MỤC LỤC
Trang
PHỤ LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Quan điểm của giáo viên về mức độ chú trọng các nội dung dạy trẻ
3 - 4 tuổi định hướng không gian...Error: Reference source not found
Bảng 2.2: Quan điểm của giáo viên về mức độ hiệu quả các hoạt động phát
triển khả năng ĐHKG cho trẻ 3 - 4 tuổi. Error: Reference source not
found
Bảng 2.3: Mức độ sử dụng các trò chơi phát triển khả năng ĐHKG cho trẻ 3 - 4
tuổi ở trường mầm non...................Error: Reference source not found
Bảng 2.4: Quan niệm về trò chơi tâm vận động của giáo viên mầm non. Error:
Reference source not found
Bảng 2.5: Kết quả thực trạng khả năng ĐHKG của trẻ 3 - 4 tuổi.............Error:
Reference source not found
Bảng 2.6: Kết quả thực hiện các nhóm bài tập khảo sát khả năng định hướng
không gian của trẻ 3 - 4 tuổi...........Error: Reference source not found
Bảng 2.7 : Kết quả khả năng định hướng không gian của trẻ nam và nữ.....Error:
Reference source not found
Bảng 3.1: Khả năng định hướng không gian của hai nhóm đối chứng và thực
nghiệm trước thực nghiệm..............Error: Reference source not found
Bảng 3.2: Khả năng định hướng không gian của hai nhóm đối chứng và thực
nghiệm sau thực nghiệm.................Error: Reference source not found
Bảng 3.3: So sánh khả năng định hướng không gian của trẻ nhóm thực
nghiệm trước và sau tác động sư phạm....Error: Reference source not
found
Bảng 3.4: Khả năng định hướng không gian trước và sau thực nghiệm của hai
nhóm đối chứng và thực nghiệm....Error: Reference source not found
không gian của hai nhóm đối chứng và thực nghiệm sau tác động sư
phạm............................................... Error: Reference source not found
Biểu đồ 3.6: Kết quả thực hiện 4 nhóm bài tập trước và sau thực nghiệm của
nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm...Error: Reference source not
found
MỞ ĐẦU
1. Lí do lựa chọn đề tài
Trong triết học duy vật biện chứng, không gian và thời gian được coi là
hai hình thức tồn tại của vật chất đang vận động. Cuộc sống của con người
luôn luôn gắn với không gian và thời gian. Con người luôn ở trong một không
gian nhất định, ở đó nhờ có sự hiểu biết về cơ thể của mình mà con người xác
định được vị trí của mình và của các đối tượng khác trong những mối quan hệ
không gian khác nhau. Từ đó, mỗi người mới có thể tổ chức sắp đặt bản thân
trong các mối quan hệ với người khác và với các sự vật hiện tượng trong
không gian nơi con người sinh sống. Như vậy khả năng định hướng không
gian có vai trò vô cùng to lớn trong việc giúp con người sống và hoạt động
bình thường, nó là một bộ phận cấu thành của đời sống con người.
Sự định hướng không gian của con người được thực hiện trên cơ sở tri
giác trực tiếp không gian và biểu thị bằng lời các phạm trù không gian như:
Vị trí, độ xa, mối quan hệ không gian giữa các vật. Đối với trẻ em, sự định
hướng không gian nhờ vào chính cơ thể của trẻ. Ban đầu, trẻ liên hệ các
hướng không gian với các phần, các bộ phận của cơ thể mình như: Phía trên
là phía có đầu, phía dưới là phía có chân, phía sau là phía có lưng, phía trước
là phía có ngực... Điều này cho thấy sự định hướng trên cơ thể trẻ là xuất phát
điểm quan trọng cho việc trẻ nhỏ nhận biết các hướng không gian khác nhau.
Nhà khoa học L. Doyon đã chỉ ra rằng: "Sau khi đã khám phá ra cơ thể mình,
đứa trẻ xác định vị trí mà nó giữ trong mối liên hệ với những đối tượng xung
quanh nó và tạo dựng một toàn thể quan hệ giữa vận động của chính nó và
7
- Nghiên cứu xây dựng và thực nghiệm một số trò chơi TVĐ phát triển
khả năng định hướng không gian cho trẻ 3 - 4 tuổi.
4.2. Giới hạn địa bàn và khách thể nghiên cứu
Địa bàn nghiên cứu: Trường MN Sông Lô, Hoa Phượng, Lưỡng
Vượng, An Khang thuộc thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang.
Khách thể nghiên cứu: 120 trẻ 3 - 4 tuổi (gồm cả nam và nữ), 40 giáo
viên dạy ở các lớp 3 - 4 tuổi.
