Việc tham gia tố tụng dân sự của viện kiểm sát cấp huyện qua thực tiễn tại viện kiểm sát nhân dân quận hai bà trưng, thành phố hà nội 03 - Pdf 69

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

LÊ THỊ HỒNG HẠNH

VIỆC THAM GIA TỐ TỤNG DÂN SỰ CỦA
VIỆN KIỂM SÁT CẤP HUYỆN QUA THỰC
TIỄN TẠI VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN QUẬN
HAI BÀ TRƢNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội - 2015

1


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

LÊ THỊ HỒNG HẠNH

VIỆC THAM GIA TỐ TỤNG DÂN SỰ CỦA
VIỆN KIỂM SÁT CẤP HUYỆN QUA THỰC
TIỄN TẠI VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN QUẬN
HAI BÀ TRƢNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Chuyên ngành
Mã số

: Luật Dân sự và tố tụng dân sự

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT............................................................................
DANH MỤC BẢNG BIỂU ..............................................................................
CHƢƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ VIỆC THAM GIA TỐ TỤNG DÂN SỰ........
CỦA VIỆN KIỂM SÁT CẤP HUYỆN ..........................................................
1.1. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ VAI TRÒ CỦA VIỆC THAM GIA TỐ
TỤNG DÂN SỰ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG TỐ
TỤNG DÂN SỰ..............................................................................................
1.1.1. Khái niệm về việc tham gia tố tụng dân sự của Viện kiểm sát nhân
dân cấp huyện ..................................................................................................
1.1.2. Đặc điểm của việc tham gia tố tụng dân sự của Viện kiểm sát nhân
dân cấp huyện ..................................................................................................
1.1.3. Ý nghĩa của việc tham gia tố tụng dân sự của Viện kiểm sát nhân dân
cấp huyện .........................................................................................................
1.2. NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƢỞNG TỚI VIỆC THAM GIA TỐ TỤNG
CỦA VIỆN KIỂM SÁT CẤP HUYỆN ..........................................................
1.2.1. Chủ trƣơng của Đảng trong việc cải cách tƣ pháp là yếu tố thúc đẩy
hoạt động kiểm sát án dân sự của Viện kiểm sát cấp huyện ...........................
1.2.2. Tính hợp lý trong các quy định về việc tham gia tố tụng dân sự
của Viện kiểm sát cấp huyện là yếu tố tác động tới hiệu quả của công tác
kiểm
sát án dân sự ....................................................................................................
1.2.3. Trình độ, năng lực của Kiểm sát viên Viện kiểm sát cấp huyện là yếu
tố có ảnh hƣởng đến chất lƣợng kiểm sát án dân sự .......................................
1.2.4. Sự gia tăng các án kiện dân sự và khiếu nại, tố cáo trong bối cảnh
hạn chế nguồn nhân lực dẫn tới sự quá tải của Viện kiểm sát cấp huyện ......
1.3. SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP
LUẬT VIỆT NAM VỀ VIỆC THAM GIA TỐ TỤNG DÂN SỰ CỦA
VIỆN KIỂM SÁT............................................................................................
4




3.1. THỰC TIỄN THAM GIA TỐ TỤNG DÂN SỰ CỦA VIỆN KIỂM
SÁT QUẬN HAI BÀ TRƢNG...................................................................... 62
3.1.1. Khái quát về đặc điểm tình hình, tổ chức, cán bộ của Viện kiểm sát
nhân dân Quận Hai Bà Trƣng.........................................................................62
3.1.2. Về kiểm sát việc thụ lý giải quyết các vụ, việc dân sự......................... 65
3.1.3. Về việc Kiểm sát viên tham gia phiên tòa, phiên họp dân sự...............70
3.1.4. Về kiểm sát bản án, quyết định về dân sự của Toà án..........................77
3.1.5. Những tồn tại, hạn chế và vƣớng mắc, bất cập trong thực tiễn tham
gia tố tụng dân sự của Viện kiểm sát Quận Hai Bà Trƣng, Thành phố Hà
Nội.................................................................................................................. 89
3.2. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ TỪ VIỆC THAM GIA TỐ TỤNG DÂN SỰ
CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN QUẬN HAI BÀ TRƢNG, THÀNH
PHỐ HÀ NỘI................................................................................................106
3.2.1. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về việc tham gia tố tụng của Viện
kiểm sát cấp huyện........................................................................................106
3.2.2. Kiến nghị thực hiện pháp luật về việc tham gia tố tụng của Viện kiểm
sát Quận Hai Bà Trƣng.................................................................................112
KẾT LUẬN CHƢƠNG 3.............................................................................117
KẾT LUẬN CHUNG....................................................................................118
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO...................................................... 120

