MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: ‘‘Vì lợi ích mười năm trồng cây. Vì lợi
ích trăm năm trồng người’’. Câu nói ấy thể hiện tầm nhìn chiến lược của Bác về vai trò
của con người trong sự phát triển đất nước. Người lao động phải có khả năng thích
ứng, khả năng thu nhận và vận dụng linh hoạt, sáng tạo tri thức của nhân loại vào điều
kiện hoàn cảnh thực tế, tạo ra những sản phẩm đáp ứng yêu cầu của xã hội. Để làm
được điều này thì giáo dục, đặc biệt là phương pháp giáo dục là yếu tố trọng tâm.
Phương pháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, tư duy
sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, khả năng thực
hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên. Vận dụng nguyên tắc trên, các nhà sư
phạm , nhà giáo dục Việt Nam đã đề xuất ra nhiều phương pháp dạy học mới và
được coi là tích cực.
Tuy nhiên, trong dạy học nếu chỉ sử dụng một phương pháp dạy học nào đó
thì chắc chắn không thể mang lại hiệu quả cao vì không có phương pháp nào là vạn
năng, mỗi phương pháp dạy học đều có những ưu điểm và hạn chế riêng. Do đó,
người giáo viên cần biết lựa chọn, sử dụng phối hợp các phương pháp dạy học sao
cho phù hợp với mục tiêu, nội dung và những điều kiện dạy học hiện có. Điều đó
không chỉ giúp đạt được mục tiêu dạy học đề ra mà còn khiến học sinh hứng thú
hơn, tích cực hơn trong học tập, lĩnh hội được tri thức một cách sâu sắc và tự nhiên,
từ đó góp phần nâng cao chất lượng dạy học.
Qua tìm hiểu thực tiễn các công trình nghiên cứu cho thấy, có nhiều đề tài
nghiên cứu về phương pháp dạy học tích cực và việc sử dụng chúng trong dạy học
nhưng vẫn còn có những hạn chế và tồn tại nhất định.
Qua tìm hiểu thực tiễn các công trình nghiên cứu cho thấy, có nhiều đề tài đã
đi sâu nghiên cứu về từng phương pháp dạy học tích cực và việc sử dụng chúng
trong dạy học nhưng ít có công trình nào nghiên cứu cụ thể việc vận dụng phối hợp
các phương pháp dạy học vào một bài học cụ thể.
1
chúng tôi đã tìm thấy một số kết quả như sau:
2
(1). “Phương pháp dạy học theo hợp đồng”, địa chỉ:
/>Đây là một bài power point trình bày tóm tắt về nội dung PPDH theo hợp đồng.
(2). “Dạy học theo góc, theo dự án, theo hợp đồng tiếp cận trong giáo dục
nghệ thuật và cuộc sống” của tác giả Ths. Nguyễn Thị Đông, địa chỉ:
/>Đây là bài viết với nội dung nói về điểm tích cực của 3 phương pháp dạy học
theo góc, dạy học theo dự án, dạy học theo hợp đồng.
(3). “Phương pháp dạy học tích cực – dạy học sâu” của tác giả Lê Hương –
Yên Biên, tại địa chỉ:
o/home/modules.php?name=News&op
Đây là bài viết giới thiệu về thông tin và hiệu quả khi thực hiện 3 phương
pháp dạy học sâu theo dự án Việt – Bỉ.
(4). “Hội thảo giới thiệu mô đun học theo hợp đồng” tại địa chỉ:
www.emchonnghegi.edu.vn/.../76-h-i-th-o-gi-i-thi-u-mo-dun-h-c-the.
Nội dung của bài viết nói về WOB đã tổ chức hội thảo giới thiệu mô đun học
theo hợp đồng. Vào ngày 1 và 2 tháng 10 năm 2011, tại Hà Nội. Mô đun học theo
hợp đồng nằm trong gói tài liệu đào tạo giáo viên dạy học tích cực. Cũng giống như
mô đun học theo góc, mô đun học theo hợp đồng giới thiệu một số khái niệm và
phương pháp về giáo dục dựa trên trải nghiệm.
