Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, chẩn đoán hình ảnh và kết quả điều trị phẫu thuật chấn thương cột sống bản lề lưng – thắt lưng bằng nẹp vít qua cuống - Pdf 34

1

ĐẶT VẤN ĐỀ
Chấn thương cột sống đoạn bản lề lưng – thắt lưng là tổn thương ở
đoạn cột sống từ đốt sống lưng 11 đến đốt sống thắt lưng 2. Chấn thương
vùng này chiếm 70% trong tổng số chấn thương cột sống , tuy không đe dọa
đến tính mạng như chấn thương cột sống cổ, nhưng nó để lại nhiều di chứng
nặng nề, ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt của người bệnh.
Theo thống kê tại Mỹ, hàng năm có khoảng 20 đến 64 trường hợp chấn
thương cột sống trên 100.000 dân, chi phí tốn kém hàng tỷ Đô la cho việc
điều trị cho bệnh nhân[41]
Tại bệnh viện Việt Đức từ tháng 1/1996 đến tháng 9/1997 thống kê
được 63 trường hợp chấn thương cột sống, nhưng trong 1 năm ( 2002 – 2003)
chỉ riêng số trường hợp chấn thương đoạn bản lề lưng – thắt lưng là 106
trường hợp[15], [26]. Theo một nghiên cứu của Bệnh viện Chấn thương chỉnh
hình thành phố Hồ Chí Minh, năm 2000 có 234 bệnh nhân bị chấn thương cột
sống điều trị tại viện, trong đó có 184 trường hợp là chấn thương đoạn bản lề
lưng – thắt lưng.[23]
Hypocrates là người đầu tiên đưa ra phương pháp kéo giãn bệnh nhân
trên bàn và nắn tại chỗ để điều trị chấn thương gãy cột sống. Về điều trị phẫu
thuật cột sống, Clyne là người đầu tiên phẫu thuật cột sống qua đường sau
năm 1814. Những năm sau đó, Harrington, Roy – Camille… đã đưa ra nhiều
phương pháp phẫu thuật cột sống[40], [71]
Ở Việt Nam, điều trị gãy cột sống cũng kế thừa những bước phát triển
như trên thế giới. Năm 1975, Hoàng Tiến Bảo đã mổ cố định gãy cột sống có
liệt tủy bằng nẹp vít AO. Trước năm 1990 điều trị gãy cột sống thắt lưng chủ
yếu bằng bó bột, để lại nhiều di chứng. Vào đầu những năm 1990, phương
pháp Roy – Camille được ứng dụng ở nhiều trung tâm ngoại khoa trên cả


2

Cột sống là cột trụ chính của thân người đi từ mặt dưới xương chẩm đến
đỉnh xương cụt. Cột sống gồm 33 - 35 đốt sống chồng lên nhau, được chia
thành 4 đoạn, mỗi đoạn có một chiều cong và các đặc điểm riêng, thích ứng
với chức năng của đoạn đó; từ trên xuống dưới, đoạn cổ có 7 đốt – cong lồi ra
trước, đoạn lưng có 12 đốt cong lồi ra sau, đoạn thắt lưng có 5 đốt – cong lồi
ra trước, đoạn cùng có 5 đốt dính liền với nhau tạo thành xương cùng – cong
lồi ra sau, đoạn cuối cùng gồm 4 – 6 đốt sống cuối cùng dính với nhau tạo
thành xương cụt.[7], [20]
1.1.2 Đặc điểm chung các đốt sống
Mỗi đốt sống có 3 phần chính là thân đốt sống, cung đốt sống, các mỏm
đốt sống và một lỗ đốt sống. Trong đó mỏm ngang, mỏm diện khớp là nơi xác
định bắt vít vào cuống cung đốt sống.
Thân đốt sống hình trụ dẹt, có hai mặt và một vành xung quanh. Thân đốt
sống ở phía trước có vỏ mỏng bằng xương cứng, cấu trúc bên trong bằng
xương xốp có thớ cơ dày đặc ở phía sau nhiều hơn ở phía trước. Ngoài ra ở
phía sau thân đốt sống có nhiều mạch máu chui vào nuôi xương.
Cung đốt sống từ phần rìa, phần vành của mặt sau thân đốt sống quây lại
thành lỗ đốt sống, gồm cuống cung đốt sống phía trước và mảnh cung đốt
sống phía sau. Cuống cung đốt sống có 2 cột: cột phải và cột trái. Bờ trên và
bờ dưới của cuống cung đốt sống lõm lại tạo thành khuyết đốt sống. Khuyết
dưới của một đốt sống và khuyết trên của đốt sống ngay dưới họp lại thành lỗ
gian đốt, nơi dây thần kinh sống đi qua, ôm sát bờ trong và dưới của cuống.
Các mỏm đốt sống đi ra từ cung đốt sống, có hai mỏm ngang, hai mỏm