6


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
CHXHCN : Cộng hòa xã hội chủ nghĩa.
KSND : Kiểm sát nhân dân.
TTDS : Tố tụng dân sự.

thẩm quyền của Viện kiểm sát trong việc tham gia các phiên toà dân sự, bảo đảm
việc thực hiện có hiệu quả chức năng kiểm sát trong tố tụng dân sự. Theo quy
định tại Điều 21 BLTTDS sửa đổi năm 2011 thì “Viện kiểm sát nhân dân tham
gia các phiên họp sơ thẩm đối với các việc dân sự; các phiên toà sơ thẩm đối với
những vụ án do Toà án tiến hành thu thập chứng cứ hoặc đối tượng tranh chấp
là tài sản công, lợi ích công cộng, quyền sử dụng đất, nhà ở hoặc có một bên
đương sự là người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất, tâm thần”.
Xét thực tiễn thi hành BLTTDS trong thời gian qua cho thấy, quy định của
BLTTDS về việc tham gia của Viện kiểm sát trong tố tụng dân sự đã bộc lộ những
hạn chế, bất cập, chƣa tạo điều kiện cho Viện kiểm sát thực hiện đƣợc đầy đủ chức
năng, nhiệm vụ của mình theo quy định của Hiến pháp và Luật Tổ chức Viện kiểm
sát nhân dân. Trong điều kiện thực tiễn của Việt Nam, do những khó khăn về trình
độ dân trí, điều kiện kinh tế của ngƣời dân nên việc tự bảo vệ hoặc nhờ Luật sƣ bảo
vệ quyền lợi cho mình trƣớc Toà án cũng còn nhiều hạn chế. Mặt khác, do sự bất
cập, thiếu ổn định của hệ thống pháp luật, những tác động tiêu cực của nền kinh tế
thị trƣờng, năng lực, trình độ của đội ngũ cán bộ xét xử còn bất cập so với yêu cầu
cải cách tƣ pháp...nên dẫn tới có nhiều vụ việc giải quyết chƣa bảo đảm tính khách
quan, gây khiếu kiện bức xúc, kéo dài, quyền lợi
8


hợp pháp của ngƣời dân không đƣợc bảo vệ kịp thời. Việc khảo sát thực tiễn
kiểm sát án dân sự tại Viện kiểm sát nhân dân Quận Hai Bà Trƣng, Thành phố
Hà Nội - nơi học viên đang công tác cũng phản ánh những tồn tại, hạn chế này.
Do sự hạn chế phạm vi tham gia tố tụng dân sự của Viện kiểm sát, Viện kiểm sát
chủ yếu chỉ thực hiện chức năng kiểm sát thông qua việc nghiên cứu các Thông
báo, Quyết định, Bản án của Tòa án nên dẫn tới công tác kiểm sát án dân sự
nhằm phát hiện và khắc phục những sai lầm, vi phạm của Toà án còn chƣa kịp
thời và hiệu quả.
Với những lý do trên, tác giả đã lựa chọn “Việc tham gia tố tụng dân sự

3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Luận văn nghiên cứu về việc tham gia tố tụng dân sự của Viện kiểm sát

cấp huyện qua thực tiễn tại Viện kiểm sát Nhân dân Quận Hai Bà Trƣng, Thành
phố Hà Nội:
+ Nghiên cứu những vấn đề lý luận về việc tham gia tố tụng dân sự của

Viện kiểm sát cấp huyện theo các quy định của pháp luật Việt Nam.
+ Nghiên cứu thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật Việt Nam tại

