GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM THÔNG QUA CÁC DỰ ÁN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI TỈNH HẢI DƯƠNG - Pdf 34

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
---------------------

NGUYỄN THỊ QUYÊN

GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM THÔNG QUA CÁC DỰ ÁN
ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
TẠI TỈNH HẢI DƯƠNG

Chuyên ngành: Kinh tế chính trị
Mã số: 60 31 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYỄN MẠNH HÙNG

Hà Nội - 2015


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là
trung thực và chưa được sử dụng ở bất kỳ công trình khoa học nào.
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được
cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN

NGUYỄN THỊ QUYÊN


MỤC LỤC


Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

2

CNXH

Chủ nghĩa xã hội

3

CSVN

Cộng sản Việt Nam

4

ĐTNN

Đầu tư nước ngoài

5

GCNĐT

Giấy chứng nhận đầu tư

6

FDI


Khu công nghiệp

12

KT - XH

Kinh tế - xã hội

13

MTĐT

Môi trường đầu tư

14

ODA

Hỗ trợ phát triển chính thức

15

PCI

Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh

16

TNHH

Bảng

1

3.1

Nội dung
Số liệu lượng lao động từ 15 tuổi trở lên phân
theo giới tính
i

Trang
60


2

3.2

3

3.3

4

3.4

5

3.5

ii

61
64
65
68
69

70

72


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Giải quyết việc làm đang là một vấn đề kinh tế xã hội gay gắt đối với
Việt Nam nói riêng và kinh tế toàn cầu nói chung. Ngày nay, quan niệm về
phát triển được hiểu đầy đủ là: Tăng trưởng kinh tế đi đôi với tiến bộ, công
bằng xã hội, phải xóa đói giảm nghèo, giảm thiểu thất nghiệp.
Với vấn đề giải quyết việc làm chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói về vai
trò của vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động trong mục tiêu của nhà
nước xã hội chủ nghĩa là Chủ nghĩa xã hội trước hết là làm cho nhân dân lao
động thoát khỏi bần cùng, làm cho mọi người có công ăn việc làm, được ấm
no và được sống một đời hạnh phúc.Tư tưởng của người luôn là sợi chỉ đỏ
xuyên suốt mọi chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước ta về giải quyết
việc làm cho người lao động.
Đại hội Đảng lần thứ XI cũng chỉ rõ giải quyết việc làm là yếu tố
quyết định để phát huy nhân tố con người, ổn định và phát triển kinh tế,
làm lành mạnh xã hội, đáp ứng nguyện vọng chính đáng và yêu cầu bức
xúc của nhân dân.

Hải Dương, từ đó đưa ra giải pháp để thúc đẩy việc giải quyết việc làm cho
người lao động ở Hải Dương từ đầu tư trực tiếp nước ngoài trong thời gian tới
là vấn đề cấp bách, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc.
Từ nhận thức trên tôi chọn đề tài: “Giải quyết việc làm thông qua các
dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài tại tỉnh Hải Dương”. Để thực hiện luận văn
thạc sĩ chuyên nghành kinh tế chính trị .
Câu hỏi nghiên cứu của luận văn là:
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài đã giải quyết và tạo bao nhiêu việc làm
cho người lao động ở Hải Dương và như thế nào?
- Những thành tựu và bất cập trong giải quyết việc làm từ đầu tư trực
tiếp nước ngoài ở Hải Dương là gì? Nguyên nhân của những bất cập đó?
- Những giải pháp nào nhằm tăng số lượng và chất lượng việc làm
cho người lao động ở Hải Dương và một số vùng lân cận từ đầu tư trực tiếp
nước ngoài ?
2


2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
- Mục đích nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn giải quyết việc
làm từ đầu tư trực tiếp nước ngoài ở tỉnh Hải Dương, để từ đó đưa ra giải
pháp thúc đẩy việc giải quyết việc làm từ đầu tư trực tiếp nước ngoài ở tỉnh
Hải Dương trong thời gian tới.
- Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích trên, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn bao gồm:
+ Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận cơ bản về giải quyết việc làm từ FDI.
+ Nghiên cứu kinh nghiệm tạo và giải quyết việc làm từ FDI của một
số địa phương và rút ra bài học kinh nghiệm cho Hải Dương
+ Phân tích thực trạng giải quyết việc làm cho người lao động từ FDI
tại tỉnh Hải Dương thời gian qua.

đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI
Đánh giá thực trạng giải quyết việc làm thông qua các dự án đầu tư trực
tiếp nước ngoài ở Hải Dương trong những năm từ 2005 đến 2014
Đề xuất một số giải pháp nhằm giải quyết việc làm tốt hơn thông qua
nguồn vốn FDI
6. Kết cấu của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, mục lục, kết luận, tài liệu tham khảo nội dung
chính của luận văn được trình bày theo 4 chương.
Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và một số vấn đề lý luận về
giải quyết việc làm và đầu tư trực tiếp nước ngoài
Chương 2. Phương pháp và thiết kế nghiên cứu
Chương 3. Thực trạng giải quyết việc làm thông qua các dự án đầu tư
trực tiếp nước ngoài tại tỉnh Hải Dương
Chương 4. Phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm thúc đẩy việc giải
quyết việc làm thông qua các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài tại tỉnh Hải Dương
trong thời gian tới
.
4


Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ
LÝ LUẬN VỀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM VÀ ĐẦU TƯ
TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1. Tình hình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài
Vấn đề đầu tư nước ngoài cả đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp đã
được nghiên cứu từ lâu, trên mọi phương diện, nhưng ý nghĩa, vai trò của đầu
tư nước ngoài luôn là vấn đề được đặc biệt quan tâm, nhất là trong giai đoạn
toàn cầu hóa hiện nay.

developing countries. Tác giả: Saha, Nitesh. Trường: Utah State University,
2005. Đây là ba tiểu luận về đầu tư trực tiếp nước ngoài và tăng trưởng kinh
tế ở các nước đang phát triển.
1.1.2. Tình hình nghiên cứu của các tác giả trong nước
Một số công trình liên quan đến đề tài luận văn mà tác giả được biết:
1.1.2.1. Sách, báo, tạp chí
Cuốn sách “Những giải pháp chính trị, kinh tế nhằm thu hút có hiệu
quả đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam” của tác giả Chu Văn Cấp,
Nguyễn Khắc Chân làm chủ biên. Nội dung chính dựa trên thực trạng thu hút
đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam trong thời gian từ năm 1988 đến
năm 1995, tác giả đưa ra những đề xuất kinh tế, chính trị nhằn thu hút hiệu
quả vốn FDI vào Việt Nam. Trong cuốn sách tác giả đã vạch rõ thực trạng thu
hút đầu tư của Việt Nam từ sau khi Việt Nam ban hành Luật đầu tư, các nước
đến Việt Nam chủ yếu là các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á, và rộng ra
là khu vực châu Á, chưa có các tập đoàn kinh tế lớn xuyên quốc gia vào Việt
Nam. Kết quả của quá trình đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam chưa
cao, việc tạo công ăn việc làm còn hạn chế.
Tác giả cũng chỉ rõ những nguyên nhân của những hạn chế đó và đưa
ra những giải pháp để thu hút nguồn FDI vào Việt Nam và những đề xuất

6


kinh tế chính trị để ngày càng thu hút hơn nữa các doanh nghiệp nước ngoài,
các quốc gia là các cường quốc kinh tế đến với Việt Nam.
Trong cuốn “Tìm hiểu đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam” NXB
Chính trị quốc gia, tháng 9/ 2004 do Lê Minh Toàn( chủ biên) đã cung cấp
cho người đọc những khái niệm cơ bản về đầu tư trực tiếp nước ngoài, các
hình thức đầu tư và đặc điểm của nó.
Cuốn sách “Thực hiện đầu tư trực tiếp nước ngoài sau khi Việt Nam gia