5. Giả thuyết khoa học
Việc sử dụng TC phát triển khả năng ĐHKG cho trẻ 3 - 4 tuổi ở một số
trường MN tại TP Tuyên Quang còn hạn chế. Khả năng ĐHKG của trẻ 3 - 4
tuổi ở một số trường MN trên địa bàn TP Tuyên Quang còn nhiều trẻ đạt mức
độ trung bình. Nếu xây dựng được những TC TVĐ phát triển khả năng
ĐHKG cho trẻ 3 - 4 tuổi phù hợp và sử dụng một cách linh hoạt trong các
hoạt động giáo dục trẻ ở trường MN sẽ góp phần phát triển tốt hơn khả năng
này cho trẻ.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận về việc hình thành và phát triển khả năng
ĐHKG của trẻ 3 - 4 tuổi thông qua cách tiếp cận TVĐ.
- Khảo sát thực trạng tổ chức các trò chơi phát triển khả năng ĐHKG
cho trẻ 3 - 4 tuổi ở trường mầm non và khả năng ĐHKG của trẻ.
- Xây dựng và thực nghiệm một số trò chơi TVĐ phát triển khả năng
ĐHKG cho trẻ 3 - 4 tuổi ở trường MN.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
8
Chương 1: Cơ sở lí luận về trò chơi tâm vận động phát triển khả năng
định hướng không gian cho trẻ 3 - 4 tuổi
Chương 2: Thực trạng sử dụng trò chơi phát triển khả năng định hướng
không gian cho trẻ 3 - 4 tuổi và khả năng định hướng không gian của trẻ 3 - 4
tuổi ở trường mầm non.
Chương 3: Xây dựng và thực nghiệm một số trò chơi tâm vận động
phát triển khả năng định hướng không gian cho trẻ 3 - 4 tuổi.
CHƯƠNG 1
10
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ TRÒ CHƠI TÂM VẬN ĐỘNG PHÁT TRIỂN
KHẢ NĂNG ĐỊNH HƯỚNG KHÔNG GIAN CHO TRẺ 3 - 4 TUỔI
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Nghiên cứu tâm vận động, giáo dục tâm vận động, trò chơi tâm vận
động trên thế giới
- Tâm vận động
Thuật ngữ "Tâm vận động" (TVĐ) ra đời gắn liền với những phát minh
lớn của khoa sinh lí thần kinh bình thường và bệnh lí. Vấn đề “Tâm vận
động” được xuất hiện chính thức trong một bài diễn văn của Dupré đầu thế kỷ
XX. Lịch sử nghiên cứu về TVĐ tuy chưa dài nhưng lại là một phạm trù thể
hiện quan niệm của con người về cơ thể của mình. Lịch sử của nó gắn liền với
sự phát triển quan niệm về mối quan hệ giữa tâm lí và cơ thể - đó là quá trình
dài dẫn đến những quan niệm này. Theo tổng kết của tác giả Nguyễn Thị Như
Mai trong luận án Tiến sĩ “Nghiên cứu tâm vận động ở trẻ em 5 - 6 tuổi” thì
đã có nhiều nhà triết học, tâm lí học đề cập đến vấn đề cơ thể và tâm hồn và
mối quan hệ giữa chúng. Có thể kể đến một số những tư tưởng về TVĐ qua
nghiên cứu mối quan hệ làm hợp nhất những hành động VĐ và xúc cảm.
Chính nhờ H. Wallon khái niệm TVĐ được áp dụng vào khái niệm phát triển,
rối loạn TVĐ, kiểu loại TVĐ.
J. Piagiet cho rằng sự thông minh là từ hoạt động cảm giác VĐ. Nhờ sự
xây dựng các sơ cấu cảm giác VĐ và sự chi phối giữa chúng mà cơ thể không
gian, thời gian được xây dựng đồng thời do kinh nghiệm lặp đi, lặp lại. Theo
quan niệm của ông con người thể hiện mình bằng chính hành động.
12
Trường phái Phân tâm học đại diện là S.Freud, cho rằng cơ thể có một
tầm quan trọng đặc biệt trong sự hình thành vô thức - thành phần chủ yếu của
đời sống tâm lý con người. Cơ thể chính là nguồn của mọi xung động. Theo
S.Freud, cái tôi có nguyên nhân từ cơ thể.
