CẢI THIỆN MÔI TRƯỜNG THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NAM ĐỊNH - Pdf 34

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
---------------------

PHẠM THỊ ÁNH TUYẾT

CẢI THIỆN MÔI TRƯỜNG THU HÚT ĐẦU TƯ
TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH NAM ĐỊNH
Chuyên ngành : Kinh tế chính trị
Mã số: 60 31 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. ĐÀO THỊ PHƯƠNG LIÊN

Hà Nội, 2015
1


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là
trung thực và chưa được sử dụng ở bất kỳ công trình khoa học nào.
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được
cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN

PHẠM THỊ ÁNH TUYẾT

2


ATVSTP
BOT
BTO
BT
CNH - HĐH

An toàn vệ sinh thực phẩm
Hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao
Hợp đồng xây dựng - chuyển giao - kinh doanh
Hợp đồng xây dựng - chuyển giao
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

6
7
8
9
10

ĐBSH
ĐTNN
FDI
FPI
FIE

Đồng bằng sông Hồng
Đầu tư nước ngoài
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
Xuất khẩu tư bản gián tiếp
Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài


16

JICA

Cơ quan Hợp tác Quốc Tế Nhật Bản

17

ITPC

Trung tâm Thương mại và xúc tiến đầu tư TPHCM

18

KCN

Khu công nghiệp

19
20
21
22
23

KHHGĐ
KT - XH
LTTP
MTĐT
ODA


Xe bánh xích có tải trọng 80 tấn
Xúc tiến đầu tư

4

Nguyên nghĩa


29
30
31

5

UNCTAD
UNESCO

Ủy ban thương mại và phát triển Liên hợp quốc
Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên

VLXD

Hợp Quốc.
Vật liệu xây dựng


DANH MỤC BẢNG BIỂU
STT

SỐ HIỆU

đến hết năm 2011
Bảng 3.7 Tình hình đầu tư theo đối tác tại Nam Định
đến hết năm 2013
Bảng 3.8 Biểu tổng hợp chung phân theo thời gian của
các dự án FDI ( tính đến hết năm 2013)
Bảng 3.9 Hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Nam
Định (từ năm 2005 – 2011)
Bảng 3.10 Tỷ lệ góp vốn của khu vực FDI vào nguồn
vốn phát triển của tỉnh.
Bảng 3.11 Thu ngân sách từ doanh nghiệp của Nam
Định
Bảng 3.12 Thống kê lực lượng lao động trực tiếp của khu
vực FDI Nam Định

TRAN
G
50
58
58
59
61
63
63
88
90
92
93
94

MỤC LỤC

động…). Do đó FDI là cú huých đột phá cái vòng luẩn quẩn đó. Muốn có thật
nhiều FDI thì một trong những yếu tố quan trọng nhất đó chính là việc cải
thiện môi trường đầu tư nhằm thu hút FDI.

7


Nam Định có vị trí địa lý thuận lợi, cơ sở vật chất tương đối đầy đủ, lực
lương lao động đông đảo… là những điều kiện hết sức thuận lợi để thu hút
FDI. Và trong thực tế những năm gần đây, tỉnh Nam Định đã tiến hành hàng
loạt các biện pháp nhằm cải thiện môi trường đầu tư thu hút đầu tư trực tiếp
nước ngoài, và hoàn thành các cơ chế chính sách để thúc đẩy triển khai có
hiệu quả các dự án. Hoạt động FDI vào tỉnh Nam Định trong những năm gần
đây bước đầu có những khởi sắc, đã xuất hiện các nhà đầu tư nước ngoài như
Hàn Quốc, Trung Quốc, Đài Loan, Singapore,…đến tìm hiểu và đầu tư tại
Nam Định. FDI vào Nam Định đã góp phần tích cực vào sự nghiệp công
nghiệp hóa, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng trưởng công nghiệp và phát triển
kinh tế - xã hội tỉnh Nam Định.
Tuy nhiên, FDI vào Nam Định mới chỉ là bước khởi đầu. Mặc dù, trong
những năm vừa qua, tỉnh Nam Định đã có nhiều cố gắng song do nhiều yếu tố
tác động nên số dự án FDI tại tỉnh Nam Định còn rất hạn chế, nhỏ bé cả về số
lượng, quy mô, chưa tương xứng với tiềm năng và đòi hỏi của nền kinh tế của
tỉnh và thực sự vấn đề kêu gọi, việc cải thiện môi trường đầu tư nhằm thu hút
FDI đã và đang là một trong những nội dung, công tác trọng tâm nhằm khai
thác lợi thế của tỉnh, khai thác các nguồn vốn đầu tư để thực hiện các mục tiêu
phát triển kinh tế xã hội của tỉnh.
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, việc tìm ra giải pháp để cải
thiện môi trường thu hút FDI vào Nam Định ngày càng trở lên cần thiết. Nam
Định cần thấy rõ: Những khó khăn còn tồn tại trong công tác cải thiện môi
trường thu hút FDI vào tỉnh là gì? Qua đó để làm thế nào để cải thiện môi