sản xuất toàn cầu, gián tiếp tạo việc làm, góp phần mở rộng quan hệ kinh tế
quốc tế của Việt Nam. FDI cũng đóng vai trò tích cực trong việc hỗ trợ cho
quá trình cải cách doanh nghiệp trong nước, khuyến khích đổi mới thủ tục
hành chính và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường.
Có thể nói rằng, kết quả thu hút FDI thời gian qua về cơ bản đã đáp
ứng yêu cầu đặt ra về mục tiêu thu hút vốn, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giải
quyết việc làm, tiếp thu công nghệ và kinh nghiệm quản lý, tuy kết quả của
từng mục tiêu trong từng giai đoạn có khác nhau.
Mặc dù đã đạt được những kết quả quan trọng nêu trên, song việc thu
hút FDI thời gian qua chưa đạt được một số mục tiêu như kỳ vọng, đó là tỷ lệ
dự án sử dụng công nghệ cao còn thấp, chưa thu hút được công nghệ nguồn,
tỷ lệ việc làm mới tạo ra chưa cao. Tình trạng cấp Giấy chứng nhận đầu tư
không phù hợp với quy hoạch; chưa quan tâm đầy đủ đến vấn đề an ninh quốc
gia, an ninh lương thực; chưa chú ý đến hiệu quả sử dụng tài nguyên đất
đai, khoáng sản còn diễn ra ở một số địa phương. Nhiều dự án chưa được
thẩm tra, xem xét kỹ các khía cạnh công nghệ, kỹ thuật, môi trường, lao
động… dẫn đến chất lượng dự án chưa cao. Hệ thống luật pháp, chính
sách và thủ tục đầu tư còn nhiều quy định chưa đồng bộ, thiếu nhất quán,
hay thay đổi và thời gian gần đây không còn đảm bảo tính cạnh tranh so
với một số nước trong khu vực.
Trong thời gian tới, các nguồn vốn đầu tư gián tiếp không ổn định do
tình hình kinh tế thế giới diễn biến phức tạp, ODA đang có xu hướng giảm
dần; do Việt Nam là nước có thu nhập trung bình thấp, nguồn vốn từ ngân
sách và khu vực tư nhân trong nước còn hạn chế, thì FDI càng trở thành
8


nguồn lực quan trọng cho mục tiêu phục hồi, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và
đổi mới mô hình tăng trưởng.
Bộ trưởng Bùi Quang Vinh nhấn mạnh, trong bối cảnh cạnh tranh thu

cao tham gia chuỗi giá trị toàn cầu của các tập đoàn xuyên quốc gia hàng đầu
thế giới, từ đó xây dựng, phát triển hệ thống các ngành, các doanh nghiệp phụ
trợ. Đồng thời, chú trọng đến các dự án có quy mô vừa và nhỏ có tác động
tích cực đến kinh tế - xã hội của Việt Nam
Năm là: Chuyển dần thu hút FDI hướng vào sử dụng nguồn nhân lực
chất lượng cao.
PTS. Nguyễn Hữu Dũng, PTS. Trần Hữu Trung (chủ biên): "Về Chính
sách giải quyết việc làm ở Việt Nam" Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1997.
Các tác giả đã trình bày tổng quát về phương pháp luận và phương pháp tiếp
cận chính sách việc làm; làm rõ thực trạng vấn đề việc làm ở Việt Nam hiện
nay. Từ đó khuyến nghị định hướng một số chính sách cụ thể về việc làm
trong công cuộc CNH, HĐH. Qua cuốn sách cho thấy vấn đề việc làm của
Việt Nam nói chung và của tỉnh Hải Dương nói riêng là một vấn đề mang tính
cấp thiết. Là một vấn đề kinh tế xã hôi gay gắt, cần được sự kết hợp của nhiều
ban ngành, của địa phương, các thành phần kinh tế. Trong đó thu hút đầu tư
trực tiếp nước ngoài là kênh quan trọng trong việc giải quyết vấn đề việc làm
cho người lao động.
TS. Nguyễn Bá Ngọc, KS. Trần Văn Hoan (chủ biên), "Toàn cầu hoá:
cơ hội và thách thức đối với lao động Việt Nam", Nxb Lao động - xã hội, Hà
Nội 2002. Các tác giả đã trình bày tổng quan tác động của toàn cầu hoá đến
lao động và các vấn đề xã hội của Việt Nam, những xu hướng vận động của
nguồn nhân lực, lao động và việc làm Việt Nam dưới tác động của toàn cầu
hoá kinh tế, phân tích những cơ hội và thách thức đối với lao động Việt Nam
trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế. Từ đó đề ra các giải pháp đối với lao
động Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hoá kinh tế.
Thạc sĩ Nguyễn Thị Lan Hương: "Thị trường lao động Việt Nam: Định
hướng và phát triển", Nxb Lao động - xã hội, Hà Nội, 2002. Tác giả đi từ việc
phân tích các luận cứ cơ bản định hướng phát triển thị trường lao động Việt
10


