Nghiên cứu nồng độ và liều lượng thích hợp của chế phẩm DLH1 đến một số chỉ tiêu sinh lí, sinh trưởng và năng suất hoa Lily trồng chậu - Pdf 34

LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và thực hiện khoá luận tốt nghiệp , em
luôn nhận được sự quan tâm của nhà trường, sự giúp đỡ tận tình của các thầy
cô, bạn bè và gia đình.
Nhân dịp hoàn thành luận văn em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến
thầy Nguyễn Xuân Lâm, thầy cô bộ môn Sinh lí thực vật và ứng dụng đã tận
tình giúp đỡ tạo điều kiện hướng dẫn em thực hiện đề tài và hoàn thành khoá
luận tốt nghiệp.
Em cũng xin trân trọng cảm ơn toàn thể gia đình, bạn bè đã tạo đièu
kiện giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập và thực hiện khoá luận.
Hà Nội, ngày 5 tháng 5năm 2014
Tác giả

Phạm Thanh Hằng


BẢNG CHỮ CÁI VIẾT TẮT

\

CT

: Công thức

CTTN

: Công thức thí nghiệm

ĐC

: Đối chứng

thương mại trên diện rộng Hoa Lily là cây hoa mang lại lợi nhuận lớn ở nhiều
nước như Hà Lan, Nhật bản. Ở Việt Nam, hoa Lily được trồng ở Đà Lạt từ
thời Pháp thuộc. Hiện nay nhu cầu về giống hoa Lily là rất lớn [5]
Những năm gần đây, mô hình trồng hoa ly do Trung tâm Phát triển cây
trồng Hà Nội triển khai tại các huyện ngoại thành cho hiệu quả kinh tế cao,
đạt 5-7 tỷ đồng/ha. Từ thành công đó, hoa ly đang trở thành loài hoa chủ lực
trong đề án phát triển hoa, cây cảnh của thành phố đến năm 2016 và cũng là
cây trồng giúp nông dân vươn lên làm giàu, xây dựng nông thôn mới..
Việc trồng hoa ly cao cấp là một hướng đi đúng, mang lại hiệu quả kinh
tế cao. Theo Đề án phát triển hoa cây cảnh thành phố Hà Nội, từ nay đến năm
2016 sẽ mở rộng diện tích hoa ly khoảng 15ha. Lựa chọn một trong các địa
điểm: Đan Phượng (Hạ Mỗ) hoặc Ba Vì (Phú Sơn), Chương Mỹ (Thụy

1


Hương)... ngành nông nghiệp Thủ đô phấn đấu, đáp ứng đủ nhu cầu chơi hoa
cho thị trường Hà Nội, tiến tới xuất khẩu [2]
Một trong những khó khăn của Lily trồng chậu là sự hạn chế về việc
cung cấp dinh dưỡng, việc nghiên cứu tìm ra một chế phẩm dinh dưỡng qua lá
và thử nghiệm đối với Lily trồng chậu là vấn đề hết sức cấp thiết hiện nay.
Chính vì vậy, chúng tôi quyết định chọn nghiên cứu đề tài:
“Nghiên cứu nồng độ và liều lượng thích hợp của chế phẩm DLH1
đến một số chỉ tiêu sinh lí, sinh trưởng và năng suất hoa Lily trồng chậu”
1.2. Mục tiêu của đề tài
- Đánh giá tác động của chế phẩm DLH1 đến sinh trưởng, phát triển
của hoa Lily trồng chậu
- Xác định được nồng độ và liều lượng thích hợp của chế phẩm DLH1
đến một số chỉ tiêu sinh lí, sinh trưởng và năng suất hoa Lily trồng chậu.
Bước đầu đề xuất quy trình phù hợp sử dụng chế phẩm DLH1 hợp lí