Tâm lí học Gestalt (Koffka, Kohler, Lewin) và nhất là triết học Hiện
tượng luận (Merleau Ponty) đã làm thay đổi sâu sắc cách nhìn về TVĐ. Trong
những nghiên cứu của họ TVĐ được xem xét trong quan niệm tổng thể, tổng
quát, năng động đầy sinh lực. Merleau Ponty: “Tôi nhận thức thế giới bằng cơ
thể tôi”. Kể từ đây, với quan điểm của Gestalt và triết học hiện tượng luận,
TVĐ được thực sự xóa bỏ khỏi quan niệm nhị nguyên buổi ban đầu, chỉ rõ
mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa cơ thể và tâm lí.
Đầu những năm 60 của thế kỷ XX, TVĐ được nghiên cứu kĩ càng hơn
với J.de Ajuriaguerra - một trong những người khởi xướng khoa TVĐ. Ông
cho rằng có sự phụ thuộc lẫn nhau giữa tâm lí và VĐ chứ không chỉ là sự
song hành giữa chúng. Những nghiên cứu của H. Wallon, Ajuriaguerra đã đặt
nền móng về lí thuyết cho những vấn đề về rối loạn TVĐ và cách chữa trị TVĐ.
Đến những năm 70 của thế kỷ XX, các nhà tâm lí học ngày càng quan
tâm đến vai trò của cơ thể thực, đặc biệt là trong chữa trị tâm lí. Họ quan tâm
tới rối loạn TVĐ, quan tâm đến mối quan hệ giữa TVĐ với toàn bộ con người
những nghiên cứu và xây dựng những bài tập về tri giác, cảm giác - vận động,
nghiên cứu và ứng dụng những phương pháp thực hành về TVĐ cho trẻ em.
Đặc biệt, A.De Meur là người có công rất lớn khi đưa ra hệ thống những TC
vận động cho trẻ em. Những TC mà ông xây dựng được sử dụng rộng rãi và
mang lại hiệu quả giáo dục cao.
14
Nhà tâm lý học L.Doyon (Canada) cũng có công trình nghiên cứu xây
dựng nhiều TC TVĐ cho trẻ em trước tuổi học (1992).
J.le Boulch (Pháp) xây dựng những bài tập luyện TVĐ cho trẻ từ tuổi
MN đến tuổi học sinh tiểu học (1984).
Tóm lại, lịch sử nghiên cứu về TVĐ tuy chưa dài như các lĩnh vực
nghiên cứu tâm lí khác nhưng đến đầu thế kỷ XX khái niệm về TVĐ được
hình thành và phát triển một cách đầy đủ. Đến nay, TVĐ và các vấn đề GD
TVĐ đã trở nên quen thuộc ở nhiều nước trên thế giới. Chính những quan
điểm của các nhà nghiên cứu trong những năm 60, 70 của thế kỷ XX đã đặt
nền móng cho sự phát triển mạnh mẽ của TVĐ ngày nay.
1.1.2. Nghiên cứu tâm vận động, giáo dục tâm vận động, trò chơi tâm vận
động ở Việt Nam
Những công trình nghiên cứu trong nước về TVĐ, trước hết phải kể
đến nghiên cứu của bác sĩ Vũ Thị Chín và các cộng sự; công trình vận dụng
thang phát triển TVĐ Brunet - Lézin trên trẻ em Việt Nam; năm 1977 tại khoa
Thần kinh bệnh viện Bạch Mai; bác sĩ Lê Đức Hinh và các cộng sự đã sử
dụng Test Denver trong chẩn đoán sự phát triển TVĐ ở trẻ em…
Nghiên cứu về vấn đề này, theo tác giả Nguyễn Khắc Viện thì “Thần
kinh phát triển đến đâu vận động phát triển theo và kết hợp với sự luyện tập
với kinh nghiệm, chịu sự chi phối của tình cảm, vận động dần dần phù hợp
với mục tiêu. Trong thời thơ ấu, phát triển vận động và trí khôn gắn liền với
TC, cả người lớn và trẻ em đều say mê, thỏa mãn.
Theo từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê thì "chơi là hoạt động chỉ
nhằm cho vui mà thôi, không nhằm mục đích gì khác" [27,166]
16
Tác giả Nguyễn Ánh Tuyết đề cập đến khái niệm trò chơi: "Chơi là
một hoạt động vô tư, người chơi không chú tâm nhằm vào lợi ích thiết thực
nào cả, trong khi chơi các mối quan hệ của con người với tự nhiên và xã hội
được mô phỏng lại, nó mang đến cho người chơi một trạng thái tinh thần vui
vẻ, thoải mái, dễ chịu" [34,9]
Theo A.V. Daparogiet [6,252] "trò chơi là sự phản ánh hiện thực xung
quanh và trước hết là những hành động và những mối quan hệ qua lại của
những người xung quanh".
