sáng kiến kinh nghiệm một số phương pháp phát huy tính tích cực và sang tạo của học sinh trong một tiết học sinh 9 - Pdf 37

Một số phương pháp phát huy tính tích cực và sáng tạo của học sinh trong một tiết học Sinh 9

PHẦN NỘI DUNG ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Tên đề tài: Một số phương pháp phát huy tính tích cực sáng tạo của học sinh
trong một tiết học Sinh 9
PHẦN MỞ ĐẦU
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Sinh học là môn khoa học tự nhiên, các kiến thức sinh học gắn liền với
thực tế cuộc sống. Môn sinh học giúp các em làm quen, nghiên cứu về thế giới
sinh vật trong tự nhiên. Ở bậc trung học cơ sở, các em nắm bắt được những kiến
thức sinh học cơ bản phổ thông như hình thái, cấu tạo, sinh lí của sinh vật qua
quan sát những mẫu vật xung quanh thiên nhiên để tích lũy kiến thức sinh học
cho mình nhất là chương trình sinh học 6,7,8.
Trong chương trình sinh học 9, các em bắt đầu tìm hiểu về cơ sở vật chất,
cơ chế, tính quy luật của các hiện tượng di truyền và biến dị; quy luật cân bằng và
biến đổi hệ sinh thái tự nhiên. Đây là loại kiến thức khó và trừu tượng, đòi hỏi
các em phải tích cực chủ động, tìm tòi, tư duy để chiếm lĩnh tri thức mới, biết vận
dụng kiến thức đã học trên lớp để giải một số bài tập, đồng thời kết hợp với các
bộ môn khác để giải thích được các hiện tượng tự nhiên, giải quyết được các vấn
đề thường gặp trong cuộc sống bản thân, gia đình và xã hội.
Trải qua những thăng trầm của lịch sử , sinh học không ngừng phát triển nó
đã đóng góp một phần không nhỏ vào sự nghiệp giáo dục học sinh trong nhà
trường phổ thông trở thành những người có tài đức, xây dựng xã hội và bảo vệ tổ
quốc. Ngày nay xã hội càng đổi mới đòi hỏi con người cần phải tiến kịp với tiến
bộ trong xã hội. Chính vì vậy việc giảng dạy trong nhà trường càng cần phải đổi
mới cho phù hợp với sự vận động đi lên của thời đại. Giờ dạy sinh học cần phải đạt
chất lượng cao giúp các em học sinh lĩnh hội được những tinh hoa của cuộc sống.
Từ đó giúp các em hình thành và hoàn thiện nhân cách của mình hơn.
Cho nên việc dạy sinh học cần được nâng cao chất lượng, cần được giáo
viên quan tâm. Vậy muốn đáp ứng yêu cầu trên đòi hỏi người giáo viên cần phải
có phương cách chủ động. Vì vậy qua thực tế giảng dạy cộng với sự học hỏi kinh

Sáng kiến này là những kinh nghiệm của bản thân được tích lũy từ thực tế
đứng lớp trong nhiều năm. Đây là đề tài được áp dụng đối với môn Sinh 9 trường
THCS Thuận Thành
IV. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:
Với những yêu cầu của xã hội đối với giáo dục, mục tiêu dạy học không chỉ
là những yêu cầu thông hiểu, ghi nhớ, tái hiện kiến thức và lặp lại đúng, thành thạo
các kĩ năng như trước đây, mà còn đặc biệt chú ý đến năng lực nhận thức, năng lực
tự học của học sinh. Với quan điểm dạy học tích cực có thể hiểu: "phương pháp
dạy học là cách thức, là con đường, là hệ thống và trình tự các hoạt động giữa giáo
viên và học sinh, được giáo viên sử dụng để tổ chức chỉ đạo và hướng dẫn học sinh
tự lực và tích cực đạt tới kiến thức, rèn luyện và phát triển kỹ năng và các năng lực
nhận thức cũng như góp phần hình thành các phẩm chất nhân cách mà mục tiêu
dạy học đề ra". Trong xu thế chung của dạy học hiện nay, người ta coi dấu hiệu cơ
bản của phương pháp là tính chất tổ chức chỉ đạo hoạt động nhận thức của giáo
viên đối với học sinh. Mỗi phương pháp đảm bảo một tính chất xác định hoạt động
nhận thức của học sinh, tiếp nhận một cách chủ động các tri thức do giáo viên
truyền đạt hay độc lập tìm tòi, nghiên cứu để lĩnh hội tri thức. Giáo viên chỉ giúp
Nguyễn Thị Ngọc Thu – Trường THCS Thuận Thành