11


- Luận án tiến sĩ “Một số biện pháp thúc đẩy việc triển khai thực hiện
các dự án FDI tại Việt Nam” của tác giả Bùi Huy Nhượng, năm 2006 tại
Trường Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội. Ngoài lý thuyết và thực trạng về
thu hút FDI, luận án đã tập trung trình bày về tình hình triển khai các dự án
FDI và đưa ra các giải pháp nhằm thúc đẩy thực hiện các dự án FDI. Lý
thuyết và thực trạng MTĐT cũng như ảnh hưởng của MTĐT không thuộc
phạm vi luận án nên tác giả không tập trung trình bày.
- Luận án tiến sĩ “Môi trường đầu tư với hoạt động thu hút đầu tư trực
tiếp nước ngoài vào Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thị Ái Liên, năm 2011.
Đánh giá được quá trình cải thiện môi trường đầu tư và phân tích ảnh hưởng
của môi trường đầu tư tới quá trình thu hút và triển khai thực hiện các dự án
FDI ở Việt Nam. Từ đó rút ra các tồn tại cơ bản nhằm đưa ra giải pháp khắc
phục những khó khăn trọng yếu nhằm cải thiện các yếu tố rào cản của MTĐT
đến quá trình thu hút và giải ngân nguồn vốn này.
- Luận văn thạc sỹ của tác giả Phan Thị Mai “Đầu tư trực tiếp nước
ngoài tại tỉnh Hải Dương”, năm 2000. Đánh giá được vai trò của FDI đối với
việc phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Hải Dương, vạch ra những mặt được
mặt chưa được. từ đó đề ra một số giải pháp nhằm tăng cường thu hút đầu tư
trực tiếp nước ngoài trên địa bàn tỉnh.
- Luận văn thạc sỹ của tác giả Nguyễn Thị Hồng Thuyên “Nguồn vốn
đầu tư trực tiếp nước ngoài và sự tác động của nó đến nền kinh tế Việt Nam”
là bức tranh về thực trạng thu hút và sử dụng nguồn vốn FDI và tác động của
nguồn vốn này tới nền kinh tế nước ta.
- Đề tài cấp bộ “Tác động của minh bạch hóa hoạt động kinh tế đến
đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam” do TS. Phạm Văn Hùng chủ
nhiệm, bảo vệ 2008 đề cập đến lý thuyết, thực trạng minh bạch hóa hoạt động
kinh tế và tác động của nó đến thu hút FDI của Việt Nam. Từ đó đề tài đưa ra

tranh trong công nghiệp, phong trào giúp nhau làm kinh tế gia đình của các tổ
chức quần chúng, các hội như: Hội phụ nữ, Hội cựu chiến binh, Hội nông
dân, Đoàn thanh niên, Công đoàn,... Hoạt động của các loại hình kinh tế phát