(5). “Về đổi mới PPDH ở các trường sư phạm trong xu thế hội nhập” của tác
giả: PGS.TS Cao Đức Tiến thuộc viện nghiên cứu Sư phạm, trường Đại học sư
phạm Hà Nội, tại địa chỉ: Bài viết giới
thiệu nhiều PPDH tích cực mới được du nhập và sử dụng, trong đó có các PPDH
theo dự án, theo góc và hợp đồng,…
(6). “Tập huấn đồng đẳng về 3 PPDH – Học theo góc, theo hợp đồng, theo dự
án T7/2008” theo dự án Việt – Bỉ tại 14 tỉnh, tại địa chỉ:
(8). Nguyễn Văn Quý (2010), Dạy học phân hoá bằng hệ thống bài tập ở
phần phản ứng oxi hoá khử và phi kim lớp 10 trung học phổ thông, Luận văn thạc
sĩ. Trường Đại học Sư phạm Huế, Huế.
(9). Nguyễn Hoàng Uyên (2008). Thiết kế và thực hiện bài giảng hóa học lớp
10 ban cơ bản trường THPT theo hướng dạy học tích cực. Luận văn thạc sĩ. Trường
ĐHSPTPHCM, TP. Hồ Chí Minh.
Nhìn nhận lại vấn đề, chúng tôi nhận thấy dạy học theo quan điểm dạy học
phân hóa đang ngày càng được các nhà giáo dục nước ta nói chung và giáo viên dạy
học môn hóa học nói riêng quan tâm trong xu thế đổi mới PPDH như hiện nay
4
3. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu việc vận dụng một số PPDH tích cực trong dạy học phần
hiđrocacbon - Hóa học 11 nâng cao nhằm phát huy tính tích cực và sáng tạo của
học sinh, nâng cao chất lượng dạy học hóa học ở trường THPT.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận định hướng đổi mới PPDH, lí luận về một số PPDH
tích cực. Cơ sở lí luận về PPDH các bài về chất hữu cơ phần hiđrocacbon – Hóa học
11 nâng cao.
- Điều tra thực trạng việc vận dụng một số PPDH tích cực trong dạy học phần
hiđrocacbon - Hoá học 11 nâng cao ở một số trường THPT trên địa bàn thành phố
Hà Nội.
- Nghiên cứu cấu trúc nội dung, cấu trúc logic phần hiđrocacbon - Hóa học 11
nâng cao. Từ đó đề xuất cơ sở lựa chọn và vận dụng một số PPDH tích cực trong
dạy học phần hiđrocacbon - Hóa học 11 nâng cao.
- Thực nghiệm sư phạm về việc vận dụng một số PPDH tích cực trong dạy học
phần hiđrocacbon - Hóa học 11 nâng cao ở một số trường THPT trên địa bàn thành
phố Hà Nội.
- Xây dựng một số giáo án dạy học có sử dụng PPDH tích cực đã đề xuất ở
trên trong dạy học phần hiđrocacbon – hóa học 11 nâng cao.
- Đánh giá tính khả thi và hiệu quả việc sử dụng PPDH tích cực trên trong dạy
học phần hiđrocacbon – hóa học 11 nâng cao.
6
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHƯƠNG PHÁP DẠY
HỌC TÍCH CỰC
1.1. Đổi mới phương pháp dạy học hóa học ở trường phổ thông
1.1.1. Những đặc trưng của đổi mới phương pháp dạy học [11]
Các PPDH truyền thống tuy đã khẳng định được những thành công nhất định,
nhưng vẫn còn nhiều hạn chế. Phổ biến vẫn là PPDH thuyết trình, thiên về truyền
thụ kiến thức một chiều, áp đặt, không đáp ứng với các yêu cầu đã nêu. Do đó
chúng ta phải đổi mới PPDH theo hướng dạy cách học, cách suy nghĩ, dạy phương
pháp tư duy. Cụ thể là:
- Phát huy tính chủ động, sáng tạo trong quá trình nhận thức, vận dụng.
- Tạo điều kiện để học sinh tự phát hiện, tìm hiểu, đặt và giải quyết vấn đề.
- Tăng cường trao đổi, thảo luận.
- Tạo điều kiện hợp tác trong nhóm.
- Tạo điều kiện cho học sinh tự đánh giá, đánh giá lẫn nhau.