định , trồng cây hoa lily để lấy củ ăn bắt đầu từ đời nhà Đường ( 618-907), đã
có những bài thơ ca ngợi vẻ đẹp của hoa lily. Vì Vậy , chẳng những người ta
thích ăn củ mà còn thích thưởng thức vẻ đẹp của hoa lily .
Đến giữa thể kỷ 13 ít nhất có 3 loại lily được ghi chép lại. Loại thứ nhất
là lily hoa trắng dung làm thuốc được gọi là loại Hoang Dược . (L.brownli)
loại thứ hail à Quyền Đan (L.lancifolium) , loại thứ ba là Sơn Đan ( L.
pumilium) [4]
Cuối thế kỷ 16, nhà thực vật học người Anh dùng phương pháp phân
loại để phân biệt đa số hoa lily có xuất xứ từ Châu Âu. Đầu thế kỷ 17, hoa lily
Mỹ bắt đầu nhập vào Châu Âu. Cuối thế kỷ 18 hoa lily Trung Quốc tiếp tục
vào Châu Âu. Cuối thế kỷ 19, do có sự lây lan của virus làm cho hoa lily lâm
vào tình trạng tuyệt diệt . Cuối thế kỷ 19 hoa lily của Trung Quốc ( L. regate )
truyền vào Châu Âu được dung làm bố mẹ để lai tạo ra rất nhiều giống mới,
hoa lily lại thịnh vượng trở lại. Sau đại chiến thế giới thứ 2 , các nước Âu, Mỹ
lại dấy lên một cao trào tạo giống mới, các giống và biến chúng của Trung
Quốc trở thành nguồn bố mẹ quan trọng và tạo ra rất nhiều giống ưu việt .

3


2.1.2 Vị trí phân loại và các giống hoa lily
Trong hệ thống phân loại thực vật , cây hoa lily phổ biến trong sản xuất
hiện nay có tên khoa học là Lilium spp., thuộc nhóm một lá mầm
(Monocotyendones) phân lớp hành ( Lilidae), bộ hành (Liliales), họ hành
(Liliaceae), chi (Lilium) [5]
Chi Lilium có rất nhiều loài khác nhau với những dạng hoa , màu sắc hoa
rất phong phú và hấp dẫn. Một số loài có dạng hình phễu như L. longifloum, L.
Candidum, có loài có dạng hình chén như L.wallichianum với những cánh hoa
nhỏ hẹp, có loài lại có dạng hình chuông như L. Cannadense, hình điếu như L.
auratum. Màu sắc của lily vô cùng phong phú , từ các loài có màu trắng L.

châu Á, một phần ở các nước châu Phi.
2.2.2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa lily trên thế giới
Lily là loài hoa cắt được trồng rộng rãi trên thế giới. Hoa có hình dáng
đẹp, màu sắc phong phú, quyến rũ, sang trọng. Hiện nay, Lily đang là một
trong những loài hoa cắt phổ biến, quan trọng nhất trên thế giới
Mặc dù Lily mới được phát triển trong những năm gần đây, nhưng đã
có thị trường tiêu thụ rộng lớn do đa dạng về chủng loại và số lượng các
giống lai thương mại. Lily có thể trồng làm hoa cắt, hoa trong chậu và hoa
ngoài vườn. Tuy nhiên, hoa Lily được trồng nhiều ở một số nước, như : Hà
Lan, Pháp, New Zealand, Mỹ, Chi Lê, Italia, Nhật, Trung Quốc, Hàn Quốc,
Đài Loan, úc…
Bảng 2.2.2. Tình hình sản xuất hoa Lily ở một số nước trên thế giới (ha)
Thứ tự

Nước

Năm 1989-1990 Năm 1997-1998 Năm 1999-2001

1

Hà Lan

1200

4000

5000

2


Úc

50

350

400

6

Chi Lê

8

45

135

7

Hàn Quốc

131

209

250

(Nguồn: Đặng Văn Đông, 2005)