13


triển nhanh, rất cơ động, đạt hiệu quả kinh tế cao đã thu hút và tạo việc làm
cho nhiều lao động.
Tuy nhiên, ở Hải Dương hiện nay vấn đề tạo việc làm vẫn là một vấn
đề bức xúc do lực lượng lao động ngày càng tăng, chất lượng và cơ cấu lao
động chưa đáp ứng được đòi hỏi của thị trường lao động. Trong thời gian tới,
cần có sự lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ của các cấp uỷ đảng và chính quyền, sự
phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền với các tổ chức chính trị-xã hội, giữa các
ngành ở cấp tỉnh đến cấp huyện, đến các xã, phường và cơ sở. Tuyên truyền
đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về việc làm, tạo ra
những nhân tố mới làm thay đổi cơ bản nhận thức của các cấp uỷ đảng, chính
quyền, các tổ chức chính trị-xã hội và mọi người dân về giải quyết việc làm
để người lao động năng động và chủ động tự tạo việc làm cho mình và cho
người khác, không ỷ lại trông chờ vào Nhà nước. Tranh thủ sự ủng hộ, giúp
đỡ của các Bộ, ngành Trung ương, các tổ chức quốc tế, đơn vị ngoài tỉnh
trong hỗ trợ giải quyết việc làm và phát triển thị trường lao động. Gắn mục
tiêu phát triển kinh tế-xã hội với mục tiêu giải quyết việc làm, coi giải quyết
việc làm là công cụ phát triển kinh tế-xã hội.
- Đề tài nghiên cứu khoa học của khoa Kinh tế chính trị, trường Đại
học Kinh tế Quốc dân, năm 2007: “ Đầu tư trực tiếp nước ngoài với vấn đề
tạo việc làm cho người lao động trong tiến trình toàn cầu hóa”.
Đề tài cũng chỉ rõ một trong những giải pháp hữu hiệu để tăng vốn đầu
tư, tăng năng lực sản xuất, tiếp thu công nghệ hiện đại và nâng cao trình
độ quản lý, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, mở rộng quan hệ giao

1.2. Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về giải quyết việc làm
thông qua các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.2.1. Những vấn đề cơ bản về đầu tư trực tiếp nước ngoài và dự án
đầu tư trực tiếp nước ngoài
* Khái niệm, nội dung về FDI.
- Khái niệm

15


Theo giáo trình Kinh tế đầu tư thì đầu tư là sự bỏ ra, sự hi sinh các
nguồn lực ở hiện tại. Nguồn lực này có thể là tiền, sức lao động, trí tuệ…
nhằm đạt được những kết quả có lợi cho người đầu tu trong tương lai.Vốn đầu
tư là toàn bộ những chi tiêu để làm tăng hoặc duy trì tài sản vật chất trong một
thời kỳ nhất định.Vốn đầu tư thường thực hiện qua các dự án đầu tư và một số
chương trình mục tiêu quốc gia với mục đích chủ yếu là bổ sung tài sản cố
định và tài sản lưu động.( Theo niên giam thống kê)
Đầu tư trực tiếp nước ngoài ( FDI: Foreign Direct Investment) là hình
thức đầu tư dài hạn của cá nhân hay công ty nước này vào nước khác bằng
cách thiết lập cơ sở sản xuất, kinh doanh. Cá nhân hay công ty nước ngoài đó
sẽ nắm quyền quản lý cơ sở sản xuất này.
Tổ chức thương mại thế giới đưa ra định nghĩa FDI như sau: Đầu tư
trực tiếp nước ngoài xảy ra khi một nhà đầu tư của đầu tư năm 2005 định
nghĩa: “ Đầu tư trực tiếp là hình thức nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư tham gia vào
hoạt động đầu tư” .Đầu tư trực tiếp có thể là đầu tư trực tiếp trong nước hay
đầu tư trực tiếp nước ngoài. “ Đầu tư trực tiếp nước ngoài( FDI) là một quan
hệ kinh tế có nhân tố nước ngoài, được đặc trưng bởi sự di chuyển nguồn lực
đầu tư ( tư bản) trên phạm vi quốc tế với mục đích kinh doanh thu lợi
nhuận”.
Tại Việt Nam, theo quy định tại khoản 2, điều 3 Luật đầu tư năm 2005

vừa đủ lớn theo quy định của từng quốc gia, qua đó họ có quyền trực tiếp
tham gia điều hành đối tượng mà họ bỏ vốn đầu tư.Luật đầu tư nước ngoài tại
Việt Nam quy định số vốn tối thiểu của bên nước ngoài phải chiếm ít nhất
30% tổng vốn pháp định.
+ Thứ hai: Về điều hành quản lý: Quản lý doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài phụ thuộc vào mức vốn góp. Nếu nhà đầu tư nước ngoài đầu tư
100% vốn thì doanh nghiệp hoàn toàn do chủ đầu tư nước ngoài điều hành, có
thể trực tiếp hoặc thuê chủ quản lý. Các chủ đầu tư cũng có thể tham gia điều
hành liên doanh tùy theo tỷ lệ góp vốn của mình.

