QUYỀN CÔNG TỐ TRONG CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ VỀ MA TÚY QUA THỰC TIỄN TẠI VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA - Pdf 34

Quyền công tố trong các vụ án hình sự về ma tuý quan
thực tiễn tại Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá
Prosecutors in criminal cases on drug-related practices in the People's Procuracy of Thanh
Hoa province
NXB H. : Khoa Luật, 2012 Số trang 89 tr. +

Lữ Thị Phương Quý
Trường Đại học Quốc gia Hà Nội; Khoa Luật
Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật; Mã số: 60 38 01
Người hướng dẫn: GS. TS Nguyễn Đăng Dung
Năm bảo vệ: 2012

Abstract. Nghiên cứu lịch sử hình thành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân theo các bản
Hiến pháp. Nghiên cứu việc tổ chức thực hành quyền công tố ở một số nước trên thế giới.
Nghiên cứu thực trạng tổ chức thực hành quyền công tố ở Việt Nam. Khảo sát thực tiễn việc
thực hành quyền công tố trong việc giải quyết các vụ án hình sự về ma túy từ năm 2005 đến nay
ở Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa. Đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện
pháp luật về nội dung và hình thức để qua đó nâng cao chức năng thực hành quyền công tố trong
việc giải quyết các vụ án hình sự về ma tuý ở Việt Nam nói chung và ở tỉnh Thanh Hóa nói
riêng.
Keywords: Viện kiểm sát nhân dân; Quyền công tố; Pháp luật Việt Nam; Luật hình sự; Thanh
Hóa
Content.
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đề tài luận văn thạc sĩ Luật học: "Quyền công tố trong các vụ án hình sự về ma túy (qua thực tiễn
Viện kiểm sát tỉnh Thanh Hóa)" được nghiên cứu bởi những lý do cấp thiết sau:
Thứ nhất: Yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm trong tình hình hiện nay đòi hỏi phải nâng cao
chất lượng hoạt động của các cơ quan bảo về pháp luật trong đó có việc tăng cường chất lượng thực hành
quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân nhằm chống bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội và
bảo về pháp chế xã hội chủ nghĩa. Đây là một trong những nội dung quan trọng được thể hiện trong nhiều

Mục đích:
- Làm rõ cơ sở lý luận về chức năng thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân trong chính
thể nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
- Trên cơ sở lý luận về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân liên hệ việc thực
hành quyền công tố trong việc giải quyết các vụ án hình sự về ma túy ở Viện kiểm sát nhân dân tỉnh
Thanh Hóa. Qua đó đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng thực hành quyền công tố dưới góc độ
hoàn thiện pháp luật và thực tiễn áp dụng.
Nhiệm vụ:
- Nghiên cứu lịch sử hình thành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân theo các bản Hiến pháp
- Việc tổ chức thực hành quyền công tố ở một số nước trên thế giới.


- Nghiên cứu thực trạng tổ chức thực hành quyền công tố ở Việt Nam.
- Khảo sát thực tiễn việc thực hành quyền công tố trong việc giải quyết các vụ án hình sự về ma
túy từ năm 2005 đến nay ở Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật về nội dung và hình thức để qua đó
nâng cao chức năng thực hành quyền công tố trong việc giải quyết các vụ án hình sự về ma tuý ở Việt
Nam nói chung và ở tỉnh Thanh Hóa nói riêng.
3. Phương pháp tiếp cận vấn đề
Cơ sở lý luận của luận văn dựa trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh,
quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam về tổ chức và hoạt động bộ máy nhà nước nói chung, tổ chức
và hoạt động của các cơ quan tư pháp nói riêng; quan điểm về đấu tranh phòng chống tội phạm của Đảng
và Nhà nước ta. Các học thuyết chính trị, pháp lý về tổ chức hoạt động của cơ quan tư pháp trong nhà
nước xã hội chủ nghĩa. Lý luận chung về nhà nước pháp luật, chủ nghĩa Hiến pháp và các khoa học pháp
lý liên quan. Bên cạnh đó luận văn còn nghiên cứu dựa trên những quy định của pháp luật hình sự và luật
tổ chức Viện kiểm sát nhân dân ở nước ta từ khi thành lập đến nay.
Từ những cơ sở lý luận trên, luận văn tiếp cận vấn đề trên cơ sở phương pháp luận của duy vật lịch
sử và các phương pháp khác so sánh, phân tích, tổng hợp và khảo sát thực tiễn nhằm làm rõ các nội dung
cần nghiên cứu.
4. Ý nghĩa của luận văn