Viện kiểm sát nhân dân Quận Hai Bà Trƣng, Thành phố Hà Nội để từ đó tìm
hiểu một số những vƣớng mắc, bất cập trong thực tiễn tham gia tố tụng dân sự.
+ Đề xuất và luận chứng những quan điểm, giải pháp chủ yếu nhằm nâng

cao chất lƣợng về việc tham gia tố tụng dân sự tại Viện kiểm sát nhân dân Quận
Hai Bà Trƣng, Thành phố Hà Nội.
- Trong khuôn khổ của Luận văn thạc sỹ luật học, Luận văn giới hạn phạm
vi nghiên cứu công tác kiểm sát án dân sự ở Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện và

thực tiễn ở một địa phƣơng cụ thể mà không tiếp cận nghiên cứu về công tác
kiểm sát thi hành án dân sự. Luận văn có những nghiên cứu, đánh giá tổng quan
về việc tham gia tố tụng dân sự của Viện kiểm sát cấp huyện nói chung và từ đó
lồng ghép phân tích về thực tiễn thực hiện tại Viện kiểm sát nhân dân Quận Hai
Bà Trƣng trong những năm gần đây. Việc xác định giới hạn và định hƣớng
nghiên cứu này thực sự có ý nghĩa thiết thực và phục vụ trực tiếp cho công tác
kiểm sát án dân sự tại địa phƣơng nơi học viên công tác.
4. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận:

10

lập pháp một số nƣớc về việc tham gia tố tụng dân sự của Viện kiểm sát.
- Luận văn luận giải và chỉ ra đƣợc những điểm mới của BLTTDS sửa đổi

năm 2011 về việc tham gia tố tụng dân sự của Viện kiểm sát cấp huyện; đánh giá
thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về việc tham gia tố tụng dân
sự của Viện kiểm sát nhân dân từ thực tiễn tại Viện kiểm sát Nhân dân Quận Hai
Bà Trƣng, Thành phố Hà Nội.

11


- Luận văn đƣa ra đƣợc đề xuất và cơ sở của đề xuất hoàn thiện pháp luật

và thực hiện pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả kiểm sát án dân sự trong thực
tiễn.
- Luận văn có thể đƣợc sử dụng làm tài liệu tham khảo trong quá trình

nghiên cứu hoàn thiện các quy định của pháp luật về thủ tục sơ thẩm và về nhiệm
vụ, quyền hạn của VKS trong tố tụng dân sự.
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm tƣ liệu tham khảo phục vụ cho
công tác nghiên cứu, giảng dạy khoa học pháp lý nói chung và đào tạo chức danh
Tƣ pháp nói riêng. Nội dung của luận văn cũng có thể góp phần xây dựng kỹ năng
nghề nghiệp của chuyên viên, Kiểm tra viên, Kiểm sát viên, kỹ năng nghiên cứu hồ
sơ, đặc biệt là đối với các Kiểm sát viên kiểm sát các vụ, việc dân sự tại Viện KSND
Quận Hai Bà Trƣng, Thành phố Hà Nội theo BLTTDS sửa đổi năm

2011.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm 03 chƣơng.

vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân. Trong đó, VKS
đƣợc thành lập nhƣ một hệ thống cơ quan chuyên môn, chịu trách nhiệm trƣớc
Quốc hội và thực hiện chức năng kiểm sát do Quốc hội giao cho.
Ở nƣớc ta, chức năng của VKS đã từng đƣợc xác định trong Tờ trình
Quốc hội về Luật tổ chức Viện KSND năm 1960: “…Vì lẽ trên phải tổ chức ra
Viện KSND để kiểm sát việc tuân theo pháp luật nhằm giữ vững pháp chế XHCN,
đảm bảo cho pháp luật được thi hành nghiêm chỉnh và thống nhất”. Đây cũng
chính là chức năng cơ bản của Viện KSND. Việc giao cho Viện kiểm sát đảm
nhiệm chức năng này là hoàn toàn phù hợp với lý luận cũng nhƣ thực tiễn. Theo
V.I Lênin trong tác phẩm “Bàn về chế độ trực thuộc song trùng và pháp chế” đã
khẳng định: “…pháp chế chỉ có một, để thiết lập pháp chế thống nhất chống lại
một cách hiệu quả bệnh cục bộ, địa phương chủ nghĩa cần thành lập cơ quan
VKS”. [2]. Viện kiểm sát chỉ làm một công việc mà thôi, tức là làm thế nào cho
pháp chế đƣợc hiểu biết và tuân thủ thống nhất trong toàn nƣớc cộng hòa.
13