17


+ Thư ba: Thông qua FDI, nước chủ nhà có thể tiếp nhận được công
nghệ, kỹ thuật tiên tiến, học hỏi được kinh nghiệm quản lý… mà các hình
thức đầu tư khác không đáp ứng được.
+ Thứ tư: Chia lợi nhuận: Nhà đầu tư nước ngoài được chia lợi nhuận
đầu tư phụ thuộc vào kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Lỗ, lãi
được phân chia theo tỷ lệ góp vốn pháp định như sau khi đã trừ thuế lợi tức và
các khoản đóng góp chi nước chủ nhà.
+ Thứ năm: Hình thức đầu tư: FDI được thực hiện thông qua việc xây
dựng các doanh nghiệp mới, mua lại toàn bộ hoặc một phần doanh nghiệp đang
hoạt động, mua cổ phiếu để thôn tính hoặc sát nhập các doanh nghiệp với nhau.
*Khái niệm về dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài
Dự án đầu tư là tập hợp những ý kiến, đề xuất về việc bỏ vốn đầu tư
vào một đối tượng nhất định và giải trình kết quả thu được từ hoạt động đầu
tư. Việc các nhà đầu tư ở quốc gia này bỏ vốn vào các quốc gia khác theo một
chương trình đã được hoạch định trong một khoảng thời gian dài nhằm đáp
ứng các nhu cầu của thị trường và mang lại lợi ích hơn cho các chủ đầu tư và
cho xã hội được gọi là đầu tư quốc tế hay đầu tư nước ngoài.

Keynes (1883 - 1946) nhà kinh tế học nổi tiếng của nước Anh - đã viết: "Một
nền kinh tế tiền tệ, như chúng ta sẽ thấy về thực chất là nền kinh tế trong đó
những quan điểm luôn thay đổi về tương lai, có khả năng ảnh hưởng tới số
lượng việc làm chứ không chỉ định hướng việc làm mà thôi".
Theo Ghi- Hân- Tơ nhà kinh tế thuộc Viện Hải quan Luân Đôn thì:
Việc làm theo nghĩa rộng là toàn bộ các hoạt động kinh tế của một xã hội
nghĩa là tất cả những gì quan hệ đến cách kiếm sống của con người, kể cả
quan hệ xã hội và các tiêu chuẩn hành vi tạo thành khuôn khổ của quá trình
kinh tế.
Theo quan niệm này, tất cả các hoạt động, hành vi mang lại nguồn thu
nhập để đảm bảo cuộc sống cho mọi người đều gọi là việc làm. Như vậy đã
đồng nhất việc làm hợp pháp và bất hợp pháp. Trong điều kiện nền kinh tế thị
trường hiện nay không thể chấp nhận được quan niệm này, bởi khi các quan
hệ thị trường ngày càng phát sinh cả những mặt tích cực và tiêu cực, nhiều
19


nguồn thu nhập không chính đáng đang làm gia tăng các tệ nạn xã hội, kìm
hãm sự tăng trưởng, phát triển của nền kinh tế đất nước.
Tiến sỹ Sônhin và phó tiến sỹ Grin- xốp người Nga quan niệm: Việc
làm là sự tham gia của người có khả năng lao động vào một hoạt động xã hội
có ích trong công việc nội trợ, hay trong kinh tế phụ của các nông trang viên.
Quan niệm này cho rằng tất cả những người có công việc ổn định trong
guồng máy hoạt động kinh tế - xã hội, kể cả những người làm công việc nội
trợ, làm kinh tế phụ của nông trang viên, người đi học đều gọi là có việc làm.
Quan niệm này có ưu điểm là xác định lao động của người nội trợ và người
làm kinh tế phụ đều là việc làm, vì nó góp phần tạo ra thu nhập để trực tiếp
hoặc gián tiếp nuôi sống bản thân. Nhưng quan niệm này chưa chính xác khi
cho rằng những người đi học là có việc làm. Bởi vì những người đi học, ngay
cả học sinh, sinh viên các trường chuyên nghiệp đều chưa có khả năng tạo ra


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status