CNH – HĐH.
Để đạt được mục đích trên thì nhiệm vụ đặt ra là tập trung nghiên cứu:
- Hoạt động thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Nam Định trong
những năm qua.
9


- Thực trạng môi trường đầu tư trong hoạt động thu hút vốn đầu tư trực
tiếp nước ngoài tại thành phố Nam Định ở một số khía cạnh sau:
+ Yếu tố địa lý
+ Yếu tố kinh tế
+ Yếu tố chính trị
+ Yếu tố lịch sử, xã hội và nhân văn
+ Yếu tố quốc tế
+ Yếu tố pháp luật – hành chính
- Phân tích các điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của môi trường
đầu tư để từ đó thấy được những tác động của môi trường này đến hoạt động thu
hút vốn đầu tư nước ngoài của tỉnh Nam Định trong thời gian qua.
- Căn cứ vào mục tiêu và định hướng phát triển kinh tế - xã hội của
thành phố nói chung cũng như hoạt động thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài nói riêng của thành phố trong những năm tới; và đưa ra những giải pháp
nhằm cải thiện môi trường đầu tư trong hoạt động thu hút vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài cho tỉnh Nam Định.
4. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận và danh mục tài liệu tham khảo,
phần Nội dung chính của luận văn được kết cấu thành 4 chương.
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý luận và kinh
nghiệm thực tiễn về cải thiện môi trường đầu tư trên địa bàn tỉnh nhằm thu
hút đầu tư trực tiếp nước ngoài
Chương 2: Phương pháp và thiết kế nghiên cứu

trưởng kinh tế dựa trên tổng sản phẩm quốc nội hàng năm của Malaysia từ
năm 1971 đến năm 2010. Three essays on foreign direct investment and
economic growth in developing countries. Tác giả: Saha, Nitesh. Trường:

11


Utah State University, 2005. Đây là ba tiểu luận về đầu tư trực tiếp nước
ngoài và tăng trưởng kinh tế ở các nước đang phát triển.
Trước đây trong tác phẩm “ Chủ nghĩa Đế quốc, giai đoạn tột cùng của
Chủ nghĩa Tư bản”, V.I.Lênin đã nói tới vấn đề xuất khẩu tư bản, theo ông đó
là một khách quan kinh tế và cũng theo tư tưởng của ông thì xét về tính chất
hoạt động xuất khẩu có hai loại cơ bản là xuất khẩu trực tiếp (còn gọi là đầu
tư trực tiếp nước ngoài – FDI) và xuất khẩu tư bản gián tiếp – FPI như ODA,
vay thương mại, đầu tư cổ phiếu, hoặc trái phiếu….Như vậy trong tác phẩm
này Lênin cũng đã đề cập tới những vấn đề cơ bản về đầu tư nước ngoài.
Một số lý thuyết của các tác giả liên quan tới nguồn vốn đầu tư trực
tiếp nước ngoài, sự hình thành khu vực FIE (kinh tế có vốn đầu tư nước
ngoài) như lí thuyết của Harrod – Domar việc huy động và sử dụng nguồn
vốn FDI mang tính khách quan đối với sự phát triển kinh tế của mọi quốc gia
đang phát triển.
Giải thích của K.Kojima về nguyên nhân xuất hiện đầu tư nước ngoài,
đó là do sự khác nhau về tỷ xuất lợi nhuận giữa các quốc gia, sự chênh lệch
này được bắt nguồn từ sự khác biệt về lợi thế so sánh trong phân công lao
động quốc tế dựa trên bốn loại động lực là đầu tư hướng về thiên nhiên, đầu
tư hướng về nguồn lực dồi dào, đầu tư hướng về thị trường có rào cản thương
mại và đầu tư theo định hướng thị trường độc quyền.Theo cách giải thích này
thì sự hình thành đầu tư nước ngoài chủ yếu xét tới yếu tố môi trường đầu
tư….
1.1.1.2. Những công trình nghiên cứu trực tiếp về môi trường đầu tư

của nền kinh tế. Các yếu tố nội tại của nền kinh tế ảnh hưởng đến thực hiện
dự án đầu tư được đánh giá thông qua kết quả điều tra 140 doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài nhằm nhận dạng một số yếu tố gây trở ngại đến thực
hiên dự án FDI.
13