- Tận dụng tri thức thực tế của học sinh để xây dựng kiến thức mới.
Như vậy đổi mới PPDH nói chung và PPDH hóa học nói riêng là một yêu cầu
khách quan và là một nhu cầu tất yếu của xã hội học tập.
1.1.2. Một số biện pháp đổi mới phương pháp dạy học [15]
- Đổi mới việc thiết kế và chuẩn bị bài dạy học
- Cải tiến các PPDH truyền thống
- Kết hợp đa dạng các PPDH
- Vận dụng dạy học giải quyết vấn đề
- Dạy và học coi trọng hướng dẫn tìm tòi
- Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò
1.2.3. Một số phương pháp dạy học tích cực
1.2.3.1. Phương pháp đàm thoại phát hiện [8]
Đàm thoại phát hiện là một PPDH tích cực, trong đó hệ thống câu hỏi là công
cụ quan trọng có vai trò quyết định hiệu quả và thành công của phương pháp đàm
thoại.
Đàm thoại phát hiện (còn có các tên gọi khác là vấn đáp tìm tòi, đàm thoại
Ơrixtic hay đàm thoại gợi mở) là phương pháp trao đổi giữa GV với HS, trong đó
8
GV nêu ra hệ thống câu hỏi “dẫn dắt” gắn bó logic với nhau để HS suy lí, phán
đoán, quan sát, tự đi đến kết luận và qua đó lĩnh hội kiến thức.
Các yêu cầu sư phạm của phương pháp
- HS phải có ý thức về mục đích của toàn bộ hay một phần lớn cuộc đàm thoại.
- Hệ thống câu hỏi của GV phải hướng tư duy của HS đi theo một logic hợp lí,
kích thích hướng tích cực tìm tòi, trí tò mò khoa học và cả sự ham muốn giải đáp.
- Các vấn đề, câu hỏi phải được sắp xếp hợp lí. Câu hỏi phải rõ ràng và chính xác.
- Số lượng, tính phức tạp và mức độ phân chia của câu hỏi cần dựa vào tính
phức tạp của đối tượng nghiên cứu và trình độ HS.
- GV cần khéo léo kết luận dựa vào ý kiến, ngôn ngữ của HS, thêm kiến thức
cho chính xác và kết cấu lại kết luận cho chặt chẽ, súc tích.
- Không trao đổi với từng HS riêng rẽ mà với cả lớp. GV phải chủ động dẫn
dắt lớp một cách sáng tạo, theo kế hoạch đã định trước.
Nguyên tắc đặt câu hỏi theo PPĐTPH
Nguyên tắc 1. Bám sát mục tiêu, trọng tâm của bài học
Nguyên tắc 2. Khai thác một cách triệt để và tích cực nhất vốn kiến thức, kĩ
năng của HS
Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề (dạy học đặt và giải quyết vấn đề, dạy học
nêu vấn đề) là PPDH trong đó GV đặt ra trước HS một bài toán nhận thức (bài toán
nêu vấn đề ơrixtic) chứa đựng mâu thuẫn nhận thức, HS biến mâu thuẫn của bài toán
nhận thức thành mâu thuẫn nội tại của bản thân và có nhu cầu giải quyết mâu thuẫn đó
– được kích thích thích tư duy; dưới sự hướng dẫn của GV, HS giải quyết mâu thuẫn –
tư duy, qua đó lĩnh hội được kiến thức cũng như phương pháp giành kiến thức, đồng
thời phát triển năng lực tư duy.
Đặc trưng của dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề
Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề có 3 đặc trưng cơ bản:
- GV đặt ra trước HS một loạt những bài toán nhận thức có chứa đựng mâu
thuẫn giữa cái đã biết và cái phải tìm, nhưng chúng được cấu trúc lại một cách sư
phạm gọi là bài toán nêu vấn đề ơrixtic.
- HS tiếp nhận mâu thuẫn của bài toán như mâu thuẫn của nội tâm mình và
được đặt vào tình huống có vấn đề, tức là trạng thái có nhu cầu bên trong bức thiết
10
muốn giải quyết bằng được bài toán đó. Tình huống có vấn đề là tình huống mà khi
đó mâu thuẫn khách quan của bài toán nhận thức được học sinh chấp nhận như một
vấn đề học tập mà học sinh cần và có thể giải quyết được, qua đó mà họ nắm được
kiến thức mới.