cụ thể của Tòa án và Viện kiểm sát. Uy tín của các cơ quan bảo vệ pháp luật giảm sút trong dư luận của quần
chúng. Vì vậy, tiếp tục đổi mới, cải cách hệ thống các cơ quan tư pháp theo định hướng xây dựng Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân, đòi hỏi phải nâng cao năng lực áp dụng pháp luật và
năng lực đề xuất, kiến nghị sáng kiến đổi mới và hoàn thiện hệ thống pháp luật vì con người, cho con
người đối với đội ngũ điều tra viên, kiểm sát viên và thẩm phán.
1.1.2. Sự ra đời và phát triển của quyền công tố
Quyền công tố là một khái niệm pháp lý gắn liền với bản chất của Nhà nước, là một bộ phận cấu
thành và không thể tách rời khỏi công quyền. Quyền công tố có trong tất cả các kiểu Nhà nước; nó ra đời,
tồn tại và mất đi cùng với Nhà nước và pháp luật.
Tại Việt Nam, khoa học Luật tố tụng hình sự nói riêng cũng như khoa học pháp lý nói chung, chế
định "quyền công tố" chưa được nghiên cứu một cách toàn diện; chính vì vậy, chưa có khái niệm chính
thống về quyền công tố. Mặc dù vậy, quyền công tố là một quyền năng quan trọng đã được Viện công
tố thực hiện ở nước ta từ năm 1945; từ 1960 đến nay do Viện kiểm sát nhân dân thực hiện. Tuy nhiên,
hiểu thế nào là "công tố", "quyền công tố", bản chất và nội dung của nó là gì, thì hiện nay vẫn chưa có
nhận thức, quan điểm thống nhất chung.
Thuật ngữ "quyền công tố" lần đầu tiên được ghi nhận tại Hiến pháp năm 1980; sau đó tại Hiến pháp
năm 1992, Bộ luật tố tụng hình sự năm 1998, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, Luật tổ chức Viện kiểm
sát nhân dân năm 1981, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1992, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân
dân năm 2002, Pháp lệnh kiểm sát viên năm 2002...
Quan điểm thứ nhất đồng nhất khái niệm quyền công tố với hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp
luật của Viện kiểm sát nhân dân. Quan điểm này cho rằng công tố không phải là một chức năng độc lập


của Viện kiểm sát, mà chỉ là một quyền năng, một hình thức hoạt động chức năng kiểm sát việc tuân theo
pháp luật. Đây là quan điểm khá phổ biến, đặc biệt là trong ngành Kiểm sát nhân dân từ năm 1960
Quan điểm thứ hai cho rằng quyền công tố là quyền của Nhà nước giao cho Viện kiểm sát truy tố kẻ
phạm tội ra Tòa án, thực hiện sự buộc tội tại phiên tòa (thực hành quyền công tố). Quan điểm này cho
rằng việc thực hiện quyền công tố chỉ diễn ra trong giai đoạn xét xử sơ thẩm hình sự.
Quan điểm thứ ba cho rằng quyền công tố là quyền đại diện cho Nhà nước để đưa các vụ việc vi phạm
trật tự pháp luật ra cơ quan xét xử để bảo vệ lợi ích của Nhà nước, bảo vệ trật tự pháp luật, được thể hiện