4

khớp trên, hai mỏm khớp dưới, một mỏm gai ở phía sau. Mỏm khớp nằm ở
điểm nối tiếp giữa cuống, mỏm ngang và mảnh.
Lỗ đốt sống nằm giữa thân đốt sống và cung đốt sống. Khi các đốt sống

đốt sống. Từ đốt đội đến phần trên xương cùng, gồm 3 loại sợi. Các sợi sâu
nhất đi từ đốt sống tiếp theo và bắc cầu qua đĩa gian đốt sống, các sợi trung
gian đi qua 2 hoặc 3 đốt sống. Các sợi nông nhất đi qua 4 hoặc 5 đốt sống. Hệ
thống các sợi nông và sâu đan vào nhau tạo nên một dải chắc, dày nhất ở phía
trước và mỏng dần về hai bên.
Dây chằng dọc sau: nằm trên mặt sau các thân đốt sống, ở trong ống sống.
Dây chằng dọc sau gồm các sợi có chiều dài khác nhau, bám chắc vào các đầu
của thân, ở ngang chính giữa thân sống, có tổ chức mô liên kết xen giữa dây
chằng và thân xương. [7], [20]
1.1.4.2. Khớp giữa các mỏm khớp
Đây là các khớp hoạt dịch (khớp động) có bao khớp và dây chằng bọc xung
quanh, ở đoạn lưng, các diện khớp nằm trên mặt phần gần đứng ngang, diện
khớp trên quay ra sau, diện khớp dưới quay ra trước, ở đoạn thắt lưng, các
diện khớp nằm trên mặt phẳng gần đứng dọc, diện khớp trên quay vào trong,
diện khớp dưới quay ra ngoài.


6

1.1.4.3. Các khớp chằng hay khớp sợi
Dây chằng trên gai là dây chằng mỏng chạy trên đỉnh các mỏm gai hòa với
các dây chằng gian gai.
Dây chằng gian gai đi từ bờ dưới của mỏm gai tới bờ trên của mỏm gai kề
dưới.
Dây chằng gian ngang nối các mỏm ngang kề nhau.
Dây chằng vàng là dây chằng sau, khỏe nhất và quan trọng nhất. Mỗi dây
chằng vàng là một dải dẹt đi từ mặt trước của một mảnh, chạy xuống bám vào
phần trên của mặt sau mảnh kế tiếp. Các dây chằng này hầu như lấp kín
khoang liên mảnh được ngăn cách ở đường giữa bởi khe hẹp, qua đó các đám
rối tĩnh mạch ở bên trong ống sống nối tiếp với nhau.

Lớp nông là các cơ bám nguyên ủy vào cột sống nhưng bám tận vào
xương sườn, xương vai và xương cánh tay.
Lớp sâu là các cơ vận động cột sống, bao gồm:
- Cơ dựng sống, là những cơ dài, nằm nông nhất, chạy dọc từ xương
chẩm tới xương cùng. Nó có tác dụng duỗi cột sống và nghiêng cột sống, gồm
3 cơ: cơ chậu sườn, cơ dài và cơ gai.
- Các cơ ngang-gai chạy chếch từ mỏm ngang tới mỏm gai gồm 3 cơ là
cơ bán gai, cơ nhiều chân và các cơ xoay, có tác dụng xoay cột sống.
- Các cơ liên gai và các cơ liên ngang nằm sâu nhất, có tác dụng duỗi cột
sống (gian gai) và nghiêng cột sống (gian ngang).
Các cơ vận động cột sống do các thần kinh sống chi phối. Các cơ này khi
căng lên cùng với các cơ bụng và các cơ khác cũng bám vào cột sống có tác
dụng bảo vệ cột sống khá vững chắc. [7], [20]