Trong quá trình đổi mới, xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền Việt Nam, Hiến
pháp năm 1992 (sửa đổi) đã xác định vai trò của Viện KSND. Theo đó, Viện
KSND là một hệ thống cơ quan có vị trí độc lập trong bộ máy nhà nƣớc, đƣợc tổ
chức thành một hệ thống từ trung ƣơng xuống địa phƣơng (cấp tỉnh và huyện),
có chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tƣ pháp, bảo
đảm cho pháp luật đƣợc chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất. Tại Điều 1 của
Luật tổ chức Viện KSND công bố ngày 12/4/2002 cũng ghi nhận lại chức năng
của VKS: “Viện KSND thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư
pháp theo quy định của Hiến pháp và pháp luật”. Đặc biệt, Hiến pháp năm 1992
sửa đổi, bổ sung năm 2002 quy định “VKS thực hành quyền công tố và kiểm sát
các hoạt động tư pháp”. Nghị quyết 49-NQ/TƢ ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị
về Chiến lƣợc cải cách tƣ pháp đến năm 2020 vẫn khẳng định hai chức năng cơ
bản của Viện kiểm sát: “Viện KSND giữ nguyên chức năng như hiện nay là thực

hình thức bảo vệ pháp luật”[1,tr.1958]. Nhƣ vậy, Viện kiểm sát cấp huyện là cơ
quan tiến hành tố tụng với chức năng kiểm sát các hoạt động tƣ pháp – một chức
năng Hiến định của Viện kiểm sát, Luật tổ chức VKSND năm 2002 xác định
kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự là một lĩnh vực công tác thực hiện chức
năng trên. Cụ thể theo quy định của các điều 20, 21, 22 Luật Tổ chức Viện KSND
năm 2002 đã quy định rất rõ ràng và chi tiết.
Điều 20 Luật Tổ chức Viện KSND năm 2002 quy định: “Viện kiểm sát
nhân dân kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân gia đình, hành
chính, kinh tế, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật nhằm
bảo đảm việc giải quyết các vụ án đúng pháp luật, kịp thời”.
Điều 21 Luật Tổ chức Viện KSND năm 2002 quy định: “ Khi kiểm sát
việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân gia đình, hành chính, kinh tế, lao
động và những việc khác theo quy định của pháp luật, Viện kiểm sát nhân dân có
những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
1. Kiểm sát việc thụ lý, lập hồ sơ vụ án; yêu cầu Toà án nhân dân hoặc tự

mình xác minh những vấn đề cần làm sáng tỏ nhằm giải quyết đúng đắn vụ án;
2. Khởi tố vụ án theo quy định của pháp luật;
3. Tham gia các phiên tòa và phát biểu quan điểm của Viện kiểm sát nhân

dân về việc giải quyết vụ án;
4. Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động xét xử của Toà án

nhân dân;
5. Kiểm sát việc tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng;

15


6. Kiểm sát các bản án và quyết định của Toà án nhân dân;

nhƣ theo quy định của trƣớc đây nữa. Cụ thể là khi kiểm sát việc giải quyết vụ
việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thƣơng mại, lao động thì Viện
16


kiểm sát cấp huyện có quyền kiểm sát việc trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu;
kiểm sát việc thụ lý, giải quyết vụ án, vụ việc; thu thập tài liệu, chứng cứ trong
trƣờng hợp pháp luật quy định; tham gia phiên tòa, phiên họp, phát biểu quan
điểm của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án, vụ việc theo quy định của pháp
luật; kiểm sát bản án, quyết định của Toà án; kiểm sát hoạt động tố tụng của
ngƣời tham gia tố tụng; yêu cầu, kiến nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xử lý
nghiêm minh ngƣời tham gia tố tụng vi phạm pháp luật; kháng nghị, kiến nghị
bản án, quyết định của Toà án có vi phạm pháp luật; kiến nghị, yêu cầu Toà án,
cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động tố tụng.v.v...
Nhƣ vậy, VKS cấp huyện tham gia vào TTDS góp phần giúp Toà án cấp
huyện giải quyết đúng đắn vụ, việc dân sự, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
Nhà nƣớc và công dân, đó cũng chính là bảo đảm pháp chế XHCN đƣợc tôn
trọng trong toàn bộ quá trình tố tụng của Toà án. Từ việc phân tích trên, có thể
định nghĩa về việc tham gia tố tụng dân sự của VKSND cấp huyện nhƣ sau:
“Việc tham gia tố tụng dân sự của VKSND cấp huyện là việc VKSND cấp huyện
tham gia vào quá trình tố tụng dân sự với tư cách là cơ quan tiến hành tố tụng,
có chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật nhằm đảm bảo cho pháp luật
được thi hành nghiêm chỉnh, thống nhất trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự
tại Toà án”.
Theo Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 thì VKSND cấp huyện
gồm có các bộ phận công tác và bộ máy giúp việc do Viện trƣởng, các Phó viện
trƣởng phụ trách. Viện KSND cấp huyện gồm có Viện trƣởng, các Phó viện trƣởng
và các Kiểm sát viên. Theo đó, Viện KSND cấp huyện là cơ quan tiến hành tố tụng;
Viện trƣởng Viện kiểm sát và Kiểm sát viên Viện KSND cấp huyện là những ngƣời
tiến hành tố tụng thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng

giao các loại văn bản trên của Toà án có đúng quy định của pháp luật tố tụng dân
sự hay không…
- Thứ hai, Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thuộc Viện KSND cấp

huyện là chủ thể thực hiện việc kiểm sát hoạt động tố tụng dân sự và phải tuân
thủ những quy định về trình tự, thủ tục do pháp luật quy định
VKSND cấp huyện là chủ thể của quan hệ pháp luật TTDS, có những
quyền và nghĩa vụ tố tụng nhất định (quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị) với
vị trí pháp lý hoàn toàn khác với vị trí của các chủ thể tham gia tố tụng để thực
hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong quá trình toàn bộ quá trình
TTDS. Là cơ quan tiến hành tố tụng, song khác với Toà án cấp huyện là chủ thể
chính có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự, trực tiếp tham gia vào tất cả
18


các giai đoạn của quá trình sơ thẩm vụ việc dân sự, sự có mặt của Viện KSND
cấp huyện không mang tính chất bắt buộc thƣờng xuyên liên tục. Về mặt pháp lý,
Viện KSND cấp huyện chỉ tham gia một số hoạt động kiểm sát nhƣ kiểm sát
thông báo thụ lý, kiểm sát thông báo trả lại đơn khởi kiện, kiểm sát bản án, quyết
định…
Khi tham gia phiên tòa, phiên họp Kiểm sát viên đại diện cho Viện KSND
cấp huyện thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Viện KSND đƣợc pháp luật TTDS
quy định. Đó là kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Toà án, ngƣời tham gia tố
tụng. Vấn đề này đƣợc thể hiện rõ nét nhất tại phiên tòa mà chủ thể tiến hành là
Kiểm sát viên Viện KSND cấp huyện. Việc tham gia tố tụng dân sự của Kiểm sát
viên cấp huyện tại phiên tòa, phiên họp vừa thể hiện vai trò giám sát, vừa thể
hiện sự hỗ trợ cùng với Toà án trong việc giải quyết đúng đắn vụ việc dân sự. Tuy
thực hiện việc kiểm sát trong tố tụng dân sự nhƣng Kiểm sát viên Viện KSND
cấp huyện cũng phải tuân theo các quy định về trình tự, thủ tục đƣợc pháp luật tố
tụng dân sự quy định.

thẩm dẫn tới việc kháng cáo và phải tiến hành phúc thẩm một cách không cần
thiết.
Việc tham gia của Viện KSND cấp huyện đảm bảo việc giải quyết vụ, việc
dân sự nhanh chóng, khách quan, toàn diện, đầy đủ và kịp thời, bảo vệ lợi ích của
Nhà nƣớc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân;
bảo đảm bản án, quyết định của Toà án cấp huyện có căn cứ và đúng pháp
luật.
1.2. NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƢỞNG TỚI VIỆC THAM GIA TỐ
TỤNG CỦA VIỆN KIỂM SÁT CẤP HUYỆN
1.2.1. Chủ trƣơng của Đảng trong việc cải cách tƣ pháp là yếu tố thúc
đẩy hoạt động kiểm sát án dân sự của Viện kiểm sát cấp huyện
Hiện nay, Đảng và Nhà nƣớc ta chủ trƣơng đẩy mạnh xây dựng Nhà nƣớc
pháp quyền XHCN, mà nội dung cốt lõi chính là sự quản lý nhà nƣớc và xã hội
bằng pháp luật, đòi hỏi sự tuân theo pháp luật triệt để của các cơ quan nhà nƣớc, các
tổ chức và công dân. Cƣơng lĩnh xây dựng đất nƣớc trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội của Đảng ta (bổ sung, phát triển năm 2011) và Báo cáo chính trị của
Ban chấp hành Trung ƣơng Đảng khóa X trình Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI
nêu rõ: Nhà nƣớc ta là Nhà nƣớc pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì
nhân dân...Quyền lực Nhà nƣớc là thống nhất; có sự phân công, phối hợp và kiểm
soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tƣ
pháp. Nhà nƣớc ban hành pháp luật; tổ chức, quản lý xã hội bằng
20