- Thông qua tổ chức giải bài toán ơrixtic mà HS lĩnh hội một cách tự giác và
tích cực cả kiến thức, cả cách giải và do đó có được niềm vui sướng của sự nhận
thức sáng tạo.
Đặc điểm của bài toán nêu vấn đề ơrixtic
- Phải xuất phát từ cái quen thuộc, cái đã biết và vừa sức đối với HS.
- Phải chứa đựng mâu thuẫn nhận thức không có lời giải đáp chuẩn bị sẵn
6. Đánh giá việc thực hiện kế hoạch giải. Nếu xác nhận giả thuyết đúng thì
chuyển sang bước 7. Nếu giả thuyết sai thì quay trở lại bước 3, chọn giả
thiết khác.
7. Kết luận về lời giải. GV chỉnh lý bổ sung và chỉ ra kiến thức cần lĩnh hội.
8. Kiểm tra và ứng dụng kiến thức vừa thu được.
Ưu điểm , nhược điểm của phương pháp nêu và giải quyết vấn đề. [3]
- Ưu điểm:
+ Phát huy tính chủ động, tích cực, sáng tạo của HS, phát triển năng lực nhận
thức, năng lực giải quyết vấn đề.
+ Tri thức mới mà HS thu nhận được một cách sâu sắc, vững chắc, nhớ lâu.
HS biết cách tiến hành phương pháp chiếm lĩnh kiến thức và đánh giá được kết quả
của bản thân và của người khác.
- Nhược điểm:
+ Tốn nhiều thời gian cho việc chuẩn bị và thiết kế bài học
+ HS cần có khả năng tự học và học tập tích cực thì mới đạt hiệu quả cao.
1.2.3.3. Phương pháp sử dụng phương tiện trực quan [12]
PTTQ là tất cả các đối tượng nghiên cứu (sự vật, hiện tượng, thiết bị và mô
hình đại diện cho hiện thực khách quan), nguồn phát ra thông tin từ sự vật và hiện
tượng làm cơ sở cho sự lĩnh hội trực tiếp những kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo về các sự
vật hiện tượng được nghiên cứu (nhờ các giác quan).
Các phương tiện trực quan trong dạy học Hoá học
Trong dạy học hóa học thường sử dụng các PTTQ sau đây:
- Mẫu vật (vật thật, các chất hóa học), dụng cụ máy móc, thiết bị, các quá trình
vật lí và hóa học (thí nghiệm hóa học)
- Mô hình, hình mẫu các thiết bị và máy móc
- Tranh ảnh,
- Hhình vẽ, sơ đồ, biểu đồ, đồ thị (tài liệu trực quan tượng trưng kí hiệu hóa)
12
Sử dụng thí nghiệm trong dạy học hóa học
- Vai trò của thí nghiệm trong dạy học hóa học
13
+ Thí nghiệm có vai trò đặc biệt quan trọng trong dạy học hóa học. Thí
nghiệm vừa là phương tiện vừa là nguồn kiến thức.
+ Thí nghiệm là nền tảng của việc dạy và học hóa học, giúp người học
chuyển từ tư duy cụ thể sang tư duy trừu tượng và ngược lại.
+ Thí nghiệm là cầu nối giữa lí thuyết và thực tiễn, giúp HS dễ dàng vận
dụng các kiến thức đã học vào đời sống, sản xuất.
+ Rèn cho HS các kĩ năng thực hành trên cơ sở đó hình thành các đức tính
cần thiết của người lao động mới: khoa học, kỉ luật, cẩn thận, kiên trì…
+ Giúp HS thêm tin tưởng vào khoa học, vào chính bản thân mình.
+ Giúp HS dễ hiểu bài, nắm vững kiến thức, nhớ lâu hơn.
+ Giúp HS phát triển năng lực nhận thức, năng lực tư duy như: phân tích, so
sánh, tổng hợp, khái quát hóa…
+ Giúp HS tăng hứng thú học tập, yêu thích khoa học… của HS, nâng cao
chất lượng dạy và học.