Viện kiểm sát Liên bang Nga, là một cơ quan có vị trí độc lập với cơ quan hành pháp và cơ quan tư
pháp, được xây dựng theo nguyên tắc tập trung thống nhất. Viện kiểm sát chỉ phục tùng một người lãnh
đạo duy nhất là Tổng kiểm sát trưởng Liên bang; Tổng kiểm sát trưởng do Hội đồng Liên bang bổ nhiệm,
bãi nhiệm theo đề nghị của Tổng thống Liên bang Nga. Dưới quyền Tổng kiểm sát trưởng Liên bang Nga
có các Kiểm sát viên các nước cộng hòa, các vùng, khu vực, thành phố trực thuộc Liên bang, các vùng tự
trị, các khu vực tự trị, các thành phố quận, huyện và cấp tương đương do Tổng kiểm sát trưởng Liên bang
Nga bổ nhiệm và bãi nhiệm. Mỗi Kiểm sát viên đều có một bộ máy những người dưới quyền…
1.2.1.2. Một số mô hình hoạt động của cơ quan công tố (Viện kiểm sát) ở châu Á
Nhật Bản, là một nước quân chủ lập hiến với lưỡng viện Quốc hội được bầu cử dân chủ. Các viện
công tố nằm dưới sự quản lý của Viện Công tố quốc gia. Tư tố không tồn tại. Viện Công tố quốc gia
có trách nhiệm toàn bộ đối với quyết định có truy tố hay không. Về quan hệ nội bộ, quyết định truy tố
phải được sự thông qua của hai hoặc ba cán bộ lãnh đạo trực tiếp công tố viên. Sự giám sát, mang tính
không bắt buộc, đối với các quyết định không truy tố có thể được thực hiện bởi một trong các Hội đồng
giám sát công tố của Nhật Bản, mỗi Hội đồng này gồm 11 công dân.
Ngoài nhiệm vụ truy tố tội phạm, các công tố viên Nhật Bản được chỉ đạo các hoạt động điều tra ban
đầu; hoạt động điều tra độc lập và phối hợp hoạt động với cảnh sát. Các công tố viên còn chỉ đạo trực tiếp
cảnh sát trong hoạt động điều tra của họ. Các Công tố viên có quyền kháng nghị hình phạt và sự tha bổng,
mặc dù họ hiếm khi sử dụng quyền này.
Trung Quốc, là một nước xã hội chủ nghĩa, Viện kiểm sát nhân dân được tổ chức từ trung ương đến
địa phương. Viện kiểm sát được tổ chức thành 4 cấp, tương ứng với tổ chức của Tòa án. Viện kiểm sát
nhân dân tối cao (SPP) là cơ quan cao nhất và chỉ đạo tất cả các Viện kiểm sát địa phương. SPP có trách
nhiệm báo cáo Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Đứng đầu Viện kiểm sát nhân dân tối cao là
Viện trưởng do Đại hội đại biểu nhân dân bổ nhiệm. Các Viện kiểm sát địa phương có trách nhiệm báo
cáo Hội đồng nhân dân cấp tương đương và Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp.
Ngoài ra, luận văn còn trình bày sơ lược mô hình hoạt động của cơ quan công tố (Viện kiểm sát) của
Cămpuchia và Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào.
1.2.2. Sự ra đời và phát triển của chế định Viện kiểm sát trong bộ máy nhà nước Việt Nam
Thiế t chế tổ chức Viện kiểm sát nhân dân ở nước ta có tuổ i đời cùng với Nhànước cách ma ̣ng và trải qua
nhiề u giai đoa ̣n phát triể n từ năm1945 đến nay