6


Có sự hợp tác chặt chẽ giữa các công ty tư nhân và người sản xuất.
Bên cạnh sự đầu tư của nhà nước, các công ty tư nhân cũng đẩy mạnh
nghiên cứu khoa học, ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất hoa.
Kỹ thuật sản xuất hoa nói chung, hoa Lily nói riêng ở trình độ cao,
sản xuất trong điều kiện được bảo vệ, nhà kính là chính (ở Israel 100% diện
tích trồng hoa được bảo vệ); do đó có khả năng điều khiển chế độ nhiệt, ẩm
độ không khí, dinh dưỡng, ánh sáng theo yêu cầu từng thời kỳ sinh trưởng
phát triển của cây hoa, nên chất lượng hoa cao.
Có sự gắn kết giữa nghiên cứu sản xuất với thị trường tiêu thụ sản phẩm.
Vì vậy, nghề trồng hoa của các nước tiên tiến trên thế giới có tính rủi
ro thấp hơn, hiệu quả kinh tế cao.
2.3. Tình hình sản xuất và nghiên cứu hoa ở Việt Nam
2.3.1. Tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa cắt ở Việt Nam
Việt Nam có điều kiện khí hậu phù hợp cho nhiều loài hoa và cây
cảnh phát triển. Tính đến năm 2005, nước ta có khoảng 13.200ha diện tích
trồng hoa cây cảnh (Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, 2007)[2].
Sản xuất hoa cho thu nhập cao, bình quân đạt khoảng 70-130 triệu
đồng/ha nên rất nhiều địa phương trong cả nước đang mở rộng diện tích
trồng hoa trên những vùng đất có tiềm năng.
Tại miền Bắc, sản xuất hoa tập trung ở một số địa phương: Thành Phố Hà
Nội, Hà Tây, Hải Dương, Hải Phòng, Vĩnh Phúc, Hưng Yên, Thái Bình,…
Các tỉnh phía Nam, Thành Phố Hồ Chí Minh là địa phương có diện
tích trồng hoa cây cảnh lớn khoảng 700ha, với 1.400 hộ sản xuất trên 8
quận huyện.
Diện tích trồng hoa, cây cảnh của nước ta tăng trưởng ổn định trong
suốt 12 năm qua; so năm 1994, diện tích hoa cây cảnh năm 2006 tăng 3,8 lần

đó, nghiên cứu kỹ thuật trồng, chăm sóc hoa Lily cũng đang rất được quan
tâm, chú trọng.
So sánh với chủng loại hoa khác thì sản xuất hoa Lily ở nước ta chiếm
một tỷ lệ thấp về cả diện tích và số lượng. Đà Lạt là nơi hiện đang có diện
8


tích trồng hoa Lily nhiều nhất so với các địa phương khác trong cả nước,
chiếm khoảng 8% trong tổng diện tích trồng hoa.
Nhìn chung, việc sản xuất hoa Lily của nước ta còn nhiều hạn chế về
diện tích, năng suất và sản lượng, dẫn tới giá thành hoa cắt còn khá cao,
trung bình 20.000-30.000 đồng/cành Lily; dịp lễ, tết có thể lên tới 50.000
đồng/cành thậm chí 80.000đồng/cành.
2.3.3. Một số đặc điểm chung của nghề trồng Lily ở Việt Nam
Ngành sản xuất hoa nói chung, sản xuất Lily nói riêng ở nước ta còn
nhiều tồn tại:
- Về quy mô: các cơ sở sản xuất hoa cắt cành ở nước ta ở quy mô hộ
gia đình nhỏ lẻ, manh mún, tản mạn, sản xuất đơn lẻ, diện tích 1.000-2.000
2
m /hộ.
- Về kỹ thuật: Kỹ thuật sản xuất lạc hậu, dựa vào kinh nghiệm là
chính, nhân giống bằng phương pháp cổ truyền: gieo hạt, trồng bằng củ,
mầm nên giống dễ bị thoái hoá, chất lượng hoa kém. Đầu tư khoa học kỹ
thuật còn thấp so với các nước trong khu vực và thế giới; chủ yếu là sản xuất
ngoài tự nhiên.
Tính đến năm 2005, tỉ lệ diện tích hoa cây cảnh áp dụng biện pháp
tiến bộ khoa học, kỹ thuật mới chỉ đạt khoảng 35%, diện tích trồng hoa
cây cảnh trong nhà có mái che chiếm 5% (Đỗ Tuấn Khiêm, 2007)[9]
Chính vì vậy mà nghề sản xuất hoa dù có thu nhập cao, nhưng cũng
gặp khá nhiều rủi ro và phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên.

- Khí hậu miền Bắc nóng ẩm, độ chiếu sáng ngắn, yếu. Miền Nam
quanh năm nóng ẩm, có mùa đông khô và mùa nóng có mưa và độ ẩm cao,
điều kiện khí hậu không thuận lợi cho các cây hoa có nguồn gốc ôn đới.
- Chưa có các giống hoa chất lượng cao, thích ứng với điều kiện
của vùng. Tuy một số vùng có một số giống hoa đẹp, quý như trà, lan,
Anthirium nhưng ở dạng hoa dại nên không thể cạnh tranh được với các
dạng hoa lai tạo có màu sắc sặc sỡ và chưa có chỗ đứng trên thị trường thế