Trang 2


Một số phương pháp phát huy tính tích cực và sáng tạo của học sinh trong một tiết học Sinh 9

học sinh định hướng vấn đề và chịu trách nhiệm cố vấn trong quá trình học tập của
các em.
Từ những thực tiễn và cơ sở trên đề tài này nhằm mục đích:
- Giúp các em tiếp thu bài một cách chủ động, sáng tạo, gây hứng thú trong tìm
tòi chiếm lĩnh tri thức mới.
- Hình thành cho các em một số kỹ năng giải bài tập di truyền.

Năm học 2014 – 2015:
Nguyễn Thị Ngọc Thu – Trường THCS Thuận Thành

Trang 3


Một số phương pháp phát huy tính tích cực và sáng tạo của học sinh trong một tiết học Sinh 9

STT Lớp
1
2
3
4
5
TC

9/1
9/2
9/3
9/4
9/5

SS
35
39
38
38
39
189


24,1

TB
SL
14
13
14
9
10
60

%
40
33,3
36,8
23,7
25,6
31,5

Yếu
SL
%
4
11,4
5
12,8
3
7,9
7
18,4

vực mới này từ đó vận dụng để giải thích những vấn đề thực tế có liên quan đến
kiến thức sinh học một cách sáng tạo, thích giải những bài tập trong SGK,…
* Khó khăn:
- Đây là kiến thức hoàn toàn mới và khó, kiến thức trừu tượng, học sinh gặp rất
nhiều khó khăn trong chiếm lĩnh kiến thức mới.
- Kiến thức tại lớp các em chưa nắm lại không dám hỏi thầy cô, về nhà không để
tâm nghiên cứu lại, dẫn đến học bài rất khó, thậm chí có em không học bài, hay
không quan tâm đến việc học.
- Một số gia đình chưa quan tâm nhiều đến việc học tập của con em mình,…
II. CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN:
Từ thực tế đặt ra như vậy, để giúp học sinh học tốt Sinh 9, những học sinh
trung bình trở xuống chiếm lĩnh tri thức sau đó vận dụng vào giải các bài tập một
cách dễ dàng thì trong các quá trình này cần giải quyết một số nội dung sau:
- Tìm tài liệu, sách tham khảo, sách bài tập,… thích hợp.
- Phân loại mức độ học sinh: giỏi, khá, trung bình, yếu để có biện pháp thích hợp.
- Tiến hành hoạt động dạy bằng những phương pháp thích hợp nhằm giúp học
sinh nắm vững kiến thức lý thuyết cơ bản, từ đó làm cơ sở cho giải bài tập.
1. Phân loại học sinh:
Nguyễn Thị Ngọc Thu – Trường THCS Thuận Thành

Trang 4


Một số phương pháp phát huy tính tích cực và sáng tạo của học sinh trong một tiết học Sinh 9

- Giáo viên phân loại HS theo các nhóm: giỏi, khá, trung bình, yếu, kém ở các
lớp giảng dạy để dễ theo dõi hoạt động học tập trên lớp và ở nhà, đặc biệt là trong
hoạt động chia nhóm thảo luận.
- Đối với HS giỏi, khá đưa ra những câu hỏi, bài tập khó hơn nhằm mở rộng
hiểu biết, nâng cao kỹ năng giải bài tập cho các em. Phân công các em giúp đỡ

sinh.
- Học sinh luôn luôn hướng tới cái đẹp của cuộc sống con người vì vậy chức
năng chủ yếu của dạy sinh học là sự thẫm mỹ cái hay, cái đẹp đó. Muốn vậy chúng
ta phải tuân theo quy luật dạy học đi từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng.
Nguyễn Thị Ngọc Thu – Trường THCS Thuận Thành