2.1.1. Tình hình kinh tế - xã hội
Tỉnh Thanh Hóa thuộc vùng Bắc Trung Bộ, cách Thủ đô Hà Nội 153 km về phía Nam theo quốc
lộ 1A, có tọa độ địa lý từ 19018 - 20000 vĩ độ Bắc và 104022 - 106004 kinh độ Đông; phía Bắc giáp các
tỉnh Sơn La, Hòa Bình và Ninh Bình; phía Nam giáp tỉnh Nghệ An; phía Tây giáp tỉnh Hủa Phăn của
nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào; phía Đông là Vịnh Bắc Bộ. Tỉnh Thanh Hóa có 27 đơn vị hành
chính gồm 1 thành phố, 02 thị xã và 24 huyện, với tổng diện tích tự nhiên 11.134,73 km2, dân số trung
bình năm 2007 khoảng 3,7 triệu người, chiếm 3,4% diện tích và 4,3% dân số cả nước.
Năm 2010 dân số trung bình của tỉnh là 3,7 triệu người (lớn thứ 2 trong cả nước, sau Thành phố Hồ
Chí Minh), chiếm xấp xỉ 34,6% dân số vùng Bắc Trung Bộ và 4,4% dân số cả nước. Mật độ dân số bình
quân gần 332 người/km2, gấp 1,6 lần mật độ dân số trung bình của vùng (207 người/km2) và 1,3 lần mật
độ dân số trung bình cả nước (255 người/km2).
Trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa hiện có 7 dân tộc sinh sống, trong đó dân tộc Kinh chiếm tỷ lệ cao nhất,
khoảng 84,75%, tiếp đến là dân tộc Mường chiếm 8,7%, dân tộc Thái chiếm 6%, còn lại là các dân tộc


khác như H’Mông, Dao, Hoa... chiếm một tỷ trọng nhỏ. Các dân tộc ở Thanh Hóa có những nét văn hóa
đặc trưng của vùng Bắc Trung Bộ.
Trong hơn 20 năm đổi mới, cùng với xu thế phát triển chung của cả nước, kinh tế của tỉnh Thanh
Hóa đã từng bước ổn định và đang trên đà phát triển, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt. Tốc độ tăng
trưởng bình quân 2001-2005 là 9,1%/năm và 11,5% giai đoạn 2006-2010; trong đó nông lâm nghiệp
và thủy sản tăng 4,2%/năm, công nghiệp - xây dựng tăng 15,8%/năm và dịch vụ tăng 12,2%/năm.
2.1.2. Tội phạm hình sự và ma túy
Trong những năm gần đây, tình hình an ninh - quốc phòng, trật tự trị an trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa
được giữ vững ổn định, tuy nhiên tình hình tội phạm vẫn diễn biến ngày càng phức tạp. Các loại tội phạm
về tệ nạn xã hội như tổ chức đánh bạc, đánh bạc… xảy ra với qui mô lớn hơn, thủ đoạn phạm tội tinh vi
hơn.
- Các tội xâm phạm an ninh quốc gia: Từ năm 2005 đến nay đã phát hiện và khởi tố 1vụ, 15 bị can về tội
trốn đi nước ngoài nhằm chống chính quyền (vụ án này được phát hiện và khởi tố năm 2007, các năm trước
không xảy ra vụ án nào thuộc nhóm tội này).01 vụ, 2 bị can về tội tổ chức cho người khác ở lại nước
ngoài trái phép (vụ án này được phát hiện khởi tố năm 2011)