Theo A.N. Leonchiev trong "Sự phát triển tâm lí trẻ em" thì "Loại hoạt
động nào lại có cấu trúc đó, tức là cấu trúc có động cơ nằm trong chính quá
trình hoạt động. Đó chính là hoạt động mà ta gọi là chơi" [17,35]. Ông cũng
khẳng định rằng TC của trẻ em không giống với TC của động vật. TC của trẻ
là hoạt động với sự vật của loài người. Nó là cơ sở để nhận thức thế giới sự
vật của loài người.
Chơi đối với trẻ MG còn mang lại nhiều lợi ích hơn, bởi chơi chính là
cuộc sống của trẻ. Chơi là con đường để trẻ nhận thức thế giới. Động cơ của
hoạt động chơi luôn nằm ở quá trình thực hiện hành động chứ không nằm ở
kết quả của hoạt động.
Hoạt động chơi của trẻ có những đặc thù riêng. Trước hết, chơi là một
hoạt động không nhằm tạo ra sản phẩm mà chỉ nhằm để thỏa mãn nhu cầu
được chơi của trẻ. Theo A.V. Daparogiet: "Cái làm cho trò chơi khác với tất
cả các hoạt động khác là động cơ của nó không nằm ở kết quả mà ở ngay
trong bản thân hành động; trò chơi thoát khỏi những phương thức hành động
mà còn học cả trong lúc chơi. Trẻ em học cách tổ chức, học nghiên cứu cuộc
sống. Trong khi chơi, trẻ tập khắc phục khó khăn, nhận thức hoàn cảnh xung
quanh và tìm ra được lối thoát đúng đắn.
19
TC nói chung, trong đó trung tâm là TC ĐVTCĐ có tác động rất mạnh
đến sự phát triển đời sống tình cảm của trẻ MG. Trẻ tham gia vào trò chơi với
tất cả sự nhiệt tình, lòng say mê, sự sáng tạo. Khi chơi trẻ tỏ ra rất vui sướng
và thích thú. Được "gia nhập" vào thế giới của người lớn làm cho trẻ hết sức
vui thích. Khi phản ánh vào trò chơi những mối quan hệ giữa người và người
và nhập vào những mối quan hệ đó thì những rung động mang tính người của
trẻ được gợi lên. Trong TC trẻ đã thể hiện được tình người, thái độ chu đáo,
ân cần, sự đồng cảm, tinh thần tương trợ và một số phẩm chất đạo đức khác.
Những phẩm chất ý chí của trẻ MG được hình thành mạnh mẽ trong
TC, đặc biệt là TC ĐVTCĐ. Khi tham gia vào TC, trẻ nhập vai một cách đích
thực, tức là trẻ tự buộc mình vào những yêu cầu nhất định của trò chơi, vai
chơi; phải điều tiết hành vi của mình sao cho phù hợp với vai chơi, với mối
quan hệ mà mình đang tham gia vào. Từ đó hình thành ở trẻ những hành vi
theo chuẩn mực xã hội. Qua TC, trẻ còn được hình thành những phẩm chất ý
chí như: tính mục đích, tính kỉ luật, tính dũng cảm...
Tóm lại: HĐVC ở tuổi MG thực sự đóng vai trò chủ đạo. Ý nghĩa chủ
đạo thể hiện trước hết là ở chỗ nó giúp trẻ giải quyết mâu thuẫn trong bước
phát triển từ tuổi ấu nhi lên tuổi MG. TC là phương tiện góp phần phát triển
toàn diện nhân cách trẻ. TC tạo ra những nét tâm lí đặc trưng cho tuổi MG,
mà nổi bật là tính hình tượng và tính dễ xúc cảm, khiến cho nhân cách của trẻ
MG mang tính độc đáo khó tìm thấy ở các lứa tuổi khác. Do đó tổ chức TC
chính là tổ chức cuộc sống của trẻ. TC là phương tiện để trẻ học làm người.
