hàng tồn kho và chi phí thực hiện các hợp đồng
cung ứng. Mô hình quản lý hàng tồn kho dự trữ trên cơ sở tối thiểu hoá tổng
17

17


18

18

chi phí tồn kho dự trữ được gọi là mô hình tổng chi phí tối thiểu.Nội dung cơ
bản của mô hình này là xác định được mức đặt hàng kinh tế (EOQ) để với
mức đặt hàng này thì tổng chi phí tồn kho dự trữ là nhỏ nhất.
c. Quản trị các khoản phải thu
Khoản phải thu là số tiền khách hàng nợ DN do mua chịu hàng hóa
hoặc dịch vụ.
Trong kinh doanh hầu hết các doanh nghiệp đều có khoản nợ phải thu

báo và nhu cầu vốn lưu động thực tế theo cả chênh lệch tuyệt đối và tương
đối, nếu chênh lệch nhiều chứng tỏ phương pháp xác định nhu cầu vốn lưu
động của công ty đang áp dụng có vấn đề, cần sử dụng phương pháp khác phù
hợp hơn.
Cách xác định nhu cầu vốn lưu động dự báo, có 2 phương pháp trực
tiếp và gián tiếp đã được trình bày ở mục 1.2.2.1 (xác định đúng đắn nhu cầu
vốn lưu động)
Nhu cầu vốn lưu động thực tế trong kì được xác định bằng công thức:
Nhu cầu vốn lưu động thực tế = Hàng tồn kho bình quân trong kì + nợ phải
thu bình quân trong kỳ - nợ phải trả nhà cung cấp bình quân trong kì.
b. Cơ cấu nguồn vốn lưu động và NWC.
Theo thời gian huy động và sử dụng vốn lưu động thì nguồn vốn lưu
động của doanh nghiệp được chia thành nguồn vốn lưu động tạm thời và
nguồn vốn lưu động thường xuyên.
Tỷ trọng nguồn vốn tạm thời
trên nguồn vốn lưu động
Tỷ trọng NWC trên nguồn
vốn lưu động

=

Nguồn vốn tạm thời
Nguồn vốn lưu động

x 100%

=

NWC
Nguồn vốn lưu động


-

TSDH

doanh nghiệp

Hoặc có thể xác định bằng công thức:
Nguồn VLĐ thường xuyên =
TSNH
Nợ ngắn hạn
Nếu NWC của doanh nghiệp dương chứng tỏ doanh nghiệp đảm bảo được
nguyên tắc cân bằng tài chính, sử dụng nguồn dài hạn để tài trợ cho tài sản dài
hạn, từ đó khả năng thanh toán của doanh nghiệp sẽ được nâng cao và rủi ro
thấp.
1.2.3.2. Kết cấu vốn lưu động.
Kết cấu vốn lưu động là tỷ trọng thành phần vốn lưu động trong tổng số
vốn lưu động tại một thời điểm nhất định.
- Kết cấu vốn lưu động theo hình thái biểu hiện và tính thanh khoản
Tỷ trọng vốn bằng tiền
Tỷ trọng các khoản đầu
tư tài chính ngắn hạn
Tỷ trọng các khoản phải
thu ngắn hạn

Tỷ trọng hàng tồn kho

20

=

%

x 100%


21

21

Tỷ trọng tài sản ngắn

=

hạn

Tài sản ngắn hạn
Vốn lưu động

x 100%

- Kết cấu vốn lưu động theo vai trò của vốn lưu động:
Tỷ trọng VLĐ khâu dự
trữ sản xuât
Tỷ trọng VLĐ khâu

=

=

sản xuât


X

100%

• Kỳ thu tiền trung bình:
Kỳ thu tiền trung bình

=

Nợ phải thu bình quân
Doanh thu bán chịu bình quân một ngày

• Kỳ trả tiền trung bình
Nợ phải trả bình quân
Tổng GT hàng mua bình quân một ngày
• Kỳ luân chuyển hàng tồn kho bình quân

Kỳ trả tiền trung bình

Kỳ luân chuyển hàng
tồn kho bình quân

=

=

Hàng tồn kho bình quân
Gía vốn hàng bán bình quân một ngày


Hệ số khả năng thanh
toán nhanh

=

Tài sản ngắn hạn - hàng tồn kho
Nợ ngắn hạn

Hệ số này cho biết khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của doanh nghiệp
mà không cần phải thực hiện thanh lý khẩn cấp hàng tồn kho. Hàng tồn kho bị
loại ra do được coi là loại tài sản lưu động có tính thanh khoản thấp. Do đó,
chỉ tiêu này đánh giá chặt chẽ hơn khả năng thanh toán của doanh nghiệp .
• Hệ số khả năng thanh toán tức thời
Hệ số khả năng thanh
toán tức thời

=

Tiền + Các khoản tương đương tiền
Nợ ngắn hạn

1.2.3.4. Tình hình quản lý nợ phải thu.
• Kết cấu nợ phải thu
22

22


23



Số ngày trong kỳ (360)

=

Vòng quay các khoản phải thu

Hay:
Kỳ thu tiền trung bình

=

Số dư bình quân các khoản phải thu
Doanh thu bình quân 1 ngày trong kỳ

Kỳ thu tiền trung bình phản ánh trung bình độ dài thời gian thu tiền bán
hàng của doanh nghiệp kể từ lúc xuất giao hàng cho đến khi thu đươc tiền bán
hàng. Chỉ tiêu này phụ thuộc chủ yếu vào chính sách bán chịu, tổ chức thanh
toán của doanh nghiệp. Khi xem xét chỉ tiêu kỳ thu tiền trung bình, cần đặt
trong mối liên hệ trong sự tăng trưởng của doanh thu. Khi kỳ thu tiền trung

23

23


24

24


tồn kho

=

360
Số vòng quay hàng tồn kho

1.2.3.6. Hiệu suất và hiệu quả sử dụng vốn lưu động
Để đánh giá tình hình quản lý và sử dụng vốn lưu động người ta thường
sử dụng những chỉ tiêu sau:
24

24

x


25

25

• Tốc độ luân chuyển vốn lưu động: Tốc độ luân chuyển vốn lưu động
phản ánh mức độ luân chuyển vốn lưu động nhanh hay chậm và
thường được phản ánh qua các chỉ tiêu số vòng quay vốn lưu động và
kỳ luân chuyển vốn lưu động.
+ Số vòng quay VLĐ:
Số vòng quay VLĐ

Doanh thu thuần trong kỳ



25

x

Số ngày rút ngắn kỳ
luân chuyển VLĐ



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status