10


giới.
- Sản xuất hoa tản mạn, các tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất bảo quản
hoa chưa được áp dụng rộng rãi.
- Thiếu các phương tiện, thiết bị bảo vệ hoa trong điều kiện nắng
nóng, mưa, bão... như nhà kính, nhà lưới, nhà che.
- Thị trường hoa chưa phát triển trong cả nước và xuất khẩu
- Những đội ngũ cán bộ khoa học về cây hoa chưa được đào tạo đầy
đủ.
- Nhà nước chưa có bản quyền về giống cây trồng nói chung và về
cây hoa nói riêng. Từ đó hạn chế việc trau dồi, đầu tư giống hoa của các
nước vào Việt Nam.
* Phương hướng phát triển sản xuất cây hoa ở Việt Nam
- Nhà nước cần đầu tư cho công tác nghiên cứu phát triển hoa ở
Vịêt Nam, khai thác hợp lý, tận dụng tiềm năng, khắc phục những hạn chế,
khó khăn, đem lại hiệu quả cao cho sản xuất hoa ở nước ta.
- Trước mắt tập trung nghiên cứu, cải tiến giống, đầu tư phát triển
các loài hoa nhiệt đới quý, đẹp được thị trường chấp nhận, có khả năng thích
ứng điều kiện tự nhiên của vùng, phát triển các giống hoa ôn đới theo mùa
vụ cho các vùng có khí hậu thích hợp.

- Rễ: Rễ gồm hai phần rễ thân và rễ gốc, rễ thân còn gọi là rễ trên mọc
ở phần thân dưới đất sinh ra có nhiệm vụ nâng đỡ thân, hút nước và dinh
dưỡng. Rễ gốc còn gọi là rễ dưới mọc ra từ gốc thân vảy chủ yếu là hút nước
và dinh dưỡng.
- Thân vảy: Là phần phình to của thân có hình cầu dẹt, hình trứng,
hình trứng dài, hình elíp... Thân vảy không có vỏ bao bọc, màu sắc phụ
thuộc vào giống: màu trắng, màu vàng, màu cam, tím... Kích thước củ to,
nhỏ phụ thuộc vào giống, độ lớn của thân vảy tỷ lệ với số hoa ở trên cành.
Vảy thì có hình kim xoè ra hoặc hình elíp cóđ ốt hoặc không có đốt. Mầm
vảy to ở ngoài và nhỏ ở trong là nơi dự trữ chất dinh dưỡng và nước cho thân
vảy.

13


- Lá: Mọc thưa có hình thuôn dài hoặc hình dải, đầu lá hơi nhọn có
cuống hoặc không có cuống, phiến lá mềm mại màu xanh, bóng.
- Hoa: Mọc đơn lẻ hoặc xếp đặt trên trục hoa, hoa trúc xuống,
vươn ngang hoặc hướng lên, cánh đài cùng màu với cánh tràng, hoa có
nhiều màu sắc sặc sỡ: đỏ, hồng, hồng đậm, vàng, trắng... có hoặc không
có hương thơm.
- Đặc điểm sinh trưởng:
Thân vảy được coi như là mầm dinh dưỡng, thân vảy vùi trong đất
sau khoảng hai tuần sẽ nảy mầm, tuy nhiên còn phụ thuộc vào độ ẩm, ẩm
độ... Các giống khác nhau có sự chênh lệch nhau khá lớn về thời gian sinh
trưởng của cây, chiều cao cây là một trong các yếu tố cấu thành chất lượng
của cành hoa nó quyết định bởi số lá và chiều dài của đốt, số lá chịu ảnh
hưởng lớn của chiều dài đốt, trong điều kiện ánh sáng yếu ngày dài, nhiệt
độ thấp và xử lý trước khi bảo quản lạnh lâu đều có tác dụng kéo dài đốt thân
và ngược lại.

trở nên yếu, màu lá nhạt, cuối cùng là rút ngắn thời gian cắm bình của hoa.
Hoa lily đặc biệt cần lượng chiếu sáng đầy đủ để đáp ứng nhu cầu phát dục
của hoa, việc thay đổi thời gian chiếu sáng cũng có thể rút ngắn hoặc kéo dài
thời gian thu hoạch hoa. Khi mầm hoa của lily phát dục vào mùa Đông cần
cung cấp đủ ánh sáng, nếu thiếu ánh sáng vào giai đoạn mầm hoa nhú ra đến
khi hoa cắt hoa sẽ trắng và rụng.
Thời lượng chiếu sáng ảnh hưởng đến việc nở hoa lily. Thông thường
trồng vào vụ xuân, trong thời kỳ mặt trời chiếu sáng ngắn việc kéo dài thời
lượng nhân tạo có thể giúp cho một số giống hoa lily nở sớm hơn.
* Nước và không khí:
Thời kỳ đầu cây cần nhiều nước, thời kỳ ra hoa nhu cầu nước của cây
giảm dần vì thừa nước lúc này sẽ làm rụng nụ, củ rễ bị thối. Lily thích
không khí ẩm ướt, độ ẩm thích hợp nhất là 80 - 85%, độ ẩm không được thay
đổi đột ngột sẽ dẫn đến tác hại cho cây, ức chế sinh trưởng, cháy lá... Việc
che râm, thông gió kịp thời và tưới nước có thể phòng chống được vấn đề
này.
* Đất và dinh dưỡng