Nhiều nhà GD đã gọi chơi là trường học của cuộc sống của trẻ. Trẻ cần
trẻ phát triển về nhận thức, tình cảm, có được những khả năng cần thiết để
học tập ở trường phổ thông, có khả năng thích ứng xã hội. Những tác động về
TVĐ cho phép thống hợp tốt nhất về giác quan và TVĐ, giúp trẻ dễ dàng hoạt
21
động làm phát triển nhân cách trẻ. Theo tác giả Nguyễn Thị Như Mai: “Giáo
dục TVĐ giúp trẻ đạt được những kết quả sau: Hình thành những hiểu biết,
nắm được những khái niệm thông qua hành động vận động; biết thể hiện bằng
hành động vận động; có khả năng cần thiết để học ở trường phổ thông; tự tin,
sẵn sàng tiếp xúc với người khác; có khả năng thích ứng xã hội” [23]
Giáo dục TVĐ nhấn mạnh vai trò hoạt động của cơ thể trẻ, coi nó là
phương tiện trung gian. Kinh nghiệm cơ thể giữ vị trí trung tâm trong sự phát
triển. Xúc cảm đến từ cơ thể, trí tuệ được hình thành bởi những kinh nghiệm
của cơ thể. Một đứa trẻ cảm nhận tốt về cơ thể, hoạt động thoải mái và có
hiệu quả bằng cơ thể sẽ dễ dàng và cân bằng hơn khi tiếp xúc với người khác.
Hiểu biết tốt về cơ thể giúp trẻ nhận biết được về không gian, thời gian, giúp
tư duy của trẻ phát triển… Có thể nói giáo dục TVĐ giữ vai trò cơ bản đối với
việc chuẩn bị cho trẻ bước vào đời sống và học tập sau này.
TC TVĐ là một hình thức giáo dục TVĐ hiệu quả. TC có vai trò to lớn
đối với sự phát triển của trẻ. Tác giả Bernard cho rằng: “Không phải trẻ em
chơi để học. Trái lại, chúng có khả năng học vì chúng nó biết chơi” [3,49].
Theo quan điểm này, tác giả nhấn mạnh rằng: thông qua TC đã phát triển ở
trẻ những khả năng học tập, chơi được thì sẽ học được.
Trên thực tế các TC TVĐ đã được sử dụng nhiều ở các nước, song ở
Việt Nam chưa nhiều.
Có thể hiểu: Trò chơi TVĐ là những trò chơi sử dụng những khả năng
của trẻ, thông qua những tác động qua lại với môi trường con người, thông
qua những trải nghiệm và luyện tập về vận động, giúp trẻ phát triển về nhận
TC mang lại cho trẻ sự vui thích, sẽ giúp trẻ em có khả năng vượt qua những
23
xúc động, lo lắng, sợ hãi của mình. Động cơ chơi nằm trong quá trình chơi
chứ không phải là kết quả chơi.
- Khi tham gia các TC TVĐ trẻ sử dụng cơ thể như một công cụ để
khám phá thế giới. Ở đó, trẻ được phát huy tối đa khả năng tự tìm kiếm, trải
nghiệm thông qua những cảm nhận của chính cơ thể mình. Thông qua sự vận
động cơ thể trong các TC, dựa vào quan sát và sử dụng giác quan một cách
hợp lý nhà giáo dục kích thích các khả năng của trẻ.
TC TVĐ nhấn mạnh vai trò của hành vi và tác phong vận động trong
mối quan hệ thống hợp với yếu tố tâm lí: Khi trẻ thực hiện các hành động
chơi các chức năng TVĐ được thực hiện trên cơ sở mối quan hệ tương hỗ
giữa sự hiểu biết về trí tuệ, sự nhạy cảm về tình cảm và những vận động tinh
khéo của cơ thể. Trước khi đứa trẻ thể hiện ý nghĩ của mình bằng lời nói thì
nó có sự cảm nhận và thể hiện bằng những “xúc cảm” của cơ thể… Những
động tác, được lặp đi lặp lại nhiều lần sẽ phát sinh nhiều loại cảm giác khác
nhau về nội tâm các giác quan và vận động. Những kinh nghiệm cảm giác đến
từ vận động cơ thể giúp trẻ dễ dàng nhận thức được thế giới xung quanh và
đặt ra được chiến lược hành động phù hợp.
TC TVĐ có nhiều cấp độ khác nhau nhưng đều hướng đến mang lại
cho trẻ: hiểu biết về ngôn ngữ không lời do chính cơ thể của mình trình bày
và diễn đạt; vận dụng một cách vui thích và thoải mái những vận động toàn
diện của cơ thể; lắng nghe và đón nhận ngôn ngữ cơ thể của bản thân và của
người khác; khuyến kích sự thể hiện hiểu biết và xúc cảm, tình cảm của mình
bằng hành động vận động; giúp trẻ cảm nghiệm về không gian, thời gian và
các mối quan hệ nhằm phát triển toàn diện nhân cách.
TC TVĐ tạo được cho trẻ những cảm nghiệm vui thích, an tâm và mãn
Vì vậy, thông qua chơi trẻ không những thu lượm được kiến thức về chính cơ
25