8

1.1.5.2. Phía trước:
 Cơ thắt lưng chậu: hay cơ đái chậu do hai cơ: cơ thắt lưng và cơ chậu họp
lại. Cơ này đi từ bụng đến đùi, che phủ phía trước cột sống thắt lưng và hố
chậu.
 Thận và niệu quản trái: thận trái ở sau phúc mạc, ở trong góc do xương
sườn XI và cột sống tạo thành (cực trên thận trái ngang mức bờ trên xương
sườn XI, cực dưới thận trái ở bờ trên mỏm ngang đốt sống thắt lưng III).
Khi phẫu thuật vào cột sống, ta đẩy cả thận, niệu quản và lớp mỡ quanh
thận ra phía trước để vào cột sống.
 Động mạch chủ và tĩnh mạch chủ dưới: Động mạch chủ bụng ở phía trước
cột sống, khi vào tới cột sống ta có thể sờ thấy động mạch chủ bụng đập ở
phía trước thân đốt sống, tĩnh mạch chủ dưới ở trước phải cột sống.
 ổ bụng: lách, dạ dày, ruột non . . . nằm trong ổ phúc mạc. Khi phẫu tích ta

là hạch gai, được tạo nên bởi các tế bào thần kinh cảm giác. Sau hạch gai, các
rễ trước và sau chập lại tạo thành dây thần kinh sống hỗn hợp.
Mỗi đốt tủy chi phối cảm giác và vận động của một vùng (khoanh) nhất
định của cơ thể. Tính chất chia đoạn của tủy sống rất thuận tiện cho việc thăm
dò chức năng của tủy sống và xác định vị trí tổn thương của tủy sống.
Tủy sống còn có hệ thống thần kinh thực vật là phần thần kinh chỉ huy
các cơ trơn, các tuyến hoạt động ngoài ý muốn, chi phối các cơ quan nội tạng
như: tuần hoàn, hô hấp, tiêu hóa, bài tiết và quá trình chuyển hóa chất trong
cơ thể. Hệ này gồm hai phần: hệ giao cảm và hệ phó giao cảm. [7], [20], [48]


10

1.2. Sinh lý và sinh lý bệnh sau chấn thương tủy sống
1.2.1. Sinh lý tủy sống
Tủy sống có chức năng dẫn truyền, là nơi tích hợp các thông tin cảm
giác và vận động. Chất trắng của tủy sống gồm những sợi trục thần kinh hợp
lại thành các bó dẫn truyền: gồm các bó dẫn truyền đi lên (các bó cảm giác)
và các bó dẫn truyền đi xuống (bó vận động). Ngoài ra giữa các nhân vận
động của sừng trước và nhân cảm giác của sừng sau cũng có các sợi dẫn
truyền liên hợp.
Chất xám của tủy sống là trung tâm của một số phản xạ. Các phản xạ
tủy sống là các phản xạ tự động nhưng chịu sự điều phối của não bộ để tạo
nên một hệ điều hành thống nhất toàn bộ hoạt động của cơ thể. [7], [20], [48]
Hiện nay các nước đều sử dụng Bảng điểm vận động và cảm giác của
Hội chấn thương cột sống Mỹ (ASIA) được chuẩn hóa quốc tế tại Barcelona
năm 2011 [42]. Người ta dựa vào sự chi phối thần kinh của tứ chi để kiểm tra
và đánh giá thương tổn thần kinh của tủy sống.
Trên cơ sở các điểm số vận động và cảm giác ASIA phân loại thương
tổn thần kinh theo tổng số điểm đạt được.