tòa, nhằm đảm bảo mọi hành vi phạm tội đều phải được xử lý kịp thời, việc xét xử phải đúng người, đúng
tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội.
2.2.2. Thực trạng pháp luật về quyền công tố trong điều tra, truy tố, xét xử các vụ án ma túy qua thực
tiễn tại Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa
2.2.2.1. Tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa
Căn cứ vào quy định của Hiến pháp và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002, cơ cấu Viện
kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh hóa được tổ chức theo hai cấp:
Ở cấp tỉnh gồm: Văn phòng tổng hợp, phòng tổ chức cán bộ, phòng thống kê tội phạm và 9 phòng nghiệp
vụ. Trong đó có 3 phòng thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử sơ thẩm án hình sự, bao
gồm: Phòng án kinh tế và chức vụ với biên chế 9 cán bộ, kiểm sát viên; Phòng án trật tự xã hội có 14 cán bộ,
kiểm sát viên; Phòng án ma túy có 7 cán bộ, kiểm sát viên. Ở 27 huyện, thị xã, thành phố đều có bộ phận
thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử sơ thẩm án hình sự. Tổng biên chế toàn ngành
kiểm sát Thanh Hóa hiện có 340 cán bộ, kiểm sát viên. Số cán bộ, kiểm sát viên trong toàn ngành kiểm
sát Thanh Hóa có trình độ đại học chiếm 100%, trong đó có 12 cán bộ, kiểm sát viên có trình độ thạc sỹ
và 07 cán bộ, kiểm sát viên đang theo học sau đại học, trình độ cao đẳng là 16 cán bộ.
2.2.2.2 Thực hành quyền công tố trong việc giải quyết các vụ án hình sự về ma túy ở Viện kiểm sát
nhân dân tỉnh Thanh Hóa
Thanh Hóa là một tỉnh rộng mà địa bàn tương đối phức tạp do vậy các loại tội phạm về ma túy
như tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép chất ma túy diễn biến khá phức tạp, năm sau cao hơn năm
trước. Hành vi, thủ đoạn ngày càng tinh vi hơn, tội phạm xảy ra tập trung chủ yếu ở khu vực miền núi
có đường biên giới giáp với nước bạn Lào và khu vực đông dân cứ như thị xã, Thành phố. Trong năm
năm từ 2005 - 2010 đã khởi tố điều tra 2113 vụ, 2202 bị can, truy tố, xét xử đạt 98%, không có vụ án
nào Tòa án tuyên không phạm tội hoặc phải đình chỉ vụ án vì không chứng minh được tội phạm.
- Giai đoạn điều tra: do làm tốt công tác phân loại xử lý tin báo tố giác tội phạm ngay từ đầu nên các
vụ án khởi tố đều có căn cứ và đúng pháp luật. Qua công tác thực hành quyền công tố phát hiện và yêu
cầu cơ quan điều tra khởi tố thêm hàng chục bị can trong các vụ án đồng thời mở rộng điều tra ra
nhiều địa bàn khác ngoài tỉnh.


Đa số các vụ án ma túy đều là phạm tội bị bắt quả tang, hoặc cơ quan điều tra phải sử dụng đặc tình

cáo khai báo chưa rõ ràng hoặc có mâu thuẫn với nhau, mâu thuẫn với lời khai của các bị cáo khác hoặc
với những người tham gia tố tụng khác; những vấn đề mà quá trình nghiên cứu hồ sơ kiểm sát viên thấy
còn vướng mắc, phân vân để chủ động tham gia xét hỏi khi tham gia phiên tòa, tham gia xét hỏi bổ sung
những vấn đề mà Hội đồng xét xử chưa hỏi tới hoặc những vấn đề mà bị cáo, người tham gia tố tụng khai


báo, trả lời quanh co, còn che giấu sự thật. Trên cơ sở đó đấu tranh với bị cáo nhằm làm sáng tỏ sự thật
khách quan và mọi tình tiết của vụ án.
2.3. Giải pháp nhằm nâng cao chất lượng quyền công tố trong việc giải quyết các vụ án hình sự về ma
túy
2.3.1. Đánh giá chung về kết quả và tồn tại trong công tác thực hành quyền công tố trong các vụ án
ma túy
Hoạt động tội phạm ở nước ta trong thời gian qua diễn biến rất phức tạp, nhiều loại tội phạm tăng lên
cả về số lượng và tính chất phạm tội nhất là các loại tội phạm như tham nhũng, ma túy, trị an. Bên cạnh
đó khoa học công nghệ thông tin phát triển và xu hướng toàn cầu hóa về kinh tế và khoa học dẫn đến phát
sinh một số loại tội phạm mới và có tác động xấu đến trật tự xã hội. Trong khi đó công tác quản lý Nhà
nước về an ninh trật tự có lúc, có nơi còn bất cập với tình hình xã hội, còn bị động đối phó nhất là trong
việc giải quyết những vẫn đề phức tạp của xã hội mới phát sinh.
Mặt khác, trình độ nghiệp vụ của một bộ phận kiểm sát viên còn hạn chế, tinh thần trách nhiệm còn
yếu dẫn đến chất lượng công tố bị giảm sút, những vi phạm trong hoạt động điều tra, xét xử còn xảy ra
nhưng không được phát hiện kháng nghị để yêu cầu khắc phục.
Công tác chỉ đạo việc thực hành quyền công tố ở Viện kiểm sát các cấp còn mang tính sự vụ. Việc
hướng dẫn, chỉ đạo nghiệp vụ đối với Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới vẫn còn có những vụ, việc chưa
kịp thời, thiếu chính xác dẫn đến cấp dưới còn bị động, lúng túng. Bên cạnh đó các cơ quan pháp luật ở
Trung ương chưa kịp thời ra văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật kịp thời, thống nhất, một số văn bản áp
dụng pháp luật như nghị định, thông tư không còn phù hợp với những hành vi phát sinh trong xã hội dẫn
đến việc áp dụng thống nhất Bộ luật hình sự có sự khác nhau ở các địa phương.
Ngoài ra chất lượng hoạt động và sự phối hợp giữa các ngành, các cấp, các cơ quan bảo vệ pháp luật
trong đấu tranh phòng chống tội phạm vẫn còn bị buông lỏng, thiếu chặt chẽ.
Việc thực hành quyền công tố tại phiên tòa trong nhiều vụ án ở nhiều địa phương còn kém hiệu quả,