pháp luật và không ngừng tăng cƣờng pháp chế xã hội chủ nghĩa, tăng cƣờng các
cơ chế giám sát [26, tr 85, 251] . Qua sơ kết 03 năm thực hiện Nghị quyết số 49NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lƣợc cải cách tƣ pháp đến
năm 2020, Bộ chính trị đã chỉ rõ: Một trong những nguyên nhân làm cho chất
lƣợng xét xử các vụ án dân sự thời gian qua còn thấp là do chƣa có cơ chế giám
sát, kiểm sát hiệu quả việc giải quyết các vụ án này[14]. Kết luận số 79-KL/TW
ngày 28/7/2010 của Bộ Chính trị về Đề án đổi mới tổ chức và hoạt động Toà án,

pháp luật, kiểm sát các hoạt động tƣ pháp (cơ chế kiểm tra, giám sát từ bên
ngoài) và gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của VKSND.
Trƣớc năm 2004, phạm vi và quyền hạn của Viện kiểm sát cấp huyện đối
với kiểm sát án dân sự sơ thẩm đƣợc mở rộng. Theo đó, Viện kiểm sát cấp huyện
có quyền khởi tố vụ án dân sự, quyền yêu cầu Toà án điều tra xác minh hoặc tự
mình tiến hành điều tra xác minh nếu thấy cần thiết; có quyền tham gia các phiên
toà sơ thẩm dân sự...Với phạm vi quyền hạn này, Viện kiểm sát cấp huyện có thể
thực hiện tốt hơn và có hiệu quả vai trò kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố
tụng dân sự. Tuy nhiên, BLTTDS sửa đổi năm 2011 đã hạn chế hơn quyền hạn
của Viện kiểm sát cấp huyện, đặc biệt là quyền tham gia tố tụng tại phiên tòa sơ
thẩm. Sự hạn chế này đã làm ảnh hƣởng không nhỏ tới hiệu quả công tác kiểm
sát án dân sự, do tổ chức bộ máy, cán bộ làm công tác kiểm sát việc giải quyết
các vụ việc dân sự bị thu hẹp; số lƣợng cán bộ, Kiểm sát viên bị giảm thiểu do
hạn chế nhu cầu công việc.
Hoạt động chủ yếu của cán bộ, Kiểm sát viên là tiếp nhận thông báo thụ
lý, các quyết định, bản án do Toà án chuyển đến sau khi đã giải quyết và có
nhiệm vụ nghiên cứu để phát hiện vi phạm, sai lầm của Toà án khi giải quyết
tranh chấp. Vấn đề đặt ra là nếu chỉ kiểm sát thông qua nghiên cứu vụ án bằng
việc đọc các quyết định, bản án để phát hiện sai lầm, vi phạm của Toà án khi giải
quyết tranh chấp là không khả thi. Việc bãi bỏ quy định về quyền kiểm sát hồ sơ
của Toà án dẫn tới việc hạn chế, thậm chí làm giảm đáng kể hiệu quả kiểm sát
của Viện kiểm sát cấp huyện đối với công tác kiểm sát án dân sự. Xét cả về lý
thuyết và thực tiễn, bản án đƣợc ban hành có thể không phản ánh đầy đủ, đúng
các tình tiết, sự kiện, chứng cứ có trong hồ sơ, tính chân thực trong lời khai báo,
trình bày của đƣơng sự, ngƣời làm chứng. Ngoài ra, việc Toà án chƣa thu thập
đầy đủ chứng cứ, tài liệu cần thiết để giải quyết vụ án, hoặc không còn khả năng
để xác minh làm rõ hơn, tình tiết quan trọng của vụ án, bỏ qua một vài tình tiết
có liên quan đến đánh giá, vận dụng pháp luật nội dung...cũng có thể dẫn tới bản
22