Ngoài ra, các phản xạ da cũng được sử dụng để đánh giá thương tổn tủy
sống: da bìu, gan chân, hậu môn, da bụng. Đặc biệt, trong lâm sàng, để xác
định tình trạng tủy đã thoát sốc hay chưa, người ta sử dụng phản xạ hành hang
- hậu môn ở nam giới và phản xạ âm vật - hậu môn ở nữ giới [48].
Hiện nay, đo các điện thế gợi cảm giác thân thể (Somatosensory
evoked potentials) được áp dụng để đánh giá đường dẫn truyền đi lên của tủy
sống (dẫn truyền cảm giác) và đo điện thế gợi vận động (Motor evoked
potentials) để đánh giá đường dẫn truyền đi xuống (dẫn truyền vận động).
1.2.2. Sinh lý bệnh sau chấn thương tủy sống.
Diễn biến bệnh lý sau chấn thương tủy sống có thể phân theo 2 cơ chế:
thương tổn tiên phát và thứ phát. Thương tổn nguyên phát do lực chấn thương
tác động trực tiếp lên tổ chức tủy làm đứt các sợi trục, dập nát các tế bào thần
kinh, đứt các mạch máu. Thương tổn thứ phát xảy ra do tủy sống bị thiếu tưới
máu do ống sống bị vỡ gây chèn ép, do chảy máu, do phù nề hoặc do tình
trạng tụt huyết áp dẫn đến hoại tử tế bào thần kinh.
Ngay sau khi bị chấn thương, tủy có thể bị sốc, biểu hiện bằng tình
trạng mất hoàn toàn các phản xạ, vận động và cảm giác phía dưới đoạn tủy bị
chấn thương. Các triệu chứng của sốc tủy thường kéo dài từ 48 giờ - 72 giờ.
Trong giai đoạn này rất khó tiên lượng về khả năng hồi phục. Thương tổn tiên
phát và thứ phát của tủy sống, hiệu quả của cấp cứu và điều trị là những yếu
tố có tính quyết định về tương lai của bệnh nhân.[26], [55]
Ngay trong giai đoạn sốc tủy, ta đã phải dự phòng một loạt các biến
chứng: loét các điểm tỳ, nhiễm trùng tiết niệu, liệt ruột, loét dạ dày - tá tràng
do stress, tắc mạch, viêm phổi . . . Nếu săn sóc không đúng quy cách người
bệnh sẽ rơi vào tình trạng nhiễm trùng nhiễm độc, thậm trí có thể bị tử vong.
Sau giai đoạn sốc tủy là giai đoạn phục hồi:


12

13

Chính vì vậy, việc điều trị nhằm cứu sống phần tủy còn lành lặn vô
cùng quan trọng đối với sự phục hồi chức năng của bệnh nhân. Việc giải
phóng chèn ép thần kinh, nắn chỉnh giải phẫu và cố định vững cột sống, bảo
đảm duy trì tưới máu và cung cấp oxy cho tủy sống bị chấn thương là những
biện pháp quyết định nhất. [26], [55], [67].
1.3. Cơ chế chấn thương:
Khi lực gây chấn thương vượt quá khả năng chịu căng dãn của hệ thống
dây chằng (Đĩa gian đốt sống và sức bền của xương) thì có thể gây tổn thương
thực thể cho cột sống, gồm:
1.3.1. Cơ chế trực tiếp:
* Do vật cứng trực tiếp đập vào cột sống: Bị đánh, va đập trực tiếp hay
ngã ngửa không quá cao, đập lưng vào vật cứng.
* Do giằng xé: Lực tác động thẳng góc với cột sống, có thể từ sau ra
trước, từ trái sang phải và ngược lại, làm các mỏm khớp bị gãy, thân đốt sống
bị trật, cột sống ít bị gập góc.
- Tình huống tai nạn lao động: Trục cần cẩu đập vào lưng- thắt lưng.
- Tình huống tai nạn giao thông: Bệnh nhân ngồi sau xe máy bị thanh
cản ô tô, xe công nông đập trực tiếp vào lưng- thắt lưng. [26], [42], [55],[67].
1.3.2. Cơ chế gián tiếp:
* Dồn ép theo trục cột sống từ trên xuống: Trường hợp sụt lở đất, sập lò
than xuống vai trong khi đào giếng, đào công sự, đào than hoặc ngã lộn đầu
xuống trước trong thể thao.
* Dồn ép theo trục cột sống từ dưới lên: Trường hợp ngã cao đập mông
hay nện hai gót xuống trước như ngã cây, ngã giáo xây dựng, ngã lầu…