- Nguyễn Khắc Thân – Chu Văn Cấp (1/1996), Những giải pháp chính
trị, kinh tế nhằm thu hút có hiệu quả đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt
Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Nội dung chính dựa trên thực trạng thu
hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam trong thời gian từ năm 1988
đến năm 1995, tác giả đưa ra những đề xuất kinh tế, chính trị nhằn thu hút
hiệu quả vốn FDI vào Việt Nam.
- Tổng kết 17 năm thi hành Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam của
Ban biên tập Luật đầu tư chung đề cập tới tình hình thu hút và sử dụng vốn
FDI kể từ cuối năm 1987 cho đến năm 2004, đồng thời đưa ra những kết quả
đạt được và tồn tại của tình hung thu hút và sử dụng nguồn vốn FDI để làm
tài liệu tham khảo cho việc ban hành Luật đầu tư chung. Tài liệu không quá
chú trọng tới yếu tố của MTĐT và ảnh hưởng của MTĐT đến FDI.
- Trước những tác động của nguồn vốn FDI với kinh tế nước ta đang
trong thời kỳ công nghiệp hóa, Nguyễn Văn Tuấn (2005) viết cuốn sách “Đầu
tư trực tiếp nước ngoài và phát triển kinh tế Việt Nam”
- Lê Minh Toàn (9/2004), Tìm hiểu đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt
Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, đã cung cấp cho người đọc những
khái niệm cơ bản về đầu tư trực tiếp nước ngoài, các hình thức đầu tư và đặc
điểm của nó.
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài với phát triển khu công nghiệp, tạp chí
cộng sản, số 1/1998.
- Một số tác giả khác cũng đề cập tới vấn đề thu hút đầu tư trực tiếp
nước ngoài ở Việt Nam, vai trò, thực trạng và giải pháp trong việc thu hút

viết trên các trang web như:
+
+
+
15


1.1.2.2. Đề tài, luận văn, luận án
* Những công trình nghiên cứu FDI
- Bùi Huy Nhượng (2006), Một số biện pháp thúc đẩy việc triển khai
thực hiện các dự án FDI tại Việt Nam, tại Trường Đại học Kinh tế quốc dân
Hà Nội. Ngoài lý thuyết và thực trạng về thu hút FDI, luận án đã tập trung
trình bày về tình hình triển khai các dự án FDI và đưa ra các giải pháp nhằm
thúc đẩy thực hiện các dự án FDI. Lý thuyết và thực trạng MTĐT cũng như
ảnh hưởng của MTĐT không thuộc phạm vi luận án nên tác giả không tập
trung trình bày.
- Đề tài cấp bộ, TS. Phạm Văn Hùng chủ nhiệm (2008), Tác động của
minh bạch hóa hoạt động kinh tế đến đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt
Nam do đề câp đến lý thuyết, thực trạng minh bạch hóa hoạt động kinh tế và
tác động của nó đến thu hút FDI của Việt Nam. Từ đó đề tài đưa ra giải pháp
tăng cường minh bạch hóa hoạt động kinh tế nhằm thu hút có hiệu quả nguồn
vốn FDI.
* Những công trình nghiên cứu trực tiếp về môi trường đầu tư, cải
thiện môi trường đầu tư thu hút FDI
- Luận án tiến sĩ Kinh tế: Lê Thị Thúy Nga (2013), Hoàn thiện môi
trường đầu tư ở Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, tại Học
Viện Chính trị Hành chính. Luận án đã trình bày cơ sở lý luận và thực tiễn về
hoàn thiện môi trường đầu tư trong hội nhập kinh tế quốc tế. Thực trạng quan
điểm và giải pháp cơ bản nhằm tiếp tục hoàn thiện môi trường đầu tư ở Việt
Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế.

- Đầu tư
Theo giáo trình Kinh tế đầu tư thì đầu tư là sự bỏ ra, sự hi sinh
cácnguồn lực ở hiện tại. Nguồn lực này có thể là tiền, sức lao động, trí tuệ…
nhằm đạt được những kết quả có lợi cho người đầu tư trong tương lai.Vốn đầu
17