Trang 5


Một số phương pháp phát huy tính tích cực và sáng tạo của học sinh trong một tiết học Sinh 9

- Để nâng cao chất lượng một giờ dạy sinh học, để kích thích được niềm say
mê hứng thú học tập đối với học sinh hình thành trong các em tâm hồn nhân cách
đẹp đòi hỏi chúng ta phả tuân thủ theo đúng quy luật này mới đạt hiệu quả cao.
- Sau khi nắm được kết quả chung và chất lượng của học sinh, tôi đã tiến
hành phân loại mức độ nhận thức của học sinh và kỹ năng bộ môn. Từ đó đưa ra
một số phương pháp giảng dạy phù hợp như sau:
a.Phương pháp dạy học theo mô hình trường học mới:
May mắn được dự 3 ngày tập huấn về mô hình trường học mới của Sở, tôi đã
mạnh dạng áp dụng vào giảng dạy vì tôi nhận thấy một số đặc điểm nổi bật của mô
hình trường học mới:
- Là hình thức dạy học đặt học sinh vào môi trường học tập tích cực, trong đó
học sinh được tổ chức thành nhóm một cách thích hợp. Học hợp tác nhóm giúp các
em rèn luyện và phát triển kĩ năng làm việc, kĩ năng giao tiếp, tạo điều kiện cho
học sinh học hỏi lẫn nhau, phát huy vai trò trách nhiệm, tính tích cực xã hội trên cơ
sở làm việc hợp tác. Thông qua hoạt động nhóm, các em có thể cùng làm việc với
nhau những công việc mà một mình không thể tự làm được trong một thời gian
nhất định. Việc rèn cho các em các kỹ năng học hợp tác nhóm là hết sức cần thiết,
tạo điều kiện để các em có nhiều cơ hội giao lưu, học hỏi lẫn nhau, giúp đỡ lẫn
nhau, góp phần vào việc giáo dục toàn diện nhân cách cho học sinh

1/Tên của ARN?
2/ARN có mấy loại?
3/Cách viết từng loại?
4/Chức năng từng loại ARN?
5/ Cấu tạo ARN?
6/Làm bảng 17 trang 53 SGK
-Phần thông tin SGK và sự chuẩn bị ở nhà giúp học sinh dễ dàng nêu được
câu trả lời. Cuối cùng giáo viên chốt lại các ý chính, học sinh tự ghi nội dung vào
vở.
Trứơc khi vào phần II cho lớp chơi trò chơi đồng thời chia nhóm:
Người quản trò hô“ đoàn kết –đoàn kết. HS đáp “ kết mấy – kết mấy” kết
thành vòng tròn, từ đó ta chia nhóm tiếp.
Giả sử lớp có 36 học sinh nhưng ta muốn chia lớp thành 5 nhóm thì ta hô “ đoàn
kết đoàn kết” “ kết mấy kết mấy” : “ kết 7- kết 7” sẽ dư 1 HS, ta có thể bố trí
một học sinh này vào một nhóm thích hợp…
II. ARN được tổng hợp như thế nào
Phần này học sinh thảo luận theo nhóm
Mỗi nhóm nhận 1 phiếu thảo luận từ chủ tịch hội đồng tự quản , nội
dung:
Quan sát hình 17.2 và thông tin mục II SGK trả lời các câu hỏi sau:
1.Một phân tử ARN được tổng hợp dựa vào một hay hai mạch đơn của
gen?
2.Các loại nuclêôtít nào liên kết với nhau để tạo cặp trong quá trình hình
thành mạch ARN?
3.Có nhận xét gì về trình tự các loại đơn phân trên mạch ARN so với mỗi
mạch đơn của gen? Rút ra kết luận mối quan hệ giữ gen và ARN?
4.Nguyên tắc tổng hợp ARN?
Trong khi thảo luận nhóm nào gặp khó khăn giáo viên sẽ là người cố vấn,
nhóm nào hoàn thành sớm thì nêu ý kiến trước, sau đó học sinh tự ghi nội dung
vào vở.