của công dân, cơ quan, tổ chức gửi đến Viện kiểm sát thì chủ yếu là các đơn thƣ
khiếu nại, tố cáo về việc giải quyết các tranh chấp dân sự (chiếm với tỷ lệ 70%).
23


Các đơn khiếu nại, tố cáo này tập trung vào việc khiếu nại các phán quyết của cơ
quan tố tụng hoặc tố cáo cán bộ tƣ pháp giải quyết các tranh chấp dân sự của Toà
án không bảo đảm sự vô tƣ, khách quan, gây khó khăn, không tạo thuận lợi cho
việc thực thi quyền con ngƣời, quyền công dân hoặc không đúng pháp luật. Để
có thể xử lý toàn bộ và có hiệu quả các khiếu nại, tố cáo này đòi hỏi phải có một
đội ngũ đông đảo các kiểm sát viên chuyên nghiệp có đủ năng lực và phẩm chất
để hoàn thành nhiệm vụ đƣợc giao. Do vậy, vấn đề cân đối giữa nguồn nhân lực
và số lƣợng công việc phát sinh cần kiểm sát đƣợc coi là then chốt của công tác
kiểm sát án dân sự của Viện kiểm sát cấp huyện. Sự mất cân đối giữa số lƣợng
công việc và biên chế kiểm sát sẽ ảnh hƣởng không nhỏ tới hiệu quả và chất
lƣợng của công tác kiểm sát.
1.3. SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP
LUẬT VIỆT NAM VỀ VIỆC THAM GIA TỐ TỤNG DÂN SỰ CỦA VIỆN
KIỂM SÁT
1.3.1. Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1959
Ngay từ sau cách mạng tháng tám, để xây dựng và củng cố chính quyền cách
mạng non trẻ, Nhà nƣớc ta đã ban hành hàng loạt văn bản pháp luật quy định về tổ
chức và hoạt động của các cơ quan nhà nƣớc. Pháp luật Nhà nƣớc ta trong giai đoạn
này quy định về vị trí, chức năng và nhiệm vụ của Công tố viên trong TTDS nhƣ
sau: Trong cuộc cải cách tƣ pháp ở nƣớc ta lần đầu: Sắc lệnh số 13 ngày 24/01/1946
về tổ chức Tòa và các ngạch thẩm phán theo quy định thẩm phán đƣợc chia thành
hai ngạch: Sơ cấp và đệ nhị cấp (trong đó, Thẩm phán ở ngạch đệ nhị cấp đƣợc chia
thành hai loại: Thẩm phán xét xử và Thẩm phán buộc tội). Công tố viện lúc đó đƣợc
ra đời ở Tòa thƣợng thẩm và chịu sự lãnh đạo của Bộ trƣởng tƣ pháp, đứng đầu
Công tố viện và chƣởng lý. Cơ quan công tố không đƣợc thành lập ở tòa đệ nhị mà

đƣợc quy định tƣơng đối đầy đủ, khẳng định đƣợc vị trí và vai trò của Viện
KSND trong TTDS là cơ sở cho sự kế thừa và phát triển cho việc hoàn thiện các
quy định của pháp luật TTDS Việt Nam sau này.
1.3.2. Giai đoạn từ năm 1959 đến năm 1989
Hiến pháp 1959 ra đời, Công tố viện chính thức đƣợc chuyển thành Viện
KSND đƣợc tổ chức theo nguyên tắc tập trung thống nhất từ trung ƣơng đến địa
phƣơng không phụ thuộc vào cơ quan quyền lực và cơ quan hành chính địa
phƣơng. Ngoài chức năng công tố, Viện KSND còn đƣợc giao chức năng kiểm
sát việc tuân theo pháp luật từ các Bộ trở xuống; trong đó có cả hệ thống các
TAND. Quyền hạn và nhiệm vụ của Viện KSND trong TTDS đƣợc quy định cụ
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status