tư là toàn bộ những chi tiêu để làm tăng hoặc duy trì tài sản vật chất trong một
thời kỳ nhất định.Vốn đầu tư thường thực hiện qua các dự án đầu tư và một số
chương trình mục tiêu quốc gia với mục đích chủ yếu là bổ sung tài sản cố
định và tài sản lưu động.(Theo niên giam thống kê)
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI: Foreign Direct Investment) là hình
thức đầu tư dài hạn của cá nhân hay công ty nước này vào nước khác bằng
cách thiết lập cơ sở sản xuất, kinh doanh. Cá nhân hay công ty nước ngoài đó
sẽ nắm quyền quản lý cơ sở sản xuất này.
Tổ chức thương mại thế giới đưa ra định nghĩa FDI như sau: Đầu tư
trực tiếp nước ngoài xảy ra khi một nhà đầu tư của một nước (ở nước chủ
đầu tư) có được tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với
quyền quản lý tài sản đó. Phương diện quản lý là thứ phân biệt FDI với công
cụ quản lý tài chính khác. Trong phần lớn trường hợp, nhà đầu tư được gọi là
“công ty mẹ” và các tài sản được gọi là “công ty con” hay là các “chi nhánh
công ty”.
Theo Ủy ban thương mại và phát triển Liên hợp quốc (UNCTAD) năm
1996 trong Báo cáo đầu tư thế giới đã khẳng định: “ Đầu tư trực tiếp nước
ngoài là đầu tư có mối liên hệ, lợi ích và sự kiểm soát lâu dài của một pháp
nhân hoặc thế nhân (nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài hoặc công ty mẹ) đôi
với một doanh nghiệp có một nền kinh tế khác”.
Năm 1997, Quỹ tiền tệ thế giới IMF (International Moneytary Fund)
đưa ra định nghĩa FDI như sau: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là đầu tư có lợi

quan tâm của các nhà đầu tư nước ngoài để từ đó dịch chuyển dòng vốn đầu
tư vào trong nước hoặc địa phương.

19


1.2.2. Môi trường thu hút FDI và các yếu tố cấu thành môi trường
thu hút FDI
1.2.2.1. Môi trường thu hút FDI
Có rất nhiều quan niệm về môi trường thu hút đầu tư:
Theo nghĩa chung nhất, môi trường thu hút đầu tư là tổng hòa các yếu
tố bên ngoài tạo sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư.
Khái niệm môi trường thu hút đầu tư được Wim P.M. Vijverberg định
nghĩa là bao gồm tất cả các điều kiện liên quan đến kinh tế, chính trị, kinh tế,
hành chính, cơ sở hạ tầng tác động đến hoạt động đầu tư và kết quả hoạt động
của doanh nghiệp (Chu Tiến Quang, 2003). Với khái niệm này, môi trường
thu hút đầu tư được hiểu khá rộng.
Một khái niệm hẹp hơn và chủ yếu liên quan chặt chẽ, gắn liền với các
hoạt động của doanh nghiệp và các cơ sở kinh doanh đó là Môi trường kinh
doanh. Môi trường kinh doanh có thể được hiểu là: “Toàn bộ các yếu tố tự
nhiên, kinh tế, xã hội có tác động trực tiếp hay gián tiếp đến sự hình thành và
phát triển kinh doanh”. (Chu Tiến Quang, 2003)
Theo quan điểm hiện đại “Môi trường thu hút đầu tư là tập hợp những
yếu tố đặc thù địa phương đang định hình cho các cơ hội và động lực để
doanh nghiệp đầu tư có hiệu quả, tạo việc làm và mở rộng sản xuất” (Word
Bank, 2004). Tập hợp những yếu tố đặc thù này bao gồm hai thành phần
chính là chính sách của chính phủ (mềm) và các nhân tố khác liên quan đến
quy mô thị trường và ưu thế địa lý (cứng). Hai thành phần này sẽ tác động đến
ba khía cạnh liên quan đến nhà đầu tư là chi phí cơ hội của vốn đầu tư, mức
độ rủi ro trong đầu tư và những rào cản về quá trình cạnh tranh trong quá

Chính phủ nước sở tại cần có một chính sách hợp lý để ổn định chính trị và
giữ cho xã hội ổn định trong một thời gian dài. Đặc biệt là đường lối đối
ngoại cởi mở hữu hảo sẽ thu hút được sự quan tâm, tán đồng, ủng hộ của các
21