giáo viên tổ chức và chỉ đạo. Thông qua đó tự khám phá những điều mình chưa rõ
chứ không phải thụ động tiếp thu những tri thức đã được giáo viên áp đặt. Được
đặt trong tình huống của đời sống thực tế người học trực tiếp quan sát thảo luận
làm thí nghiệm giải quyết vấn đề đặt ra theo cách suy nghĩ của mình từ đó vừa nắm
vững được kiến thức kỹ năng mới, vừa nắm được phương pháp làm ra kiến thức,
kỹ năng đó, không rập theo khuôn mẫu sẵn có, được bộc lộ và phát huy tiềm năng
sáng tạo.
Dạy học chú trọng phương pháp rèn luyện tự học, phương pháp tích cực
xem việc rèn luyện phương pháp học tập của học sinh không chỉ là một biện pháp
nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là mục tiêu dạy học. Trong phương pháp học
thì cốt lõi là phương pháp tự học, khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi người, kết quả
học tập sẽ được nâng lên gấp bội. Không chỉ tự học ở nhà sau bài học trên lớp mà
tự học cả trong tiết học có sự hướng dẫn trực tiếp của giáo viên.
Khi dạy bài:
NGUYÊN PHÂN.
 HS chuẩn bị bài ở nhà : giáo viên hướng dẫn HS đọc kĩ nội dung kết hợp

quan sát hình trả lời câu hỏi và các lệnh . Kẻ bảng 9.1, 9.2 vào vở bài tập, hoàn
thành nội dung theo mức hiểu biết của mình. Trả lời câu hỏi 1,2,3 SGK trang 30.
 Dạy và học trên lớp:
A. Lý thuyết:
Nguyễn Thị Ngọc Thu – Trường THCS Thuận Thành

Trang 8


Một số phương pháp phát huy tính tích cực và sáng tạo của học sinh trong một tiết học Sinh 9

Trước hết, giáo viên cho HS củng cố và tóm tắt lại kiến thức về: Nhiễm sắc
thể (NST): cặp NST tương đồng, bộ NST lưỡng bội, bộ NST đơn bội, cấu trúc

- Mức độ đóng xoắn.
ít
Cực đại
Giáo viên nhận xét kết quả thảo luận của học sinh, chỉ tranh, giảng giải, chú ý học
sinh đặc điểm từng kì:

Nguyễn Thị Ngọc Thu – Trường THCS Thuận Thành

Trang 9


Một số phương pháp phát huy tính tích cực và sáng tạo của học sinh trong một tiết học Sinh 9

+ Kì trung gian: NST duỗi xoắn nhiều nhất, nên rất dài, mảnh. Trước kì
trung gian NST ở trạng thái đơn, sau đó nhân đôi lên thành NST kép ở cuối kì.
+ Kì đầu: NST bắt đầu đóng xoắn (đóng ít) và co ngắn lại.
+ Kì giữa: NST đóng xoắn cực đại nên có hình dạng đặc trưng nhất.
+ Kì sau: NST bắt đầu duỗi xoắn, dài ra (duỗi ít).
+ Kì cuối: NST duỗi xoắn nhiều hơn kì sau.
Cứ như vậy, NST hết đóng xoắn rồi lại duỗi xoắn qua các kì của chu kì tế
bào, hết chu kì tế bào này đến chu kì tế bào tiếp theo nên nói sự đóng và duỗi xoắn
của NST có tính chất chu kì.
Giáo viên nhấn mạnh: kì trung gian NST duỗi xoắn nhiều nhất và có sự
nhân đôi của NST thành NST kép; kì giữa NST đóng xoắn cực đại (kết hợp chỉ
tranh cho học sinh dễ nhớ).
II. Những biến đổi hình thái của NST trong quá trình nguyên phân:
1. Kì trung gian: từ kiến thức mục I và hình 9.3, học sinh biết được NST tại
kì trung gian duỗi xoắn nhiều nhất và có dạng sợi mảnh, có sự nhân đôi của NST
thành NST kép (2n NST kép). Giáo viên hướng dẫn học sinh quan sát hình 9.3 để
thấy còn có sự nhân đôi của trung tử.