14


-

Cột trụ giữa: 1/3 sau thân đốt sống, vòng xơ, đĩa đệm và dây

chằng dọc sau.
-

Cột trụ sau: gồm toàn bộ cung sau, dây chằng vàng, bao khớp,

các dây chằng liên gai.
Cột trụ giữa đóng vai trò quan trọng, nếu thương tổn sẽ mất vững và gây chèn
ép TK.
Ngoài ra còn có các phân loại theo kết quả chụp cộng hưởng từ cột sống
theo Adam (2014),Moratta (2000), nhưng ở Việt Nam, phân loại theo Denis là
thích hợp nhất do điều kiện chưa có khả năng chụp cộng hưởng từ cho phần
lớn BN bị CTCS.[30], [57].


16

1.4.2. Phân loại theo AO (Hội nghiên cứu kết xương)
Năm 1994, Magerl và cộng sự dựa vào đặc điểm hình thái bệnh lý chấn
thương chia CTCS ra làm ba nhóm chính là nhóm A: gãy nén, nhóm B: gãy
giãn, nhóm C: gãy xoay, mỗi nhóm lại chia làm các dưới nhóm.
Theo cách phân loại này thì thương tổn nhóm C nặng hơn nhóm B, và
nhóm B nặng hơn nhóm A. Trong mỗi nhóm thì thương tổn dưới nhóm càng
lớn thì càng nặng, ví dụ kiểu A3 nặng hơn kiểu A2.
Theo AO thì chỉ định phẫu thuật cho trường hợp gãy kiểu A1, A2 chỉ
được đặt ra khi góc gù thân đốt sống trên 150, còn lại gãy kiểu A3, B và C đều
có chỉ định phẫu thuật, ngoại trừ một vài trường hợp điều trị bảo tồn vì những


≥ 10o

Hình 1.4 : Phân loại tổn thương đốt sống theo độ gãy vụn [67]
Tác giả đánh giá tổn thương thân đốt sống dựa vào 3 chỉ tiêu: độ vụn, độ di
lệch của các mảnh vỡ, góc gù của thân đốt sống từ đó tính tổng số điểm:
+ Từ 1 đến 5 điểm cố định phía sau là đủ
+ Từ 6 đến 9 điểm cố định phía trước và phía sau.
1.5. Đặc điểm lâm sàng và chẩn đoán hình ảnh chấn thương cột sống
lưng– thắt lưng
1.5.1. Lâm sàng:
Tổn thương thần kinh được chia ra làm các giai đoạn sau:
* Sốc tủy
Sau chấn thương cột sống có thể có giai đoạn sốc tủy. Đó là tình trạng
ngừng tất cả các chức năng của tủy sống ngay sau khi tai nạn: Tình trạng liệt
và bàng quang mềm hoàn toàn, mất cảm giác, mất phản xạ hoàn toàn chỉ kéo
dài 48 giờ trong đa số trường hợp.
Phản xạ hành hang là phản xạ tủy sống xa nhất nên có thể trở lại sớm nhất,
đánh dấu sự chấm dứt của giai đoạn này. [26], [27], [55], [72].


18

* Hội chứng tổn thương tủy không hoàn toàn
Hội chứng tủy trung tâm: Đây là dạng tổn thương hay gặp nhất. Biểu hiện
lâm sàng: liệt không hoàn toàn 2 chi dưới hay tứ chi. Sự phục hồi sẽ diễn ra
theo thứ tự: hai chi dưới, bàng quang, hai chi trên.
Hội chứng tủy trước: Liệt tứ chi hoàn toàn kèm theo rối loại cảm giác
nông, cảm giác sau vẫn còn (do tủy sống sau không bị tổn thương).
Hội chứng tủy sau: Hiếm gặp, bao gồm: mất cảm giác sâu, cảm giác bản


Vận động được chi trên mặt phẳng khi có sức cản ngược chiều.