quyền công tố. Trong những năm gần đây, việc thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân các
cấp đã có nhiều chuyển biến so với trước, góp phần cùng cơ quan điều tra và Tòa án xử lý nghiêm minh
các vụ án hình sự, được nhân dân đồng tình ủng hộ. Tuy vậy chất lượng thực hành quyền công tố thực sự
còn bộc lộ nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được so với yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm trong tình
hình mới. Thực trạng này có nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan. Trong bài viết này tôi mạnh dạn
đề nghị một số giải pháp nhằm mang lại hiệu quả cho việc thực hiện chức năng này:
Thứ nhất: Nắm vững chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn trong thực hành quyền công tố, kiểm sát điều
tra và yêu cầu cải cách tư pháp
Trong lịch sử hoàn thiện bộ máy nhà nước ta, ngay từ năm 1945 cho đến nay hệ thống Viện kiểm sát
đã là một cơ quan độc lập, có tổ chức từ Trung ương đến địa phương. Để việc thực hiện chức năng này
thực sự có hiệu quả, Viện kiểm sát nhân dân trong thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, kiểm sát
xét xử các vụ án hình sự, nhằm đảm bảo:
+ Mọi hành vi phạm tội đều phải được khởi tố, điều tra và xử lý kịp thời, không để lọt tội phạm
và người phạm tội, không làm oan người vô tội;
+ Việc điều tra phải khách quan, toàn diện đầy đủ, chính xác, đúng pháp luật; những vi phạm pháp
luật trong quá trình điều tra phải được phát hiện, khắc phục kịp thời và xử lý nghiêm minh;
+ Việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị can phải có căn cứ và đúng pháp luật.


- Nghị quyết số 49 NQ/TW ngày 02 tháng 6 năm 2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư
pháp đến năm 2020 tiếp tục đặt ra những yêu cầu, mục tiêu để Viện kiểm sát nhân dân nâng cao trách
nhiệm pháp lý trong thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp.
Thứ hai: Không ngừng nâng cao năng lực nghiệp vụ chuyên môn và tu dưỡng rèn luyện phẩm chất
đạo đức
Kiểm sát viên là người đại diện cho Nhà nước thực hiện quyền công tố trong việc giải quyết các vụ án
hình sự. Để thực hiện tốt công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử đáp ứng
yêu cầu yêu cải cách tư pháp, đòi hỏi cán bộ, Kiểm sát viên phải:
- Miệt mài nghiên cứu, tìm tòi, học hỏi, nắm vững nội dung các văn bản pháp luật và hướng dẫn khác
liên quan, đồng thời phải không ngừng học tập nâng cao kỹ năng về chuyên môn, nghiệp vụ để vận dụng
giải quyết đúng đắn, kịp thời các tình huống trong việc giải quyết các vụ án hình sự.