quốc gia trong vùng, cuốn hút họ cùng tham gia vào công cuộc phát triển kinh
tế của nước mình. Nội chiến sẽ không chỉ thiêu đốt cả vốn lẫn lãi mà hơn nữa
còn uy hiếp đến tính mạng của chủ đầu tư. Chiến tranh và các dạng bạo lực
tràn lan sẽ đặt dấu chấm hết cho tất cả các khoản đầu tư.
Sự ổn định chính trị của một quốc gia còn quyết định môi trường chính
trị của các địa phương trong quốc gia đó. Tuy nhiên, cùng trong một quốc gia,
cùng dưới một chế độ chính trị như nhau, thế nhưng ở mỗi vùng, tính ổn định
lại có xu hướng khác nhau và điều này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động
kinh tế nói chung và thu hút đầu tư nước ngoài nói riêng của địa phương đó.
Năng lực điều hành của Chính phủ cũng là một trong những yếu tố được xét
đến. Chính phủ có thể có ảnh hưởng hạn chế đến những yếu tố như vị trí địa
lý, nguồn tài nguyên thiên nhiên, thời tiết… Nhưng chính phủ lại có ảnh
hưởng rất lớn đến việc đảm bảo quyền về tài sản, cách điều tiết và đánh thuế
(cả trong nội địa lẫn tại cửa khẩu), mức độ thỏa mãn của cơ sở hạ tầng, sự vận
hành của thị trường tài chính, hiện tượng tham nhũng và rất nhiều yếu tố khác
liên quan.Tất cả những điều này phụ thuộc phần lớn vào năng lực điều hành
và phẩm chất đạo đức của đội ngũ lãnh đạo đất nước.
- Luật pháp và các thủ tục hành chính
Vì quá trình đầu tư có liên quan đến rất nhiều các hoạt động của các tổ
chức, cá nhân và được tiến hành trong khoảng thời gian dài, ở nơi xa lạ nên
các nhà đầu tư rất cần một môi trường pháp lý vững chắc, có hiệu lực. Môi
trường này bao gồm hệ thống đầy đủ các cơ chế, chính sách, quy định cần
thiết để đảm bảo sự nhất quán, không mâu thuẫn chồng chéo với nhau, có
hiệu lực thực hiện. các nhà đầu tư nước ngoài luôn tôn trọng các quy định về

tiêu cho mọi hoạt động kinh tế của mình không chỉ phục vụ cho nhu cầu trong
nước mà cả nhu cầu của thị trường quốc tế. Ngoài ra, trình độ phát triển kinh
tế của nước tiếp nhận đầu tư bao gồm mức độ phát triển về quản lý kinh tế vĩ
23


mô, cơ sở hạ tầng, chất lượng cung cấp các dịch vụ cho các hoạt động kinh
doanh của các nhà đầu tư nước ngoài và mức độ cạnh tranh của thị trường
nước chủ nhà cũng là các yếu tố có sự tác động mạnh hơn đối với các nhà đầu
tư nước ngoài.
Yếu tố kinh tế phản ánh những đặc trưng của một hệ thống kinh tế, nó
sẽ chi phối tác động đến hoạt động của các nhà đầu tư. Trong môi trường kinh
tế, các yếu tố như tốc độ tăng trưởng, chính sách kinh tế, chu kỳ kinh doanh,
tỷ lệ lạm phát, tỷ giá hối đoái, hệ thống tài chính sẽ được nghiên cứu.
Tăng trưởng kinh tế được coi là việc mở rộng sản lượng tiềm năng của
một quốc gia trong một giai đoạn nhất định. Khi kinh tế tăng trưởng thì các
yếu tố điều kiện kinh tế sẽ rất thuận lợi cho các nhà đầu tư. Nó tạo ra nhiều cơ
hội trong kinh doanh và ngược lại nếu kinh tế kém phát triển với tỷ lệ lạm
phát cao, nó sẽ tác động tiêu cực tới nhà đầu tư.
Chu kỳ phát triển kinh tế là sự thăng trầm về khả năng tạo ra của cải
cho nền kinh tế trong những giai đoạn nhất định.
Trên cơ sở đó, môi trường kinh tế của mỗi địa phương cũng sẽ hình
thành phù hợp với tình hình phát triển.
- Về vai trò của hệ thống kết cấu hạ tầng trong thu hút đầu tư
Để thu hút đầu tư, đối với một tỉnh, vấn đề tạo dựng kết cấu hạ tầng vật
chất và hạ tầng xã hội là điều kiện tiên quyết cho các hoạt động kinh doanh.
Sự phát triển của kết cấu hạ tầng vật chất và hạ tầng xã hội sẽ tạo ra những
điều kiện thuận lợi và giảm những chi phí phát sinh cho các hoạt động đầu tư.
Kết cấu hạ tầng vật chất bao gồm những yếu tố như: hệ thống đường giao
thong, sân bay, bến cảng, điện lực, viễn thông… là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp

nước ngoài nếu có trình độ giáo dục cao và nhiều sự tương đồng về ngôn ngữ,
tôn giáo, các phong tục tập quán với các nhà đầu tư nước ngoài. Các đặc điểm
này không chỉ giảm được cho phí đào tạo nguồn nhân lực cho các nhà đầu tư
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status