15


Lily có thể trồng trên mọi loại đất, tuy nhiên đất trồng tốt nhất là đất
nhiều mùn và đất thịt nhẹ. Lily là cây có bộ rê ăn nông nên đất phải thoát
nước tốt, có độ pH thích hợp.
Về dinh dưỡng lily yêu cầu mức phân bón cao ở 3 tuần đầu kể từ khi
trồng.
* Bệnh cây
Điều kiện vệ sinh tốt, thoáng gió, tưới nước đều đặn và kiểm tra
cây thường xuyên phải được áp dụng nhằm hạn chế mầm mống gây bệnh.
Một số bệnh thường gặp ở cây lily là bệnh thối củ, rễ, bệnh khô lá, bệnh

Thí nghiệm bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên gồm 5 công thức, mỗi công
thức trồng 24 cây trong chậu (3 cây/chậu), mỗi chậu 5kg giá thể trồng gồm:
Xơ dừa 30%, NPK lót 1%, lân hữa cơ vi sinh 2%, đất phù sa Sông Hồng 67%.
Các loại phân bón lá và chế phẩm DLH1 được xử lí ở các công thức 20 ngày
sau khi bố trí thí nghiệm

17


2.4.2. Phương pháp xác định các chỉ tiêu nghiên cứu:
- Tỉ lệ nảy mầm: (Số củ nảy mầm/ tổng số củ đem gieo) x100%
- Chiều cao cây: Đo từ mặt đất đến đỉnh sinh trưởng bằng thước chính
xác đến mm
- Đường kính thân: Xác định bằng thước Palme
- Số lá, số nụ: Xác định theo phương pháp đếm thông dụng

18


- Hàm lượng diệp lục tổng số: Xác định bằng máy đo diệp lục tự động
cầm tay Chlorophyl metter
- Chất lượng hoa (màu sắc, hương thơm) xác định theo phương pháp
cảm quan hội động đánh giá của Hà Duyên Tư.
2.4.3. Phương pháp xử lí số liệu.
Số Liệu thu được xử lý theo phương pháp thống kê sinh học trên phần
mềm tin học excel 2003
- Giá trị trung bình (

)


Chiều rộng lá TB(cm) =
2.5.2. Các chỉ tiêu về chất lượng hoa
- Số nụ hoa trên cây được theo dõi vào các thời điểm trước khi thu
hoạch
Số nụ hoa TB/cây (nụ) =
- Kích thước nụ đo ở thời điểm hoa chuẩn bị nở , tiến hành đo các nụ
đầu tiên ( nụ già nhất của cành hoa ), vị trí đo là chỗ lớn nhất của nụ hoa .

20


Chiều dài nụ hoa TB (cm) =

Đường kính nụ hoa TB (cm) =
- Độ bền hoa cắt , theo dõi 20 cành có số nụ hoa/ cành tương đương
nhau và được tính từ khi hoa đầu tiên trên cành bắt đầu nở đến khi hoa cuối
cùng tàn
Độ bền hoa ( ngày ) =

21


PHẦN 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Tổng hợp chế phẩm DLH1
Xây dựng quy trình tổng hợp chế phẩm DLH1:
Trên cơ sở nhiều lần thực nghiệm, chúng tôi rút ra được quy trình tổng
hợp chế phẩm (Hình 3.1.1 và hình 3.1.2).
Kết quả tổng hợp thu được chế phẩm DLH1 có các chỉ tiêu như sau:
Axit humic: 2%; N : P2O5 : K2O = 3 : 3 : 3; Mg: 0,1%; Ca: 0,1%; Fe: 500
ppm; Cu: 300 ppm; Zn: 300 ppm; Mn: 100 ppm; Mo: 100 ppm; B: 800 ppm;




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status