cáo trạng Viện kiểm sát nhân danh nhà nước thể hiện chức năng của mình trong việc truy tố một người có
hành vi phạm tội ra tòa án để xét xử bởi một công dân chỉ bị tòa án đưa ra xét xử về hình sự khi bị Viện
kiểm sát truy tố. Do đó để quyền công tố thực sự phát huy tốt, yêu cầu các kiểm sát viên khi xây dựng bản
cáo trạng cần phải: Nghiên cứu đánh giá một cách chính xác, khách quan, toàn diện hồ sơ vụ án và bản
kết luận điều tra, khi có đủ căn cứ quyết định truy tố, kiểm sát viên tiến hành xây dựng bản cáo trạng. Bản
cáo trạng phải nêu rõ hành vi phạm tội của bị can, ngày, giờ, tháng, năm, địa điểm xảy ra tội phạm, thủ
đoạn, động cơ, mục đích phạm tội, hậu quả và các tình tiết khác có liên quan đến vụ án. Phải trích dẫn các
tài liệu, chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị can, đồng thời nêu rõ bút lục trong hồ sơ vụ án để
bảo đảm tính pháp lý và tính thuyết phục cao trong bản cáo trang. Trên cơ sở đó viện dẫn pháp luật đối
với từng hành vi phạm tội của bị can. Đảm bảo truy tố đúng người, đúng tội danh, khung khoản, điều luật.
Trong toàn bộ hoạt động của quyền công tố thì thực hành quyền công tố ở cấp sơ thẩm có vị trí rất
quan trọng, lúc này kiểm sát viên nhân danh nhà nước thực hiện quyền công tố trước phiên tòa để
chứng minh một người có tội hay không. Để thực hiện tốt vai trò này Kiểm sát viên phải nắm chắc toàn
bộ hồ sơ, chứng cứ vụ án, trên cơ sở đó dự thảo bản luận tội, chuẩn bị đề cương xét hỏi và dự kiến
những vấn đề tranh luận tại phiên tòa, các tình huống phát sinh trên cơ sở đó để bảo vệ bản cáo trạng
một cách có căn cứ.
Trong quá trình duy trì quyền công tố tại phiên tòa, Kiểm sát viên phải tích cực phối hợp với Hội
đồng xét xử thẩm tra chứng cứ một cách khách quan để đủ căn cứ khẳng định rằng bị cáo có tội hoặc
không có tội, để qua đó có thể bảo vệ quyết định truy tố hoặc rút một phần quyết định truy tố. Duy trì
quyền công tố tại tòa kiểm sát viên nhân danh nhà nước đọc bản luận tội. Đây là căn cứ để Hội đồng xét
xử hình thành niềm tin nội tâm để đưa ra một bản án thích đáng. Thông qua bản luận tội kiểm sát viên đã
ghóp phần vào truyền bá ý thức chính trị và pháp luật cho những người đến tham dự phiên tòa.
Bản luận tội là văn bản pháp lý thể hiện quan điểm của Viện kiểm sàt tại phiên tòa sơ thẩm hình sự,
do đó kiểm sát viên phải trung thành với nội dung của vụ án trên cơ sở thẩm định chứng cứ tại phiên tòa
để tuyên bố một người có tội hoặc không có tội cho hợp tình, hợp lý. Kiểm sát viên phải tích cực tranh
luận với Luật sư, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác để làm rõ tình tiết khách quan
trong vụ án, tránh tình trạng án tại hồ sơ.
Thứ tư: Công tác chỉ đạo, điều hành
Thực tiễn cho thấy việc quản lý, chỉ đạo điều hành có ý nghĩa quan trọng đối với việc thúc đẩy hiệu
quả thực hành quyền công tố. Yêu cầu đặt ra đối với công tác này là phải căn cứ vào diễn biến tình hình