- Các phương pháp sử dụng thí nghiệm
GV có thể sử dụng thí nghiệm theo nhiều cách khác nhau. Có 3 cách chủ yếu là:
+ Phương pháp nghiên cứu
+ Phương pháp đặt và giải quyết vấn đề
+ Phương pháp kiểm chứng
- Phân tích cách lựa chọn phương pháp sử dụng thí nghiệm
Trước hết GV cần hiểu rõ bản chất, nét đặc trưng của mỗi phương pháp sử
dụng thí nghiệm, từ đó có thể thấy được đặc điểm của kiến thức có thể lĩnh hội theo
từng phương pháp một cách phù hợp, tích cực.
* Với phương pháp nghiên cứu: cần đưa ra được các giả thuyết. Nghĩa là kiến
Với những kiến thức như vậy thì việc HS suy diễn hoặc suy lí từ kiến thức đã
học sẽ mâu thuẫn với thực tế, HS được đặt vào tình huống có vấn đề, có nhu cầu
giải quyết mâu thuẫn từ đó lĩnh hội kiến thức mới và các phương pháp nhận thức.
Những thí nghiệm sử dụng theo phương pháp đặt và giải quyết vấn đề cũng có thể
tiến hành theo phương pháp nghiên cứu.
Ví dụ: khi dạy tính thơm của vòng benzen (có liên kết π nhưng lại dễ tham gia
phản ứng thế, khó tham gia phản ứng cộng), tính chất tạo phức của ancol đa chức,
phản ứng thế với dung dịch brom của phenol (benzen thực hiện phản ứng thế cần
15
đun nóng và có chất xúc tác còn vòng benzen của phenol thế ngay với dung dịch
brom),….
* Với phương pháp kiểm chứng: HS cần dự đoán được hiện tượng thí nghiệm
trên cơ sở những kiến thức đã có. Thường kiến thức cần lĩnh hội là sự vận dụng lí
thuyết chung vào các trường hợp cụ thể (những trường hợp theo đúng lí thuyết
chung, không đặc biệt) hoặc các tính chất của chất mới nhưng tương tự chất đã học.
Trong hóa học hữu cơ thường gặp các trường hợp sử dụng thí nghiệm theo
phương pháp kiểm chứng là khi nghiên cứu tính chất của các hợp chất hữu cơ có
bản chất giống với các chất đã học có thể cho HS so sánh đặc điểm cấu tạo của
chúng để HS suy luận dự đoán tính chất và hiện tượng, hoặc khi nghiên cứu tính
chất của các chất hay dãy đồng đẳng mà HS đã biết nhưng chưa rõ nguyên nhân,
nay nghiên cứu với mức độ sâu hơn thì từ kiến thức đã có, GV hướng dẫn cho HS
suy luận tìm ra bản chất, đồng thời suy lí được tính chất của các chất tương tự sau
đó làm thí nghiệm để kiểm chứng dự đoán của HS.
Ví dụ: dạy phản ứng cộng của anken ở lớp 11 (HS đã biết phản ứng cộng brom
của etilen), hay dạy phản ứng cộng của ankađien, ankin (bản chất của phản ứng
giống phản ứng cộng của anken), phản ứng tráng gương của axit fomic, của glucozơ
(có nhóm chức anđehit đã học),…
+ Các nhiệm vụ: Có thể phân chia thành nhiều loại nhiệm vụ theo hợp đồng
nhằm đáp ứng các mục tiêu giáo dục.
• Nhiệm vụ bắt buộc và tự chọn: cho phép HS được học theo nhịp độ học tập
khác nhau.
• Nhiệm vụ mang tính học tập và nhiệm vụ có tính giải trí: Nhiệm vụ học tập
đề cập đến những chủ đề nhất định. Nhiệm vụ mang tính giải trí tạo cơ hội để
luyện tập sự nhanh nhạy, sáng tạo, cạnh tranh vui vẻ.
• Nhiệm vụ cá nhân và nhiệm vụ hợp tác: thể hiện sự kết hợp khéo léo giữa
nhiệm vụ cá nhân với các bạn cùng lớp hay cùng nhóm.