bày diễn biến cơ bản của NST trong quá trình nguyên phân kết hợp chỉ tranh (nếu
có thời gian).
a. Kì đầu (2n NST kép): các cặp NST kép bắt
đầu đóng xoắn và co ngắn nên có hình thái rõ
rệt. Các NST kép dính vào các sợi tơ của thoi
phân bào ở tâm động.
b. Kì giữa (2n NST kép): Các NST kép đóng
xoắn cực đại và xếp thành một hàng ở mặt
phẳng xích đạo của thoi phân bào.
c. Kì sau: Từng NST kép tách nhau ở tâm
động thành hai NST đơn phân li về hai cực
của tế bào (2n đơn + 2n đơn) (mỗi cực tế bào
có 2n NST đơn).
d. Kì cuối: Các NST đơn dãn xoắn dài ra, ở
dạng sợi mảnh dần thành chất nhiễm sắc.
Ở kì này, sau khi phân chia NST thì tiếp
đến là phân chia tế bào chất để tạo thành hai
tế bào mới. Lúc này thoi phân bào biến mất,
màng nhân và nhân con tái hiện. Mỗi tế bào
mới có số NST là (2n NST đơn).
* Kết quả của nguyên phân: từ một tế bào mẹ ban đầu (2n NST) cho ra 2 tế bào
con có bộ NST giống như bộ NST của tế bào mẹ (2n NST).
III. Ý nghĩa của nguyên phân:
Học sinh tự thu nhận thông tin SGK, và trả lời các câu hỏi của giáo viên từ
đó thấy được ý nghĩa của nguyên phân:
- Do đâu mà số lượng NST của tế bào con giống tế bào mẹ? (do NST tự nhân đôi
một lần ở kì trung gian và phân li ở kì sau).
- Tại sao trong nguyên phân, số lượng tế bào tăng mà bộ NST không thay đổi?
(bộ NST của loài được duy trì ổn định qua các thế hệ).


họa cụ thể.
Các kì
Số lượng NST
Kì trung gian: (NST nhân đôi)
2n NST kép
Kì đầu
2n NST kép
Kì giữa
2n NST kép
Kì sau (NST tách nhau, phân li về 2 cực của tế bào)
2n đơn + 2n đơn
Kì cuối
2n đơn
 Ví dụ: Xác định số lượng NST trong tế bào của ruồi giấm (2n = 8 NST) ở kì
trung gian, và các kì của nguyên phân.
Giải
Tế bào ruối giấm (2n = 8 NST). Số lượng NST trong các kì:
- Kì trung gian (NTS nhân đôi): 2n kép = 8 x 2 = 16 NST
- Nguyên phân: - Kì đầu: 2n kép = 8 x 2 = 16 NST
- Kì giữa: 2n kép = 8 x 2 = 16 NST
- Kì sau: 2n đơn + 2n đơn = 16 NST
- Kì cuối: 2n đơn = 8 NST
Nguyễn Thị Ngọc Thu – Trường THCS Thuận Thành

Trang 12


Một số phương pháp phát huy tính tích cực và sáng tạo của học sinh trong một tiết học Sinh 9

C. Bài tập tự giải:

giải quyết vấn đề theo hướng dẫn của giáo viên, giáo viên kết luận đánh giá kết quả
làm việc của học sinh.
+Mức 2: giáo viên nêu vấn đề gợi ý để học sinh tìm cách giải quyết vấn đề để học
sinh thực hiện cách giải quyết vấn đề , giáo viên và học sinh cùng kết luận đánh
giá.
+ Mức 3: giáo viên cung cấp thông tin tạo tình huống học sinh phát hiện và xác
định vấn đề nảy sinh tự lực đề xuất các giả thuyết và lựa chọn giúp học sinh thực
hiện cách giải quyết vấn đề với sự giúp đỡ của giáo viên khi cần học sinh và giáo
viên cùng đánh giá và kết luận.
+ Mức 4: học sinh tự lực phát hiện vấn đề nảy sinh trong hoàn cảnh thực tế của
mình. Học sinh giải quyết vấn đề để tự đánh giá chất lượng hiệu quả và kết luận
khi cần. Giáo viên bổ sung chính xác hóa kết luận.
Ví dụ1:
Nguyễn Thị Ngọc Thu – Trường THCS Thuận Thành