bộ máy nhà nước Việt Nam để thấy được cùng với sự ra đời của Nhà nước nói chung và Nhà nước dân
chủ cộng hòa của Việt Nam thì quyền công tố cũng ra đời cùng với cơ quan Tòa án. Ban đầu chi là một
bộ phận của Tòa án nhưng cùng với thời gian và sự phát triển của bộ máy nhà nước cơ quan được giao
thực hiện quyền công tố phát triển dần thành một chế định riêng và cho đến ngày nay Viện kiểm sát nhân
dân được Nhà nước giao cho thực hiện chức năng công tố trở thành một cơ quan nhà nước độc lập và
không thể thiếu trong bộ máy nhà nước.
- Luận văn cũng nêu rõ được thực trạng thực hành quyền công tố hiện nay ở Việt Nam và cách thức
tổ chức thực hiện quyền công tố như thế nào trong việc giải quyết các vụ án hình sự nói chung và các vụ
án hình sự về ma túy nói riêng để qua đó thấy được những ưu điểm khuyêt điểm trong việc thực hành


quyền công tố quá đó có những giải pháp để nâng cao việc thực hành quyền công tố trong tiến trình cải
cách tư pháp
Mặc dù luận văn chưa thực sự đầy đủ và sâu sắc về lý luận thế nào là quyền công tố trong việc giải
quyết vụ án hình sự, tuy nhiên bằng kinh nghiệm của người đã làm qua công tác thực hành quyền công tố
và kiểm sát các hoạt động tư pháp tôi cũng mạnh dạn đưa ra những giải pháp mang tính áp dụng để cũng
tháo gỡ những khó khăn trong quá trình giải quyết án nhằm đảm bảo việc thực hành quyền công tố ở Viện
kiểm sát nhân dân thực sự phát huy hiệu quả trong công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm và trong
tiến trình cải cách tư pháp của đất nước.
Những nội dung trên của luận văn là kết quả của sự nỗ lực của bản thân tác giả, sự hướng dẫn tận tình
của của người dẫn khoa học, sự giúp đỡ của đồng nghiệp và sự tạo điều kiện của gia đình. Tuy nhiên với
khả năng và thời gian hạn hẹp,trong bài viết còn có nhiều hạn chế cả về lý luận và thực tiến. Rất mong
được sự đóng góp ý kiến để có thể áp dụng trong hoạt động thực hành quyền công tố của bản thân tác giả.

References.

1.

Dương Thanh Biểu (2007), Tranh luận tại phiên sơ thẩm, Nxb Tư pháp Hà Nội.


Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội.

9.

Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01 của Bộ Chính trị về một số
nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới, Hà Nội.

10. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5 của Bộ Chính trị về chiến
lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020,
Hà Nội.
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6 của Bộ Chính trị về chiến lược
cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội.


12. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội.
13. Nguyễn Xuân Hà - Phạm Hoàng Diệu Linh (2009), Hoàn thiện các quy định của Bộ luật Tố tụng
hình sự năm 2003 để bảo đảm phù hợp với việc tổ chức hệ thống các cơ quan tư pháp theo tinh thần
nghị quyết 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Đề tài khoa
học cấp bộ, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Hà Nội.
14. Lê Thị Tuyết Hoa (2002), Quyền công tố ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ luật học, Viện Nghiên cứu Nhà
nước và Pháp luật.
15. Nguyễn Văn Huyên, Nguyễn Văn Điệp (2006), Kỹ năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc
tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
16. Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội (2005), Giáo trình Luật Tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Đại
học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
17. Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội (2007), Giáo trình Lý luận chung về nhà nước pháp luật, Nxb
Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
18. Hoàng Phê (chủ biên), Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, Đà Nẵng.

sung), Hà Nội.
39. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa (2005-2010), Báo cáo tổng kết công tác kiểm sát các năm
2005 - 2010, Thanh Hóa.
40. Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2007), Quy chế thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ
án hình sự (Ban hành kèm theo quyết định số 960/QĐ-VKSNDTC ngày 17/9/2007 của Viện trưởng
Viện kiểm sát nhân dân tối cao), Hà Nội.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status