• Nhiệm vụ độc lập và nhiệm vụ được hướng dẫn: trong những nhiệm vụ khó
khăn, HS có thể tìm được sự trợ giúp của GV thông qua các phiếu “trợ giúp” ở
các mức độ khác nhau đề HS hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
- Bước 3. Thiết kế văn bản hợp đồng
17
Văn bản hợp đồng bao gồm nội dung mô tả nhiệm vụ cần thực hiện, phần hướng
dẫn thực hiện, phần tự đánh giá những hoạt động HS đã hoàn thành và kết quả.
Giai đoạn 2: Tổ chức cho HS học theo hợp đồng
Hoạt động 1: Kí hợp đồng
Hoạt động giáo viên
Hoạt động học sinh
- Nêu mục tiêu bài học hoặc vấn đề của - Lắng nghe.
bài học.
- Trao cho học sinh hợp đồng chung đã có - HS nghiên cứu nội dung của hợp
- Yêu cầu HS dừng làm việc và tự đánh - Dừng làm việc cá nhân và tự đánh giá.
giá.
- Yêu cầu HS trao đổi bài chéo nhau giữa - Đánh giá bài của bạn khi GV công bố
2 nhóm để HS không biết ai là người đánh đáp án của các nhiệm vụ. Có thể chấm
giá bài của mình và ghi vào hợp đồng điểm hoặc chỉ đánh giá đúng/ sai.
- HS ghi rõ họ tên vào bài làm của bạn.
bằng nét bút khác.
- GV nhận xét, đánh giá chung.
- HS lắng nghe, chỉnh sửa.
Hoạt động 4. Củng cố, đánh giá
18
Trong khi thanh lí (nghiệm thu) hợp đồng có thể thiết kế các hoạt động để HS
có thể đánh giá lẫn nhau và HS tự đánh giá kết quả các nhiệm vụ bắt buộc và nhiệm
vụ tự chọn. GV có thể đưa ra kết luận đánh giá hoàn thiện.
Tuy nhiên trong một số trường hợp, cần thiết phải củng cố khắc sâu kiến thức
hoặc kĩ năng cụ thể. GV có thể cho thêm 1-2 bài tập để HS thực hiện trong thời gian
ngắn.
Một số lưu ý khi dạy học theo hợp đồng
- Bố trí không gian lớp học: không cần phải sắp xếp lại lớp học; có thể tổ
chức trong lớp học nhỏ với không gian han chế, ít điều kiện di chuyển. Tuy
nhiên, nếu không gian lớp học được bố trí, sắp xếp mô cách phù hợp sẽ lôi cuốn
được HS hơn, các em sẽ cảm thấy thoải mái hơn.
- Thời hạn hợp đồng: Các loại ngắn hạn trong 1 tiết, 2 tiết hoặc có thể kéo
dài 1 – 2 tuần tùy theo bài tập và nhiệm vụ môn học.
Ưu điểm và hạn chế của dạy học theo hợp đồng
cấu trúc được xác định cụ thể, có tính khuyến khích, hỗ trợ và thúc đẩy HS tích cực
thông qua hoạt động, sự khác nhau đáng kể về nội dung và bản chất của các hoạt
động nhằm mục đích để HS được thực hành, khám phá và trải nghiệm. Tất cả đều
được tổ chức để tạo ra một bầu không khí nhẹ nhàng và không ồn ào. PPDH theo
góc là mỗi lớp học được chia ra thành các góc nhỏ. Ở mỗi góc nhỏ HS có thể lần
lượt tìm hiểu nội dung kiến thức từng phần của bài học. HS phải trải qua các góc để
có cái nhìn tổng thể về nội dung của bài học. Nếu có vướng mắc trong quá trình tìm
hiểu nội dung bài học thì HS có thể yêu cầu GV giúp đỡ và hướng dẫn.
Tại mỗi góc, HS cần đọc hiểu được nhiệm vụ đặt ra, thực hiện nhiệm vụ đặt ra,
thảo luận nhóm để có kết quả chung của nhóm, trình bày kết quả của nhóm trên
bảng nhóm, giấy A0, A3, A4...
Nhóm tại mỗi góc được hình thành là do tập hợp các cá nhân có cùng phong cách
học mà không phải là sự áp đặt của GV.