5/5

Vận động bình thường.


19

1.5.2. Chẩn đoán hình ảnh
X quang quy ước: Chụp tư thế thẳng, nghiêng. Đánh giá đường cong sinh
lý, sự nguyên vẹn của các đốt sống [26], [46], [52],[57].
Chụp cắt lớp vi tính: xác định rõ hơn tổn thương nghi ngờ trên X quang,
tổn thương đốt sống ngực (nơi X quang khó thấy), xác định mảnh xương chèn
ống tủy.[30],[53], [57]
Chụp cộng hưởng từ: đánh giá chèn ép, đánh giá tổn thương tủy và các yếu
tố thần kinh, đánh giá phần mềm cột sống.[30], [57].
1.6. Chỉ định phẫu thuật và một số vấn đề liên quan
1.6.1. Chỉ định phẫu thuật
1.6.1.1. Chỉ định phẫu thuật CTCS nói chung
Dựa vào phân loại tổn thương thần kinh theo Frankel và phân loại Denis,
có thể đưa ra các tình huống sau
- Gãy không vững và có tổn thương TK không hoàn toàn: phẫu thuật
cấp cứu càng sớm càng tốt, nắn chỉnh, giải phóng chèn ép, cố định
vững bên trong.
- Gãy không vững, không có dấu hiệu thương tổn TK trên lâm sàng,
theo dõi lâm sàng
+ Liệt tăng dần: phẫu thuật cấp cứu, giải phóng chèn ép và cố định
trong.

chụp được. [40], [47].
1.6.3. Đánh giá kết quả phẫu thuật
Cho đến nay, chụp MRI kiểm tra sau phẫu thuật vẫn là lý tưởng nhất,
nhưng chỉ áp dụng được cho những hệ thống dụng cụ không nhiễm từ, và giá


21

thành còn cao nên không thể tiến hành chụp hàng loạt, nhất là điều kiện như ở
Việt Nam. Vì vậy, phương pháp đo “góc gù thân đốt”, “góc gù chấn thương”
và đánh giá “gấp góc vùng chấn thương” của đoạn cột sống bị thương tổn dựa
trên phim chụp cột sống thẳng-nghiêng vẫn hay được sử dụng nhất.
Tiến hành chụp X-quang tư thế nghiêng, các góc gù được xác định như
sau: góc gù thân đốt (GTĐ) được tạo nên bởi hai đường thẳng đi qua mặt trên
và mặt dưới đốt vỡ.
Góc gù vùng chấn thương (GVCT) được tạo bởi hai đường thẳng là
đường đi qua mặt trên của đốt trên đốt gãy và một đường đi qua mặt dưới của
đốt dưới đốt gãy.

Hình 1.5 : Góc gù thân đốt (GTĐ) và góc gù vùng chấn thương (GGVCT)[46]
Sự phối hợp giữa góc GTĐ và GGVCT giúp tiên lượng có cần ghép
xương hay không, nếu sau nắn chỉnh thấy GGVCT đã cải thiện mà góc GTĐ
không thay đổi thì có nghĩa là chỉ giãn được khoang gian đốt, nếu không ghép
xương thì sẽ có nguy cơ gù vùng tái phát [46],47].
Các góc GTĐ, góc GVCT và GGVCT cần được đo trước phẫu thuật,
ngay sau phẫu thuật vào định kỳ sau phẫu thuật, theo dõi diễn biến, từ đó
đánh giá khả năng cố định, kết quả nắn chỉnh và sức bền của vật liệu cố định.