Trang 13


Một số phương pháp phát huy tính tích cực và sáng tạo của học sinh trong một tiết học Sinh 9

Khi dạy phần I/ Di truyền học –bài 1 Men Đen và di truyền học
Để cho học sinh hiểu và khắc sâu khái niệm di truyền, biến dị. Tôi đặt vấn đề
cho học sinh là xác định bản thân mình giống và khác với bố mẹ ở những điểm
nào: hình dạng tóc, tai, mắt, mũi… từ những ví dụ đó hình thành khái niệm di
truyền, biến dị. Qua cách làm như trên tôi thấy học sinh sôi nổi phát biểu, tích cực
xây dựng bài học.
Ví dụ 2:
Khi dạy phần I, bài 47 Quần thể sinh vật
Cho học sinh đọc thông tin SGK rút ra khái niệm, từ khái niệm cho biết điều
kiện để công nhận là một quần thể, xác định ví dụ nào là quần thể, ví dụ nào không

Nguyễn Thị Ngọc Thu – Trường THCS Thuận Thành

Trang 14


Một số phương pháp phát huy tính tích cực và sáng tạo của học sinh trong một tiết học Sinh 9

kiến thức mới bằng phương pháp thuyết trình - giải thích - minh họa mà bằng
phương pháp tổ chức các hoạt động khám phá để tự học sinh chiếm lĩnh tri thức
mới.
Các hoạt động học tập tự khám phá trong tiết sinh học, các hoạt động quan sát
và thí nghiệm có thể được thể hiện theo phương pháp trực quan (học sinh xem giáo
viên biểu diễn), hoặc phương pháp thực hành (học sinh trực tiếp thao tác trên đối
tượng nghiên cứu) trong phương pháp thực hành tính tích cực của học sinh phát
huy cao hơn trong phương pháp trực quan. Trong quan sát học sinh dùng mắt
thường hoặc có sự trợ giúp của kính lúp, kính hiển vi hay nói rộng ra là dùng các
giác quan để tri giác trực tiếp có mục đích, đối tượng nghiên cứu theo dõi ghi chép
các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên và khơng can thiệp vào chúng. Khác với quan
sát trong thí nghiệm người nghiên cứu tác động vào đối tượng bằng những điều
kiện nhân tạo nhằm tìm hiểu ảnh hưởng của một hoặc một vài yếu tố xác định tập
trung theo dõi sự diễn biến của đối tượng dưới một vài khía cạnh xác định. Trong
hoạt động thí nghiệm cũng có những hoạt động quan sát cơ bản là quan sát so sánh
giữa thí nghiệm với đối chứng. Cả trong quan sát và thí nghiệm đều phải vận dụng
những thao tác tư duy, so sánh, phân tích, tổng hợp, trừu tượng hóa, khái qt hóa,
vận dụng suy lý, quy nạp, diễn dịch. Có như thế thì học sinh thì mới phát hiện
được bản chất tính quy luật của hiện tượng đang nghiên cứu. Q trình này có thể
được diễn ra trong suy nghĩ của từng cá nhân học sinh nhưng sẽ có hiệu quả hơn
khi biết phối hợp hợp lý giữa suy nghĩ độc lập của từng cá nhân với sự hợp tác
thảo luận trong nhóm nhỏ. Bởi vậy có thể nói quan sát và thảo luận nhóm thí
nghiệm là các dạng hoạt động thường dùng nhất trong các bài sinh học.