- Góc theo phong cách học:
Tại các góc sẽ có tư liệu và hướng dẫn nhiệm vụ giúp HS nghiên cứu một nội
dung theo các phong cách học khác nhau: Quan sát, trải nghiệm, phân tích, áp dụng.
Mỗi góc đều thể hiện sự đa dạng về phong cách học, do đó người học có sở
thích và năng lực khác nhau, nhịp độ học tập và phong cách học khác nhau đều có
thể tự tìm cách để thích ứng và thể hiện năng lực của mình. Điều này cho phép GV
20
giải quyết vấn đề đa dạng trong nhóm. HS hướng tới việc thực hành, khám phá và
thực nghiệm tại các góc khác nhau giúp học sâu, học thoải mái cùng một nội dung
học tập.
- Góc theo hình thức hoạt động khác nhau:
Tại các góc người học được nghiên cứu cùng một nội dung theo các hình thức
khác nhau: góc mĩ thuật, góc trải nghiệm, góc thảo luận, góc đọc…
+ Giới thiệu tên bài học/nội dung học tập; tên và vị trí các góc.
+ Nêu sơ lược nhiệm vụ mỗi góc, thời gian tối đa thực hiện nhiệm vụ tại các góc.
+ Dành thời gian cho HS chọn góc xuất phát, GV có thể điều chỉnh nếu có
quá nhiều HS cùng chọn một góc.
+ GV có thể giới thiệu sơ đồ luân chuyển các góc để tránh lộn xộn. Khi HS đã quen với
phương pháp học tập này, GV có thể cho HS lựa chọn thứ tự các góc theo sơ đồ sau:
Góc dành cho
HS có tốc độ
học nhanh
Đường đi của HS A:
Đường đi của HS B:
\
- Bước 3. Tổ chức cho HS học tập tại các góc
+ HS có thể làm việc cá nhân, cặp hay nhóm nhỏ tại mỗi góc theo yêu cầu
của hoạt động.
+ GV cần theo dõi, phát hiện khó khăn của HS để hướng dẫn, hỗ trợ kịp thời.
+ Nhắc nhở thời gian để HS hoàn thành nhiệm vụ và chuẩn bị luân chuyển
góc.
- Bước 4: Tổ chức cho HS trao đổi và đánh giá kết quả học tập (nếu cần).
Ưu điểm và hạn chế của phương pháp dạy học theo góc
Ưu điểm
- Mở rộng sự tham gia, nâng cao hứng thú và cảm giác thoải mái của HS
- Người học được học sâu và hiệu quả bền vững
22
5. Các nhóm cố định trong một thời gian dài
6. Nhóm có HS khá để hỗ trợ HS yếu
7. Phân chia theo năng lực học tập khác nhau
8. Phân chia theo các dạng học tập
9. Nhóm với các bài tập khác nhau
10. Phân chia HS nam, nữ
23
Tiến trình dạy học nhóm
Giai đoạn 1: Nhập đề và giao nhiệm vụ (giới thiệu chủ đề, xác định nhiệm
vụ các nhóm, thành lập các nhóm)
Giai đoạn 2: Làm việc nhóm (chuẩn bị không gian, lập kế hoạch, thỏa
thuận quy tắc làm việc, giải quyết nhiệm vụ, chuẩn bị báo cáo)
Giai đoạn 3: Trình bày kết quả và đánh giá
Ưu điểm và hạn chế
Ưu điểm
- Phát huy tính tích cực, tự lực và tính trách nhiệm của HS.
- Phát triển năng lực cộng tác làm việc, năng lực giao tiếp, năng lực phương
pháp cho HS.
- Hỗ trợ quá trình học tập mang tính xã hội.
- Tăng cường sự tự tin cho HS.
- Tạo khả năng dạy học phân hóa.
- Tăng cường kết quả học tập.
Hạn chế
- Tốn thời gian chuẩn bị và thực hiện.
- Lớp học cần phải rộng, có đủ bàn ghế.
Định hướng
thực tiễn
Cộng tác
Định hướng
làm việc
hứng thú
Đặc điểm
DHDA
Mang tính
Định hướng
phức hợp
hành động
Tính tự lực
Định hướng
cao của HS
sản phẩm
25