22

hai bên máng sống nhờ các sợi chỉ thép luồn dưới mảnh đốt sống để điều trị
vẹo cột sống, sau này cũng được áp dụng cho cả gãy cột sống[67].
Năm 1986, Dove cải tiến phương pháp của Luque với một khung hình
chữ nhật.[67]
Từ năm 1963 - 1975, Roy - Camille đã hoàn thiện phương pháp dùng
nẹp và vít cuống cung. Nẹp và vít là loại đặc biệt dành riêng cho cột sống.
Roy - Camille dùng kỹ thuật bắt vít “thẳng từ sau ra trước”. Phương pháp này
cố định vững chắc, nếu thương tổn ở đoạn bản lề , cột sống sẽ bị hạn chế vận
động. Khoảng cách giữa các vít là cố định, nhiều khi không tương ứng với
giải phẫu cụ thể của mỗi bệnh nhân[67], [71], [72].
Năm 1977, Magerl, thuộc nhóm AO đề xuất phương pháp cố định
ngoài cột sống: bốn vít cuống cung kiểu Schanz, được xuyên qua da để bắt
vào cuống cung (hai vít trên và hai vít dưới đốt gãy). Bên ngoài có hệ thống
khung ráp nối các vít cuống. Vì khá cồng kềnh và bệnh nhân không thể nằm
ngửa được, nên phương pháp này không được phổ biến.[67]
Đến năm 1982, Dick cải tiến dụng cụ của Magerl thành dụng cụ cố
định bên trong với thanh giằng và các bộ phận nối thanh giằng với vít cuống.
Nhờ dụng cụ hỗ trợ bên ngoài cột sống được nắn chỉnh hiệu quả. Chỉ cần cố
định một đốt trên và một đốt dưới ổ gãy. Kỹ thuật bắt vít của Magerl là kỹ
thuật “bắt vít chụm”, hay còn gọi là “bắt vít chéo”, bắt vít chéo từ sau ra
trước.[67]
Năm 1989, Cotrel và Dubousset kết hợp cả móc, vít cuống và các thanh
giằng để cố định vững một đoạn ngắn của CS bị gẫy. Các loại móc gồm móc
cuống cung, móc dưới mảnh, móc mỏm ngang. Các vít có đầu dạng hoa tulip,
đường kính 4,5 mm - 6,5 mm. Các thanh giằng có bề mặt được tạo nhám để
tăng độ bám, đường kính thiết diện 5 - 7 mm. Một hoặc hai thanh ngang được
giáp nối giữa hai thanh giằng để chống xoay. Dụng cụ được gọi tắt là dụng cụ


24

Nguyễn Đắc Nghĩa - Bệnh viện Xanh pôn (1998 - 2003) mổ 64 bệnh
nhân gẫy CSLTL không vững, có liệt tủy, cố định bằng khung Hartshill cải
tiến (2 cầu ngang và 4 vít chân cung), cho thấy độ vững của cột sống tăng lên
so với phương pháp của Dove [15], [16]
Ở phía nam có Hoàng Tiến Bảo (1979), mổ cố định gẫy CSLTL có liệt
tủy bằng nẹp và vít AO qua đường mổ phía trước [1].
Năm 2000, Võ Văn Thành báo cáo kết quả mổ phối hợp hai đường mổ
trước và sau (nắn chỉnh phía sau và cố định phía trước bằng nẹp vít) cho 30
trường hợp gẫy trật CSLTL có liệt tủy. Ngoài ra ông còn áp dụng phẫu thuật
ít xâm hại trong mổ cột sống [23].
Tại Hải Phòng, ca phẫu thuật cột sống đầu tiên được tiến hành tại bệnh
viện hữu nghị Việt Tiệp năm 2000, đạt kết quả tốt. Theo ước tính, mỗi năm có
khoảng 30 bệnh nhân bị chấn thương cột sống được phẫu thuật nẹp vít qua
cuống. Đến nay, phẫu thuật cột sống trở thành phẫu thuật mũi nhọn của khoa
phẫu thuật Sọ não – Cột sống của bệnh viện hữu nghị Việt Tiệp


Trích đoạn Thương tổn thần kinh: Phương pháp phẫu thuật: Kết quả xa: * Phục hồi thần kinh:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status