- GV :Cho các nhóm tiến hành gieo đồng kim loại
- GV :Cho các nhóm báo cáo kết quả gieo đồng kim loại
- GV : Yêu cầu các nhóm dựa vào kết quả thống kê trả lời các câu hỏi :
+ Em có nhận xét gì về tỉ lệ % số lần gặp các mặt sau,tất cả sắp
(SS),1sắp:1ngữa(SN),tất cả ngửa (NN) ?
+ Liên hệ kết quả trên với tỉ lệ các giao tử của cơ thể lai F2 (1 AA : 2 Aa : 1 aa)
Từ kết quả trên thì học sinh sẽ khám phá ra được  Về mặt thống kê số lần gieo
càng nhiều càng đảm bảo độ chính xác trong việc xác đònh xác suất . Vì vậy
một trong các điều kiện nghiệm đúng của các quy luật MenĐen là số lượng cá
thể thống kê phải đủ lớn. Áp dụng vào giải thích trong sản xuất.
III. KẾT QUẢ:
Qua thời gian nghiên cứu và thực hiện đề tài, tơi nhận thấy nếu học sinh
hiểu được bản chất của q trình thì việc chiếm lĩnh tri thức sẽ dễ dàng hơn, từ đó
hứng thú hơn trong học tập, vận dụng giải các bài tập, đồng thời làm cơ sở để các
em học tốt các bài tiếp theo của chương cũng như các quy luật di truyền của
Menden và làm nền tảng vững chắc cho HS khi học tiếp các lớp sau.
Sau khi áp dụng sáng kiến trên trong một thời gian đối với học sinh khối 9
cùng một đối tượng học sinh với đặc điểm nhận thức như nhau kết quả đã được
nâng lên rất nhiều, cụ thể:
Năm học 2015-2016:
STT Lớp SS
Giỏi
Khá
TB
Yếu
Kém
SL
%
SL % SL
%

0
0
0
TC
146 55
37,5 64
43,8 27 18,7 0
0
0
0
Nguyễn Thị Ngọc Thu – Trường THCS Thuận Thành

Trang 16


Một số phương pháp phát huy tính tích cực và sáng tạo của học sinh trong một tiết học Sinh 9

Thống kê kết quả chất lượng trên so với năm học 2014-2015 tôi thấy chất
lượng có chuyển biến rõ rệt cụ thể: học sinh yếu, kém giảm còn 0%, học sinh giỏi
từ 32.0% tăng lên 37.6% (tăng 5.6%), học sinh khá từ 24.0% tăng 43.8% (tăng
19.2%)
PHẦN KẾT LUẬN
Qua lý luận và qua thực tiễn giảng dạy bản thân tôi đã rút ra được những bài
học kinh nghiệm nhằm đáp ứng cho việc nâng cao chất lượng dạy học môn sinh
lớp 9:
-Xây dựng cho học sinh động cơ học tập đúng đắn, tôn trọng ý kiến của học
sinh, đưa ra hệ thống câu hỏi phù hợp phát huy được tính tích cực chủ động tự giác
trong các giờ học.
-Làm cho học sinh thấy được tầm quan trọng trong việc học sinh học, học
sinh học không chỉ là nghĩa vụ mà còn là nhu cầu không thể thiếu được trong cuộc



Một số phương pháp phát huy tính tích cực và sáng tạo của học sinh trong một tiết học Sinh 9

Trên đây là những kinh nghiệm ít ỏi của bản thân tôi về "Một số phương
pháp phát huy tính tích cực sáng tạo của học sinh trong một tiết học môn sinh
học 9". Tôi nghĩ rằng nó còn rất nhiểu thiếu sót, rất mong được sự đóng góp ý kiến
chỉ bảo tận tình của các đồng nghiệp để sáng kiến của tôi được hoàn chỉnh hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thủ trưởng đơn vị xác nhận, đề nghị
Người viết

Nguyễn Thị Ngọc Thu

Nguyễn Thị Ngọc Thu – Trường THCS Thuận Thành

Trang 18


Một số phương pháp phát huy tính tích cực và sáng tạo của học sinh trong một tiết học Sinh 9

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Sách giáo khoa Sinh học 9.
2. Sách giáo viên Sinh học 9.
3. Thiết kế bài giảng Sinh học 9.
4. Một số vấn đề về đổi mới phương pháp dạy học THCS môn Sinh học.
5. Một số SKKN của đồng nghiệp.
6. Các trang mạng internet.

Nguyễn Thị Ngọc Thu – Trường THCS Thuận Thành


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status